Đồng tiền độc lập – Kỳ 4: Bắn phá nhà máy in tiền


Trong cuộc kháng chiến này, sự hi sinh của gia đình Đỗ Đình Thiện đối với quốc gia thật lớn, một sự nghiệp to tiêu tan không mấy chốc. Cựu bộ trưởng Lê Văn Hiến

“Ra lệnh để nguyên tình trạng tàn phá nhưng máy móc sửa chữa chút ít và cho chạy làm việc ngay để không mất ngày nào…” – cựụ Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến viết về những ngày nhà máy in tiền bị bắn phá.

 

Đồng tiền độc lập - Kỳ 4: Bắn phá nhà máy in tiền - Ảnh 1.

Tờ bạc VNDCCH 100 đồng in ở Tuyên Quang giống như tranh vẽ – Ảnh tư liệu

 

“8 giờ đến Chi Nê… Một phần nhà cửa đổ nát, khói lửa đương còn nguyên. Ngày 22 hồi 3 giờ 30, tám chiếc khu trục Pháp đến tấn công, bốn chiếc bắn phá Đồng Lãng, bốn chiếc oanh tạc và bắn phá Cơ quan Ấn loát.

Tại đây thả tất cả tám quả bom, hai quả trúng đích làm hư hỏng nhà ở của vợ chồng anh Đỗ Đình Thiện. Chúng bắn đạn lửa rất nhiều vào Cơ quan Ấn loát làm cháy kho cà phê và kho vật liệu, thiệt hại khá lớn, nhưng máy móc nguyên vẹn không hư hỏng gì. Nhà ở chúng mình cũng bị bắn thủng rất nhiều…”

Đó là trích đoạn hồi ký Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến sau trận không quân Pháp oanh tạc vào Chi Nê, huyện Lạc Thủy, Hòa Bình, ngày 24-2-1947, để phá hủy cơ sở in ấn tiền tệ kháng chiến.

Ném bom ở Chi Nê

Bộ trưởng Hiến ghi chép tỉ mỉ: “Ra lệnh để nguyên tình trạng tàn phá nhưng máy móc sửa chữa chút ít và cho chạy làm việc ngay để không mất ngày nào. Địch tìm cách tàn phá, ta tìm cách gây dựng. Có thể dựng trên đống tro tàn.

Hôm nay cho tập hợp tất cả nhân viên, công nhân, tự vệ và công an để giải thích và phân phối công việc. Mọi người cần trấn tĩnh trước sự tấn công của địch, sẵn sàng chiến đấu… Số thiệt hại về người và máy móc không có gì, nhưng về vật liệu trong kho thì cũng khá quan trọng, kể cũng đến non 2 triệu đồng”.

Ngay khi trở lại tấn công quân sự lực lượng kháng chiến Việt Nam nhằm tái lập nền cai trị thuộc địa sau Thế chiến thứ hai, Pháp đã chú ý đặc biệt đến nguồn lực tài chính của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Ở miền Bắc, đầu não của hệ thống tiền tệ tài chính cách mạng, Pháp liên tục truy tìm và đánh phá các cơ sở in ấn. Từ nơi dập tiền hào đầu tiên ở tầng hầm Nhà Bát giác (Viện Bảo tàng lịch sử Hà Nội), cơ sở in ấn phải bí mật chuyển địa điểm mới ở Cây Đa Nhà Bò phố Lò Đúc.

Mùa đông năm 1946, cuộc chiến vệ thành Hà Nội bùng nổ, nhà in lại tiếp tục chuyển về Thanh Hóa, Hòa Bình, rồi lên chiến khu Việt Bắc. Thời gian đầu này, phần lớn nguồn lực tổ chức và duy trì được hoạt động in ấn tiền đều nhờ các nhà tư sản ủng hộ kháng chiến.

Trong đó, đặc biệt là gia đình thương nhân Đỗ Đình Thiện, mà Bộ trưởng Hiến đã viết những lời rất trân trọng:

Trong cuộc kháng chiến này, sự hi sinh của gia đình Đỗ Đình Thiện đối với quốc gia thật lớn, một sự nghiệp to tiêu tan không mấy chốc.

Cựu bộ trưởng Lê Văn Hiến

Ngày 25-2-1947, tức chỉ đúng một ngày sau khi máy bay Pháp đánh phá cơ sở ở Chi Nê, Bộ Tài chính ngược lên Tuyên Quang để tìm nơi an toàn in tiền mới.

Trích hồi ký của công nhân cơ sở in thời điểm này: “Mặt trận Hà Đông bị vỡ, địch tiến đến Xuân Mai, cách Chi Nê có 20 cây số, chúng tôi được lệnh di chuyển đến Nho Quan. Vừa đến Nho Quan thì địch đã đánh chiếm Ninh Bình, Phủ Lý, Cốc Thôn… nghĩa là bốn phía, anh em chỉ cách địch có từ 5 đến 10 cây số.

Cấp trên lại ra lệnh chuyển ngay tức khắc lên Tuyên Quang. Anh em chúng tôi họp nhau, đặt kế hoạch: Tất cả xe cam nhông của xưởng chỉ dùng để chở những bộ phận máy móc hạng nặng. Còn gia đình anh em từ ban giám đốc trở xuống đều phải đi bộ. Thuê xe bò và xe ngựa để chở máy móc nhẹ và vật liệu.

Chặng đường từ Nho Quan lên Tuyên Quang, anh em gian khổ rất nhiều. Trên trời, máy bay địch lồng lộn bắn phá. Dưới đất, bộ binh địch luôn luôn đuổi theo và câu pháo cối moóc-chê vào đoàn công nhân vận chuyển máy. Đoàn bị chặt ra từng khúc.

Sự liên lạc giữa các tổ, các nhóm bị gián đoạn. Anh em phải tự động giải quyết những khó khăn hằng ngày. Gặp những chặng đường bị phá hoại, không dùng xe được, anh em phải xúm nhau lại khiêng những bộ phận máy móc nặng 2-3 tấn trên vai.

Cứ như thế, ròng rã hai tháng liền, anh em mới chuyển được tất cả máy móc, vật liệu tới Tuyên Quang. Tính ra trong thời gian gần ba tháng trời, anh em chúng tôi đã di chuyển trên quãng đường ngót nghìn cây số với hơn 300 tấn máy móc, vật liệu để đến nơi an toàn. Cuối cùng, chúng tôi đã có thể tiếp tục bắt tay ngay vào việc in giấy bạc, phục vụ nhu cầu kháng chiến”.

 

Đồng tiền độc lập - Kỳ 4: Bắn phá nhà máy in tiền - Ảnh 3.

Quân đội Pháp trở lại gây chiến ở Hà Nội năm 1946 – Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

In tiền ở Tuyên Quang

Khoảng tháng 4-1947, cơ sở in tiền đã được xây dựng ở Bản Thi, Tuyên Quang. Theo Bộ trưởng Lê Văn Hiến, thời gian này tình hình tài chính kháng chiến gặp khó khăn vì cơ sở in ấn phải di chuyển liên tục.

Hơn một tháng từ sau ngày cơ sở ở Chi Nê, Hòa Bình bị đánh bom, chưa sản xuất được tờ bạc nào. May là còn một ít dự trữ phục vụ nhu cầu toàn quốc kháng chiến, nếu không sẽ rất căng thẳng. Đặc biệt, kho giấy in bạc cũng bị đốt phá, số lượng chỉ còn lại 1/5, trong khi mỗi tháng phải cần gần 100 triệu đồng, tức mỗi ngày khoảng 3 triệu đồng.

Bộ trưởng Hiến ghi nhật ký: “Đảm đương Bộ Tài chính trong lúc này thật là một gánh vô cùng nặng nhọc và trách nhiệm lớn lao quá đối với quốc dân. Chiến đấu để qua được khúc quẹo lịch sử này thật là thiên nan vạn nan”.

Sau rất nhiều khó khăn, đặc biệt là đối đầu với sự đánh phá liên tục của không quân Pháp, cơ sở in ấn tiền ở vùng núi rừng Bản Thi, Tuyên Quang bắt đầu đi vào hoạt động. Đây là khu vực mỏ kẽm mà người Pháp đã từng khai thác trước năm 1945, để lại nhiều cơ sở hạ tầng khá tốt, có nhà máy phát điện và đường ray xe goòng từ bờ sông dẫn vào…

Tại địa điểm này, ngoài những tờ bạc cũ, các họa sĩ Lê Phả, Nguyễn Sáng tiếp tục vẽ mẫu các tờ bạc mới có mệnh giá 20, 50, 200 và 500 đồng để in ấn, phát hành đến các vùng kháng chiến.

Ngày 12-6-1947, Bộ trưởng Lê Văn Hiến ghi nhật ký: “May mắn quá, chính vào lúc tiền các nơi đều cạn thì cơ quan ở đây đã hoạt động lại kịp thời. Thật là một sự cố gắng của mọi người… Ngày nay, mọi việc đều qua, tiền ra đủ để cung cấp cho các cơ quan, nhất là quốc phòng, mình cảm thấy nhẹ cả người. Bạc đã ra được nhiều, bây giờ chỉ còn lo sự chuyên chở để phân phát cho các nơi”.

 

Đồng tiền độc lập - Kỳ 4: Bắn phá nhà máy in tiền - Ảnh 4.

Đồn điền của ông Đỗ Đình Thiện, nơi in tiền, đã bị máy bay Pháp bắn phá tan hoang – Ảnh tư liệu

Bảo đảm an toàn cho hệ thống in tiền

Theo giáo sư sử học Văn Tạo, lực lượng kháng chiến đã thành công rất lớn trong việc bảo đảm an toàn cho hệ thống in ấn tiền tệ của riêng mình, đặc biệt là trước tình thế Pháp dồn hỏa lực quyết đánh phá bằng được.

Thời kỳ này, Pháp mới chỉ tái chiếm được các thành phố lớn, vùng tự do còn rất rộng với đông đảo dân cư. Chính phủ Việt Minh bảo đảm được nền tài chính đã giữ được uy tín và ổn định đời sống cho nhân dân.

 

Tham khảo: https://tuoitre.vn/dong-tien-doc-lap-ky-4-ban-pha-nha-may-in-tien-20170901124235632.htm

Advertisements

Đồng tiền độc lập – Kỳ 2: In tiền riêng


Sau tờ bạc 20 đồng, các tờ bạc 100 đồng, 500 đồng cũng được in ra, tương ứng với mệnh giá các tờ bạc Đông Dương của Pháp phát hành lúc ấy.

 

Nhà in Ngô Tử Hạ, một trong những nhà in đầu tiên in tiền kháng chiến - Ảnh tư liệu Ngân hàng Nhà nước
Nhà in Ngô Tử Hạ, một trong những nhà in đầu tiên in tiền kháng chiến – Ảnh tư liệu Ngân hàng Nhà nước
Ngay từ cuối năm 1945, những tờ bạc Cụ Hồ đầu tiên đã xuất xưởng
Cựu bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến

 

“Tôi nhớ hồi ấy lực lượng tự vệ Hà Nội đang luyện tập chiến đấu thì cấp trên triệu tập một số chỉ huy đi dự một cuộc họp đặc biệt. Không có thư mời, chúng tôi chỉ nhận truyền đạt vắn tắt bằng miệng là nội dung họp mật, đến nơi sẽ rõ.

Đêm ấy khoảng 7h, một ngày đầu tháng 12-1945 tại ngôi nhà thuộc liên khu 2 gần chợ Đồng Xuân, tướng Vương Thừa Vũ về dự, nói: Chính phủ chúng ta sẽ phát hành đồng tiền độc lập riêng của mình, báo cho các đồng chí vũ trang biết để chuẩn bị hỗ trợ, chống lại sự phá hoại” – ông Hoàng Giáp, nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn pháo binh 523, sư đoàn 304, kể.

Dập tiền dưới hầm bát giác

Thật ra ngay từ trước cuộc họp đó, một số anh em hoạt động tình báo nội thành Hà Nội như ông Giáp đã ngầm biết sẽ có đồng tiền độc lập ra đời.

Quân đội Pháp trở lại Việt Nam đòi quyền cai trị, trực tiếp và gián tiếp tấn công lực lượng cách mạng trên tất cả lĩnh vực.

Trong tài chính, Pháp cũng “khai chiến” khi chỉ đạo Ngân hàng Đông Dương đình chỉ hoàn toàn việc chuyển tiền cho Chính phủ Việt Minh.

Mục đích của quyết định này là làm cho chính phủ của người Việt mới ra đời không thể hoạt động được, và hệ thống viên chức, công nhân ăn lương cũng như toàn bộ nền kinh tế đất nước phải trở lại phụ thuộc Pháp.

Ban đầu chương trình phát hành đồng tiền độc lập được tổ chức trong bí mật. Cơ sở đầu tiên đặt tại tầng hầm Nhà bát giác Hà Nội (nay là Viện Bảo tàng lịch sử).

Chính phủ quyết định sử dụng máy dập tiền hiếm hoi Pháp dùng để dập đồng trinh Bảo Đại mà lực lượng Việt Minh tịch thu được hồi Cách mạng Tháng Tám.

Các đồng tiền đầu tiên ra đời được dập bằng nhôm có mệnh giá 2 hào, 5 hào, sau có thêm loại 1 đồng, 2 đồng. Người vận hành máy cũng là các nhân viên cũ như ông Hoàng Thế Ngọc, Đặng Văn Khải…

Mặc dù công việc in tiền tiến hành trong bí mật và có lực lượng vũ trang kín kẽ bảo vệ, nhưng do tình hình quân Lữ Hán lúc ấy đóng quân gần khu vực nên sau đó phải chuyển về cơ sở Cây đa Nhà Bò ở phố Lò Đúc.

Bà Phạm Thị Thìn, một nữ chiến sĩ trong đội tự vệ thành Hoàng Diệu năm 1945, kể khi cầm đồng tiền độc lập này đi giao dịch, các tiểu thương ngạc nhiên vì không biết là tiền gì. Tuy nhiên, khi xem mặt đồng tiền có hình ngôi sao năm cánh thì họ hiểu và ủng hộ ngay.

 

Các nhân sĩ, tư sản đóng góp rất nhiều cho Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa - Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia
Các nhân sĩ, tư sản đóng góp rất nhiều cho Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa – Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Bạc giấy Việt Nam dân chủ cộng hòa

Song song với dập tiền kim loại, việc ra đời tiền giấy cũng được gấp gút tiến hành. Theo tài liệu của giáo sư sử học Văn Tạo, khoảng tháng 10-1945 chính phủ đã cho mời các họa sĩ Mai Văn Hiến, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Huyến… thực hiện bản vẽ các tờ bạc giấy với ba nội dung cách mạng quan trọng thời điểm ấy là “diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”.

Nhóm họa sĩ phải giữ bí mật tuyệt đối, đề phòng tai mắt tình báo Pháp cũng như quân Lữ Hán. Họ phân công vẽ các tờ bạc khác nhau.

Trong đó, họa sĩ Mai Văn Hiến là người vẽ chính tờ bạc mệnh giá 5 đồng, họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung vẽ tờ 10 đồng, họa sĩ Nguyễn Văn Khanh vẽ tờ 20 đồng…

Trong khi tạo bản vẽ các tờ bạc, một việc cũng rất quan trọng khác là tìm nhà máy in tiền. Trước đây, Ngân hàng Đông Dương của Pháp lo việc này, nhưng kể từ tháng 10-1945 họ đã bất hợp tác với Chính phủ Việt Minh.

Hà Nội thời điểm ấy không có nhiều nhà máy đủ khả năng in tiền, lại không phải nơi nào cũng có thể in được.

Một may mắn là thời điểm này có nhiều nhà tư sản ủng hộ kháng chiến như ông Ngô Tử Hạ, Đỗ Đình Thiện… có sẵn nhà máy ấn loát hoặc ủng hộ tiền bạc để trực tiếp mua giúp phương tiện hoạt động.

Cuối cùng, việc in tiền giấy được quyết định thực hiện tại các nhà in Taupin, Ideo, Ngô Tử Hạ, Lê Văn Tân…

Cựu bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến kể: “Trước hết, chúng tôi chạy mua hai máy in tiền, một của Hãng Taupin, một của Hãng Extreme Orient. Tối thiểu phải có hai máy đề phòng sự cố. Về giấy, chúng tôi dùng Nhà máy giấy Đáp Cầu để sản xuất giấy in tiền. Ngay từ cuối năm 1945, những tờ bạc Cụ Hồ đầu tiên đã xuất xưởng”.

Nhóm họa sĩ hoàn thành tốt các bản vẽ giấy bạc, nhưng còn các bộ phận thực hiện quan trọng sau đó như làm bản kẽm, thợ kỹ thuật vận hành máy in liệu có thể tin tưởng được trong tình hình phải bảo vệ bí mật nghiêm ngặt việc in tiền?

Thời điểm ấy, Hà Nội cũng như cả nước không có nhiều người thông thạo lĩnh vực kỹ thuật này, trong khi một số lại bỏ việc về quê sau các biến động thời cuộc.

Các cán bộ phụ trách việc in tiền phải đi dò hỏi, xác minh thái độ chính trị từng người thợ có tay nghề giỏi để mời họ giúp đỡ kháng chiến. Thủ tướng Phạm Văn Đồng, thời điểm cuối năm 1945 giữ trọng trách bộ trưởng Bộ Tài chính, phải thường xuyên đi lại như con thoi để chỉ đạo công việc vô cùng quan trọng và tối mật này.

Để kịp tiến độ đưa đồng tiền mới đến các cơ quan chính phủ và người dân, các máy in lúc đó gần như chạy suốt 24/24 giờ.

Hầu như máy chỉ dừng lại để các thợ kỹ thuật sửa chữa khi bị trục trặc máy móc. Sau rất nhiều nỗ lực, tờ tiền được in đầu tiên có mệnh giá 20 đồng với màu vàng chủ đạo.

Một mặt in ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh chính giữa góc trái, một mặt có hình các công nhân, nông dân và con trâu.

Dải băng kéo dài trên tờ bạc in đậm tên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cùng hai chữ ký của bộ trưởng Bộ Tài chính và giám đốc Sở Ngân khố.

Sau tờ bạc 20 đồng, các tờ bạc 100 đồng, 500 đồng cũng được in ra, tương ứng với mệnh giá các tờ bạc Đông Dương của Pháp phát hành lúc ấy.

 

Sắc lệnh phát hành

Mốc lịch sử của đồng tiền độc lập bắt đầu từ ngày 1-12-1945, Bộ Tài chính ký sắc lệnh 76/TC chính thức phát hành các đồng hào nhôm từ vĩ tuyến 16 trở ra.

Đến ngày 31-1-1946, tiền giấy mới in tiếp tục được phát hành ở khu vực này và cả Nam Trung Bộ.

Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, nguyên thứ trưởng Bộ Ngoại giao, kể: “Thời điểm ấy tôi đang chiến đấu ở Khánh Hòa, lần đầu cầm tờ bạc độc lập có in chữ Việt Nam dân chủ cộng hòa mà xúc động đến lặng người. Nhiều đồng bào chấp nhận đổi 1 đồng tiền mới này ngang với 1 đồng, thậm chí 1,2 đồng Đông Dương của Pháp”.

 

QUỐC MINH – TTO

Đồng tiền độc lập – Kỳ 1: Cuộc chiến tiền tệ


Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời trong tình thế cực kỳ khó khăn. Chính phủ mới vừa đối phó thảm nạn chết đói, vừa chiến đấu chống quân Pháp tái chiếm nước Việt. Ngoài ra, có một cuộc chiến khốc liệt khác: cuộc chiến tiền tệ…

 

*** Error ***
Ngân hàng Đông Dương ngưng cung cấp tiền, gây khó khăn cho Chính phủ VNDCCH – Ảnh tư liệu Ngân hàng Nhà nước
Việt Minh đã giành được chính quyền nhưng đang bị nợ như chúa chổm
Giáo sư VĂN TẠO

 

“Tháng 9-1945, việc giành chính quyền đã thành công, nhưng ngay lập tức nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (VNDCCH) mới phải đối diện với tràn ngập khó khăn.

Lâu nay chính sử nhắc nhiều đến các việc chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, nhưng thực tế còn một cuộc chiến cực kỳ quan trọng khác mà cách mạng phải vượt qua: đó là cuộc chiến tiền tệ” – nguyên viện trưởng Viện Sử học, giáo sư Văn Tạo, kể lại.

Tờ bạc Đông Dương mệnh giá lớn do Nhật ép Pháp phát hành làm khủng khoảng nền tài chính VNDCCH – Ảnh tư liệu

 

Tình thế ngàn cân treo sợi tóc

Khi cuộc cách mạng mùa thu năm 1945 nổ ra, giáo sư Văn Tạo còn là một thầy giáo ở Hải Dương tham gia phong trào Việt Minh.

Ký ức của ông thời điểm ấy chỉ là những gì nhìn thấy trước mắt như nạn chết đói thảm khốc, dân mù chữ và các cuộc biểu tình rồi chiến sự lan rộng…

Về sau, cuộc đời nghiên cứu chuyên sâu quốc sử đã giúp ông Tạo hiểu rõ hơn các ngóc ngách của bước ngoặt lịch sử dân tộc này.

Tháng 8-1945, Việt Minh giành chính quyền ở Hà Nội, và một trong những mục tiêu quan trọng mà lực lượng cách mạng phải chiếm giữ là hệ thống tài chính – tiền tệ, để chính phủ mới có điều kiện hoạt động và bảo đảm đời sống cơ bản cho quốc dân.

Tuy nhiên, bối cảnh quân sự – chính trị lúc ấy rất phức tạp vì còn sự hiện diện của cả quân đội Nhật lẫn người Pháp, về sau lại thêm 18 vạn quân Quốc Dân đảng tràn vào.

Ngay từ đầu, Việt Minh chỉ chiếm giữ được Sở Ngân khố và cố gắng kiểm soát một phần Ngân hàng Đông Dương.

Hậu quả là ngay sau khi tiếng súng kháng chiến vệ quốc bùng nổ, Ngân hàng Đông Dương do Pháp nắm quyền in ấn, phát hành tiền tệ đã lập tức gây khó khăn cho Chính phủ VNDCCH bằng cách cắt đứt hoàn toàn nguồn cung cấp tài chính.

Tình hình đã khó khăn lại càng khó khăn hơn khi nền kinh tế đang lạm phát nghiêm trọng. Ngay từ năm 1940, phát xít Nhật tràn vào, buộc Pháp phải in thật nhiều tiền cho quân đội mình chi tiêu, đã làm nền kinh tế Việt Nam sụp đổ.

Nếu như năm 1940 Ngân hàng Đông Dương chỉ lưu hành 216 triệu đồng, thì đến năm 1945 số tiền mặt ngoài thị trường đã tăng lên đến gần 2,5 tỉ đồng.

Thời điểm ấy cái gì cũng đi xuống, chỉ có lượng tiền là tăng lên với tốc độ “lũ lụt” chưa từng thấy. Lạm phát vô cùng khủng khiếp.

Trước đây, người phu kéo xe chỉ cần có khách một cuốc là đã đủ mua bơ (lon) gạo, giờ còng lưng cả ngày vẫn không đủ tiền mua. Giá hàng thiết yếu nhất là gạo, thóc tăng hàng chục lần…

Tình hình lạm phát bi thảm như vậy nhưng khi Chính phủ Việt Minh chiếm giữ và kiểm tra ngân khố quốc gia thì chỉ còn đúng 1.230.720 đồng.

Đặc biệt lại có đến 586.000 đồng là tiền rách nát phải tiêu hủy. Trong khi đó, nợ ngân phiếu chưa trả là 564.367.522 đồng.

Theo giáo sư Văn Tạo, “Việt Minh đã giành được chính quyền nhưng đang bị nợ như chúa chổm”. Ngân khố trống rỗng. Chính phủ mới không có tiền để hoạt động!

 

*** Error ***
Chính phủ VNDCCH vừa ra đời đã phải đối mặt với giặc đói, giặc dốt và nạn thiếu tiền Ảnh: Bảo tàng Lịch sử

 

Áp lực tiền tệ

Đặc biệt, trong tình hình khó khăn nghiêm trọng này lại xuất hiện thêm 18 vạn quân Trung Quốc của Tưởng Giới Thạch kéo sang trên danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật ở miền Bắc.

Chính phủ VNDCCH vừa ra đời lo cho dân mình đã khó khăn, lại phải nuôi thêm gần 200.000 quân Tưởng.

Vừa đối phó với cuộc chiến tiền tệ do Ngân hàng Đông Dương Pháp gây áp lực, lực lượng kháng chiến lại phải đối mặt với sự phá hoại nền tài chính một cách thô bạo của đội quân mang tiếng là đồng minh.

Tướng Lữ Hán (quân Tưởng) yêu cầu phải cung cấp cho quân ông ta 10.000 tấn gạo trong khi dân Việt vẫn chưa qua khỏi nạn chết đói.

Nghiêm trọng hơn, sau đó viên tướng Trung Quốc còn “khai chiến” tiền tệ trực tiếp khi tự tiện áp đặt một tỉ giá hoàn toàn khác biệt thực tế: 1 đồng quan kim Trung Quốc ăn 1,5 đồng Đông Dương và 13,3 đồng quốc tệ của họ ăn 1 đồng Đông Dương.

Trong khi thực tế tỉ giá ngoài thị trường tương ứng là 2,5 đồng quan kim mới bằng 1 đồng Đông Dương, và 50-60 đồng quốc tệ của họ mới ngang giá 1 đồng Đông Dương ở Việt Nam.

Nhắc lại “cuộc chiến” tiền tệ này, thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn – nguyên sĩ quan Việt Minh – nhận xét: “Thực chất gần 20 vạn quân Lữ Hán đã cậy số đông và vũ khí để đổi cái gọi là tiền (nhưng thực chất như giấy lộn) của họ lấy thóc gạo, tiền bạc và các tài sản khác của đồng bào ta.

Chính phủ cách mạng lúc đó căm giận lắm, nhưng không thể phản ứng mạnh mẽ được vì phải dồn lực đối phó sự trở lại của quân Pháp”.

Tình hình nghiêm trọng hơn khi Lữ Hán càng lấn tới yêu cầu phải được đổi 4.500 triệu đồng bạc Đông Dương trong khi cả nước Việt Nam lúc ấy chỉ có 2.172 triệu đồng Đông Dương lưu hành…

Để vượt qua “cuộc chiến” tiền tệ nan giải này, Chính phủ cách mạng cùng lúc thực hiện nhiều giải pháp tháo gỡ. Quỹ độc lập và Tuần lễ vàng được phát động để kêu gọi sự ủng hộ từ nhân dân.

Tuy không hoàn toàn kiểm soát được Ngân hàng Đông Dương – cơ quan độc quyền phát hành tiền – nhưng Chính phủ đã cử một phái đoàn gồm các ông Hoàng Minh Giám, Trịnh Đình Bính và Đặng Đình Hòe đến giám sát ngân hàng này.

Ban đầu ban giám đốc người Pháp cương quyết không chấp nhận các yêu cầu của phía Việt Nam. Nhưng tình hình càng lúc càng căng thẳng, cuối cùng họ phải nhượng bộ, tạm chấp thuận một số yêu cầu rút tiền của Chính phủ Việt Nam với tổng số tiền khoảng 22 triệu đồng Đông Dương.

Tuy nhiên, sau khi chiến sự chống xâm lược bùng nổ ở Nam Bộ, đến cuối tháng 10-1945 ngân hàng này không cho rút tiền nữa.

Tình thế buộc Chính phủ VNDCCH không còn cách nào khác là phải có đồng tiền riêng của mình. Điều đó không chỉ bảo đảm cho sự hoạt động của Chính phủ và đời sống nhân dân, mà còn trực tiếp khẳng định nền độc lập, tự chủ quốc gia.

Đội quân… bê tha

Thiếu tá Archimedes Patti – trưởng phái bộ tình báo Mỹ OSS ở Hà Nội lúc ấy – nhận xét: “Ra phố, tôi chỉ thấy một cảnh tượng lộn xộn không thể tả được với những lính Trung Quốc lang thang không mục đích.

Họ tràn vào sục sạo trong các khu phố, lang thang trên các bãi cỏ trước Dinh Toàn quyền, trong các trại của Pháp, Việt, quần áo rách rưới, bê tha…”.

 

QUỐC MINH -TTO

Đồng tiền độc lập – Kỳ 3: Đồng tiền Nam Bộ


Khác tình hình miền Bắc, Nam Bộ vừa giành chính quyền một thời gian ngắn đã nổ ra chiến sự ác liệt. Do tình hình đặc biệt này, việc in ấn, phát hành đồng tiền kháng chiến tiến hành chậm hơn ở miền Bắc.

 

*** Error ***
Theo ông Trang Sĩ Liêm, nhờ có nguồn tài chính riêng mà kháng chiến có nguồn lực đến thắng lợi – Ảnh: QUỐC VIỆT
Tuy sau Hà Nội nhưng đồng tiền kháng chiến Nam Bộ ra đời lại rất đa dạng, thậm chí được in thô sơ bằng loại giấy gói đồ mà vẫn được người dân chấp nhận
Ông TRANG SĨ LIÊM

 

Đồng bạc xé đôi và con dấu kháng chiến

“Tuy sau Hà Nội, nhưng đồng tiền kháng chiến Nam Bộ ra đời lại rất đa dạng, thậm chí được in thô sơ bằng loại giấy gói đồ mà vẫn được người dân chấp nhận.

Lực lượng quân sự và mật vụ Pháp tìm mọi cách phá đồng tiền này nhưng không thể nào phá được” – nguyên giám đốc chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam TP.HCM Trang Sĩ Liêm nói.

Từ cuối năm 1945 sang năm 1946, người dân Nam Bộ chủ yếu vẫn sử dụng đồng bạc Đông Dương của Pháp. Đây là một trong những thời điểm hiếm hoi dân vùng kháng chiến có thể xé đôi các tờ bạc mệnh giá lớn 100 đồng, 500 đồng mà vẫn mua bán được.

Lý do là trong thời gian Nhật chiếm đóng Việt Nam đã buộc nhà in tiền Ideo của Pháp phải phát hành các tờ bạc mệnh giá lớn để quân đội Nhật tiêu dùng.

Khi Nhật bại trận rút về nước, một lượng rất nhiều tiền mệnh giá lớn này vẫn ở ngoài thị trường khiến người dân khó tiêu dùng. Không đủ tiền lẻ thối lại, người dân miền Nam xé làm đôi để tự hạ phân nửa mệnh giá tờ bạc.

Khoảng đầu năm 1947, một nhóm cán bộ ra Phú Yên nhận về 20kg vàng và bảy thùng tiền giấy bạc mệnh giá 100 đồng Đông Dương.

Đặc biệt, để huy động nguồn lực trong dân, từ năm 1946 Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ký các sắc lệnh cho phép Nam Bộ được phát hành các loại công thải (vay của dân), tiếp tục sau đó là các công phiếu, công trái kháng chiến như đã thực hiện ở miền Bắc.

Tùy điều kiện từng vùng, người dân có thể dùng tiền Đông Dương để mua hoặc quy ra lúa, vàng. Thậm chí có tờ công trái còn ghi rõ ràng mệnh giá bằng 500kg thóc với phần lãi sẽ trả bên dưới.

Về phía Pháp, sau khi nổ súng tái chiếm Sài Gòn đã tung ra ngay đòn tài chính đầu tiên bằng cách lệnh cho Ngân hàng Đông Dương ngừng cấp tiền cho Sở Ngân khố Việt Minh từ cuối tháng 10-1945.

Sau đó, họ lại tiếp tục tuyên bố không thừa nhận các loại tờ bạc Đông Dương mệnh giá lớn do phát xít Nhật ép Pháp phát hành. Một đòn tài chính đánh thẳng vào nền kinh tế vùng kháng chiến.

Ông Liêm kể để đối phó lại, Ủy ban Hành chính kháng chiến Nam Bộ đã nghĩ ra cách đóng dấu lên các tờ bạc này dòng chữ “Ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh”. Người đề xuất ý kiến là luật sư Nguyễn Thành Vĩnh.

Bất cứ tờ bạc nào có con dấu đó đều được xem là hợp pháp và được mua bán bình thường ở vùng tự do.

 

*** Error ***
Tờ bạc Đông Dương xé làm đôi xài được ở vùng kháng chiến – Ảnh: TSL

 

In tiền Nam Bộ

Đầu năm 1948, Nam Bộ được trung ương chấp thuận cho tự ấn loát và phát hành các tờ bạc 1 đồng, 5 đồng, 20 đồng, 50 và 100 đồng riêng. Chúng được gọi chung là “giấy bạc Việt Nam” để phân biệt “giấy bạc trung ương” do miền Bắc phát hành.

Theo ông Nguyễn Thành Thơ – nguyên phó bí thư Thành ủy TP.HCM, việc miền Nam tự in đồng tiền riêng là một bước ngoặt rất quan trọng.

Nó không chỉ tránh được tình trạng chậm trễ, bấp bênh và nguy hiểm của đường chuyển tiền từ miền Bắc vào Nam, mà còn giúp thu phục được nhân tâm.

Chính những tờ bạc này đã giúp tăng thêm sức mạnh và uy tín chính quyền kháng chiến trong lòng dân.

Ông Thơ kể: “Tụi tui đi qua tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long, thấy người dân đặt mấy tờ bạc của mình lên bàn thờ để thờ cúng rất trang trọng. Về sau lính Pháp bố ráp tìm thấy, dân trả lời: Không biết tiền gì. Lượm được thì để lên đó chơi”.

Cơ sở in tiền kháng chiến Nam Bộ đầu tiên đặt ở Đồng Tháp với tên gọi Ban ấn loát đặc biệt và mật danh là Ban trồng tỉa số 10. Kỹ sư Ngô Tấn Nhơn, bộ trưởng Bộ Canh nông, phái viên được Chính phủ cử vào Nam làm trưởng ban này.

Luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, ủy viên Ủy ban Hành chính kháng chiến Nam Bộ và kỹ sư Kha Vạn Cân làm phó ban. Ủy viên là các ông Huỳnh Văn Gấm, Lê Thiên, Ngô Văn Hoa…

Theo ông Trang Sĩ Liêm, cơ sở hoạt động thời điểm ấy gần như bắt đầu từ con số 0. Hầu hết đều xuất phát từ nguồn ủng hộ của nhân dân, điền chủ và nhân sĩ ủng hộ kháng chiến, trong đó có cả vàng của luật sư Nguyễn Thành Vĩnh.

Các máy in typo, offset được giúp tìm mua từ nội thành Sài Gòn, rồi bí mật chuyển bằng đường ghe về Đồng Tháp.

Đặc biệt, các họa sĩ vẽ mẫu tiền do lực lượng kháng chiến vận động, bí mật mời từ nội thành Sài Gòn – Gia Định ra chiến khu như Huỳnh Văn Gấm, Sáu Hộ, Lê Ba, Trần Ngọc…

Một số người đi trước lại tiếp tục mời thêm bạn bè của mình về Đồng Tháp. Trong đó, Sáu Hộ là một giảng viên nổi tiếng khắc chạm đồng, đá ở Trường Mỹ thuật Gia Định.

Ngoài nhóm họa sĩ vẽ tiền, các kỹ thuật viên in offset như Đinh Nhân Quý, Nguyễn Văn Thông, Lê Thân, Hoàng Ngọ và thợ làm bản kẽm Dao Cẩm Thiếm, thợ khắc Bùi Văn Trừng, thợ cơ khí Lê Văn Xinh, Ba Gia cũng lần lượt vào Đồng Tháp Mười để trực tiếp tham gia việc in tiền kháng chiến.

Riêng ông Trang Sĩ Liêm đang làm thủ quỹ ở Văn phòng 1 Xứ ủy thì được điều về Sở Ngân khố Nam Bộ, theo sát công việc in ấn và phát hành tiền cho đến năm 1954.

Tờ bạc 100 đồng Đông Dương có dấu Ủy ban Hành chính kháng chiến Nam Bộ để sử dụng ở vùng kháng chiến – Ảnh: TSL
Tờ bạc kháng chiến có chân dung Hồ Chí Minh

Mặc dù đội ngũ nhân lực chuyên môn chắp vá và máy móc in ấn lạc hậu, phải quay tay, đạp bằng chân nhưng tờ bạc kháng chiến đã nhanh chóng ra đời ngay trong năm 1948.

Những tờ bạc đầu tiên in tại chiến khu Đồng Tháp có mệnh giá 1 đồng, 5 đồng và 20 đồng…

Tiền đều có in chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh ở góc, trên đầu là dải chữ Việt Nam dân chủ cộng hòa, bên dưới in lớn chữ Giấy bạc Việt Nam để phân biệt với tiền từ miền Bắc gửi vào.

Tốc độ in ấn được thực hiện khá nhanh. Chỉ đến đầu năm 1949, hơn 325 triệu đồng bạc kháng chiến Nam Bộ đã được in ấn và phát hành từ Đồng Tháp.

Thời kỳ đầu có mệnh giá 1 đổi 1 với tờ bạc Đông Dương của Pháp, đây cũng là thời điểm mà giá lúa khu vực này chỉ có 1 đồng/giạ 20kg.

QUỐC MINH -TTO

 

Tham khảo: https://tuoitre.vn/dong-tien-nam-bo-1378018.htm

Xem đồng tiền Việt Nam từ thời Đinh Bộ Lĩnh đến nay


Đồng tiền cổ nhất của Việt Nam hiện được xác định là đồng Thái Bình Hưng Bảo dưới triều Đinh Tiên Hoàng (năm 968), đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM (số 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm – Q1)

 

Tiền VNDCCH sử dụng ở Nam Bộ trong thời chiến tranh - Ảnh: L.Điền
Tiền VNDCCH sử dụng ở Nam Bộ trong thời chiến tranh – Ảnh: L.Điền

Trong khuôn khổ tuyến nội dung “Bảo tàng và lịch sử: những câu chuyện chưa kể tại bảo tàng”, Bảo tàng Lịch sử TPHCM phối hợp với Bảo tàng Phụ Nữ Nam Bộ và 5 nhà sưu tập tư nhân thực hiện chuyên đề triển lãm “Lịch sử tiền tệ Việt Nam”, giới thiệu 700 hiện vật, hình ảnh về các giai đoạn tiền tệ của đất nước trong hơn 10 thế kỷ.

Đồng Thái Bình Hưng Bảo trích từ bộ sưu tập của ông Lê Hoan Hưng. Đây là đồng tiền riêng đầu tiên của nước ta, đánh dấu nền độc lập sau hàng ngàn năm Bắc Thuộc.

Đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo trích từ bộ sưu tập của ông Lê Hoan Hưng - Ảnh: L.Điền
Đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo trích từ bộ sưu tập của ông Lê Hoan Hưng – Ảnh: L.Điền

Thời tiền Lê có các đồng Thiên Phúc Trấn Bảo và đồng Thiên Phúc Thông Bảo; thời Lý theo niên đại có các đồng: Thuận Thiên Đại Bảo, Minh Đạo Nguyên Bảo, Thiên Cảm Nguyên Bảo, Đại Định Thông Bảo, Trị Bình Nguyên Bảo, Chính Long Nguyên Bảo.

Sau thời Trần với các đồng tiền: Kiến Trung Thông Bảo, Chánh Bình Thông Bảo, Nguyên Phong Thông Bảo, Khai Nguyên Thông Bảo…, loạt này còn có một đồng tiền thời nhà Hồ, là đồng Thiệu Nguyên Thông Bảo.

Đồng tiền thời nhà Hồ có tên Thiệu Nguyên Thông Bảo - Ảnh: L.Điền
Đồng tiền thời nhà Hồ có tên Thiệu Nguyên Thông Bảo – Ảnh: L.Điền

Đến tiền đồng thời hậu Lê có một loạt các đồng mang tên niên đại các vì vua quen thuộc như: Thuận Thiên, Thiệu Bình, Quang Thuận, Hồng Đức, Đoan Khánh…, và nhà Mạc cũng có một số đồng như: Minh Đức Thông Bảo, Minh Đức Nguyên Bảo…

Một nội dung đáng kể của chuyên đề triển lãm này là tiền của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các loại tín phiếu và giấy bạc Cụ Hồ từng lưu hành trong những thời khắc quan trọng của đất nước, đã trở thành một yếu tố làm nên lịch sử hiện đại Việt Nam.

Độc đáo nhất phải kể đến đồng tiền vàng Cụ Hồ. Đây là đồng tiền được làm vào năm 1948, Chính Phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ phát hành 200 đồng tiền loại này: làm bằng vàng nguyên chất, mệnh giá 20 đồng, mỗi đồng nặng 8,325gram. Đồng tiền hình tròn, màu vàng, viền nổi trang trí xung quanh. Mặt trước ở giữa in hình Bác Hồ, phía trên in chữ nổi “CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH”.

Mặt sau in nổi số 20 phía trên, ở giữa là chữ “VIỆT”, dưới có hai bó lúa xếp chéo nhau, bên dưới là số “1948”, viền in nổi dòng chữ “VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA” và “NANG 8G325 NGUYEN CHAT 0.900”. Đây là những đồng vàng tượng trưng cho nền tài chính độc lập của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Tiền vàng này được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng các bộ trưởng và một số cán bộ chủ chốt, đồng thời cũng là tặng phẩm ngoại giao trong các chuyến xuất ngoại của Người, không dùng để trao đổi.

Triển lãm lần này giới thiệu đồng tiền vàng của bà Nguyễn Thị Thập, được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng trong dịp bà Thập đi công tác nước ngoài. Hiện vật quý giá này thuộc bộ sưu tập của Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ.

Mặt trước đồng tiền vàng Hồ Chí Minh - Ảnh: L.Điền
Mặt trước đồng tiền vàng Hồ Chí Minh – Ảnh: L.Điền
Mặt sau đồng tiền vàng Hồ Chí Minh với dòng chữ
Mặt sau đồng tiền vàng Hồ Chí Minh với dòng chữ “Nguyên Chat 0.900” – Ảnh: L.Điền

Trong thời chiến tranh, khi đất nước chia thành hai miền nam bắc, đồng tiền của nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có loại lưu hành ở miền bắc, và loại lưu hành ở miền Nam. Trong khi đó miền Nam lại có tiền của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, và tiền của Mặt trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam Việt Nam (giai đoạn 1963- 1978).

Tiền Cụ Hồ sử dụng ở miền Bắc giai đoạn 1945 - 1950 - Ảnh: L.Điền
Tiền Cụ Hồ sử dụng ở miền Bắc giai đoạn 1945 – 1950 – Ảnh: L.Điền
Tín phiếu sử dụng ở Trung bộ có in hình Bác Hồ - Ảnh: L.Điền
Tín phiếu sử dụng ở Trung bộ có in hình Bác Hồ – Ảnh: L.Điền
Tiền mệnh giá 200 đồng của chế độ Việt Nam Cộng Hòa có in hình vua Quang Trung - Ảnh: L.Điền
Tiền mệnh giá 200 đồng của chế độ Việt Nam Cộng Hòa có in hình vua Quang Trung – Ảnh: L.Điền
Góc trưng bày các đồng tiền của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam - Ảnh: L.Điền
Góc trưng bày các đồng tiền của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam – Ảnh: L.Điền

Đó là chưa kể, thời chiến tranh còn có các loại tín phiếu lưu hành ở Trung bộ, và các loại tiến sử dụng trong những trường hợp đặc biệt: tiền đóng dấu, tiền xé đôi, tiền “đắp nền”.

Đến khi nước nhà thống nhất, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thống nhất mẫu tiền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam lưu hành trong toàn quốc từ 1978 đến nay.

Ông Hoàng Anh Tuấn (bìa phải) đang giới thiệu triển lãm với khách tham quan tại buổi khai mạc - Ảnh: L.Điền
Ông Hoàng Anh Tuấn (bìa phải) đang giới thiệu triển lãm với khách tham quan tại buổi khai mạc – Ảnh: L.Điền

 

Gallery

A Taste of the Rice Bowl of Vietnam


twobrownfeet

After a long, sleepless night of tossing and turning — in anticipation of the trip; I managed to make it in time for my hotel pick-up at 8 am. We spent the next 15 minutes picking the rest of the members of the tour. Our tour group had an eclectic mix of people — two Japanese friends, an American mother-son duo, and a solo traveller from Australia. Our guide, Kyon (my best guess of how his name must be spelled), was a cheery, verbose young man.

As we transitioned from the city to the countryside; his words provided the steady buzz  to the background of fleeting scenery. I realised, as much as I wanted, it would be hard to escape the memory of the war. Occasionally, I fought sleep. Fortunately, our tour guide’s monologue came to my rescue, and my eyes stayed open. Outside my window, fields were painted green…

View original post 1,226 more words

Gallery

Imagining Dragons in Ha Long Bay


twobrownfeet

Is Ha Long Bay overrated? That’s the question we needed to answer before including Hanoi in our Vietnam trip. After some preliminary reading, I realised: there’d be no way we’d escape taking a tour or crowds. But all the reviews said it was definitely worth it. And I’d second that. Ha Long Bay doesn’t disappoint and even if you have two days in Hanoi — make sure you block one day to explore this fascinating marvel of nature.

Our tour bus for Ha Lang Bay picked us at 8 am from our hotel. The next 20 minutes were spent picking our co-travellers and navigating through the arterial roads of Hanoi. I was hoping to catch some shut eye on the bus ride. Our guide, a chirpy Vietnamese woman, didn’t waste time in rolling out the words or information. Interestingly, her views on Vietnamese history and the war was noticeably different…

View original post 1,362 more words

Supporting a technology tradition


Contrary to popular belief, I do occasionally venture outside the Greater Reading area. Last week I was fortunate enough to go to Lisbon for Web Summit, a world-renowned technology conference. From virtual reality to flying cars, in this post I’ll cover some of the innovations coming down the road (or hovering above it), as well […]

via Supporting a technology tradition — Reading-on-Thames