Người thành công làm gì vào cuối tuần


Ai cũng mong cuối tuần để nghỉ ngơi, còn người thành công làm những điều vừa có ích vừa thư giãn này để thành công hơn nữa

Những người thành công luôn biết cách tận dụng khoảng thời gian rảnh rỗi cuối tuần để vừa tận hưởng cuộc sống vừa bồi đắp thêm nền tảng giúp họ gặt hái được nhiều thành công hơn nữa.

Featured Image -- 7147

Thói quen có ảnh hưởng rất lớn đối với sự thành công hay thất bại của một người. Các thói quen tốt sẽ luôn giúp ta có cuộc sống tốt hơn, hoàn thiện cả tư duy lẫn con người và ngược lại. Thời điểm mà chúng ta hình thành thói quen xấu nhiều nhất có lẽ là cuối tuần, những khoảng thời gian rảnh rỗi mà chúng ta tự nuông chiều bản thân, cho phép mình được nghỉ ngơi hay phá lệ một chút.

Tuy nhiên, nếu biết những người thành công vẫn tuân thủ 8 thói quen tốt này cả vào cuối tuần thì bạn nhất định sẽ thay đổi quan điểm:

Rèn luyện thêm nhiều kỹ năng mới

01-cd676

Cuối tuần là khoảng thời gian tuyệt vời để bạn thoát khỏi những áp lực quen thuộc để giải phóng cả tinh thần lẫn thể chất. Nhiều người lựa chọn cuối tuần để tập trung nâng cao một kỹ năng khác chuyên môn công việc. Điển hình như đầu bếp nổi tiếng Marcus Samuelsson thì chơi bóng đá, phóng viên truyền hình Bill McGowan thích vào rừng dã ngoại còn kiến trúc sư Rafael Vinoly thì lại hay luyện tập piano vào cuối tuần.

Thực hiện những hoạt động mới mẻ sẽ giúp tâm trí và cơ thể bạn phục hồi sau những căng thẳng của công việc. Hoặc chỉ cần đơn giản là đến phòng tập để nâng cao thể lực thôi.

Lên kế hoạch cho ngày cuối tuần

Cuối tuần của bạn thường như thế nào? Ngủ nướng đến trưa rồi nằm dài xem TV, lướt facebook, thậm chí chẳng màng ăn uống? Đó là do bạn chưa biết làm gì, hay chính xác hơn là chưa có kế hoạch cụ thể cho những ngày nghỉ của mình.

Không cần phải vạch ra chi tiết từng hạng mục, từng khung giờ mà bạn chỉ cần phác hoa đôi ba hoạt động cần thực hiện cho bằng được vào thứ 7, chủ nhật . Việc lên kế hoạch cho phép bạn tận hưởng niềm vui của việc dự đoán kết quả, sự phấn khởi khi chờ đợi… Và hơn hết là biến những ngày cuối tuần trở nên “có ích” thay vì nằm ì ở nhà và cảm thấy phí thời gian vô ích.

Làm điều gì đó thú vị vào tối chủ nhật

aP1220808

Niềm vui từ những hoạt động tích cực vào tối chủ nhật sẽ kéo dài sang tận sáng thứ 2 đấy. Đó có thể đơn giản chỉ là một bữa ăn gia đình lâu lâu mới đông đủ, một lớp yoga buổi tối hay tham gia một hoạt động tình nguyện, chẳng hạn như phục vụ bữa tối cho những hoàn cảnh kém may mắn.

Dù là hoạt động nào, chỉ cần nó đem lại cho bạn niềm vui và sự phấn khởi thì chắc chắn nó cũng sẽ giúp thứ 2 của bạn nhẹ nhàng, hứng khởi hơn rất nhiều.

Tối đa hóa hiệu suất mỗi sáng cuối tuần

i4-0

Điều này có nghĩa là, thay vì dọn dẹp nhà cửa, giặt đồ hay xem lại đống phim trong máy tính thì bạn nên tận dụng buổi sáng cuối tuần để làm những hoạt động giúp nâng cao năng lực cá nhân hơn như chạy marathon chẳng hạn.

4 giờ chạy marathon vào buổi sáng cuối tuần chắc chắn sẽ đem lại nguồn năng lượng tích cực hơn rất nhiều mà lại chẳng làm phiền đến gia đình hay những người ở cùng như việc dọn dẹp ồn ào.

Tạo ra các hoạt động truyền thống của gia đình

fall-in-love

Những gia đình hạnh phúc thường có một số hoạt động đặc biệt mà các thành viên đều tự giác thực hiện mà không cần nhắc nhở hay lịch trình. Đó có thể là những tối thứ 6 cho món pizza, đi dã ngoại ở công viên hay ăn sáng tại nhà vào mỗi sáng chủ nhật… Những thói quen này sẽ trở thành những kỷ niệm đẹp khi lớn lên và nó giúp tăng sự gắn kết tình cảm giữa các thành viên trong gia đình – nền tảng để bạn có thể đi tới thành công.

Nghỉ trưa đầy đủ

165632522-56a793453df78cf772974a8c

Ngủ trưa mang lại rất nhiều lợi ích. Các chuyên gia khuyên bạn nên có những giấc ngủ trưa dài vào những ngày cuối tuần vì nó cho phép cơ thể nghỉ ngơi và phục hồi sau cả một tuần căng thẳng. Tuy nhiên bạn vẫn còn có giờ giấc cho giấc ngủ đó, để tránh ngủ mê mệt và ảnh hưởng đến tinh thần buổi tối nhé.

Làm hết việc vặt một lúc

Seal

Bạn chỉ có 2 ngày nghỉ cuối tuần thôi và nếu thỉnh thoảng lại nghĩ ra vài việc lặt vặt để lau dọn thì nó sẽ tốn hàng giờ đồng hồ mất. Vì thế, chúng tôi khuyên bạn nên dành riêng một buổi hoặc một ngày thứ 7 để giải quyết hết đống công việc lộn xộn rồi trước khi giải phóng hết mình vào chủ nhật.

Hạn chế tiếp xúc với công nghệ

offtime.co

Rời xa máy tính, điện thoại và những căng thẳng trong công việc giúp bạn có nhiều không gian hơn cho cuộc sống thực. Nó giúp bạn thắt chặt hơn các mối quan hệ với gia đình, bạn bè; cắt giảm những tác động xấu của công nghệ đến sức khỏe và sắp xếp lại công việc một cách thực tế, rõ ràng hơn. Hãy tập buông điện thoại xuống vài tiếng, bạn sẽ nhận ra không ít sự thay đổi.

Theo Minh An

Nhịp sống kinh tế/Reader Digest

Đạo đức thường có thể bù đắp cho sự thiếu hụt trí tuệ, tuy nhiên trí tuệ vĩnh viễn không thể lấp đầy chỗ trống của đạo đức


Sau nhiều lần bị từ chối khéo, cô gái tức giận xông vào phòng nhân sự của một công ty hỏi lý do. Và câu trả lời của họ đã khiến cô vô cùng xấu hổ, hối hận.

 

Featured Image -- 3492

 

Lý lịch có vết đen

12 năm trước, có một nữ sinh vừa tốt nghiệp phổ thông trung học đã đến nước Pháp bắt đầu cuộc sống du học vừa học vừa làm.

Dần dần, cô sinh viên phát hiện ra nơi bán vé của hệ thống giao thông công cộng ở đó đều là tự phục vụ, tức là bạn muốn đi đâu thì chỉ cần mua vé ở máy bán vé tự động là được.

Bến xe và nhà ga hầu như đều theo hình thức mở, không lắp đặt cổng soát vé, cũng không có nhân viên soát vé, thậm chí đến cả việc soát ngẫu nhiên cũng vô cùng ít.

Cô đã phát hiện ra lỗ hổng trong quản lý này hay nói cách khác cách tư duy của cô đã nhận ra lỗ hổng này. Dựa vào trí thông minh của mình, sinh viên này có thể tính chính xác được rằng xác suất trốn vé mà bị phát hiện ra là 3/10.000.

Cô gái dương dương tự đắc trước phát hiện này của mình. Từ đấy về sau, cô thường xuyên trốn vé.

Thậm chí cô ấy còn tìm được một lý do khoan dung với bản thân: Mình còn là sinh viên nghèo, có thể tiết kiệm được chút nào hay chút ấy.

Featured Image -- 3726

Và hậu quả không thể ngờ đến

4 năm sau, cô sinh viên đó vô cùng tự hào khi cầm tấm bằng xuất sắc của trường đại học danh tiếng.

Cô bắt đầu bước vào cửa lớn của một vài Tập đoàn đa quốc gia ở Paris, tràn đầy tự tin giới thiệu về bản thân.

Lúc đầu các công ty này rất nhiệt tình, tuy nhiên vài ngày sau, họ đều từ chối khéo. Thất bại hết lần này đến lần khác khiến cô gái bực tức.

Cô cho rằng nhất định là những công ty đó có khuynh hướng phân biệt chủng tộc, bài xích người nước ngoài.

Lần cuối cùng, cô xông vào phòng nhân sự của một công ty, yêu cầu trưởng phòng cho biết lý do hợp lý tại sao họ không tuyển mình. Tuy nhiên, câu trả lời của họ khiến cô vô cùng bất ngờ.

“Thưa cô, chúng tôi không hề phân biệt đối xử với cô, ngược lại, chúng tôi rất coi trọng cô. Khi cô nộp hồ sơ xin việc, chúng tôi đánh giá cao môi trường giáo dục và trình độ học vấn của cô. Nói thật, về phương diện khả năng làm việc, cô chính là người chúng tôi cần tìm.”

“Vậy tại sao quý công ty không tuyển dụng nhân tài như vậy?”

“Vì chúng tôi đã kiểm tra lịch sử thẻ tín dụng của cô và phát hiện ra cô bị phạt vì tội trốn vé xe buýt 3 lần.”

“Tôi không phủ nhận việc này. Nhưng vì chuyện nhỏ nhặt đó mà các anh bỏ qua một nhân tài đã nhiều lần đăng bài trên báo khoa học sao?”

“Chuyện nhỏ ư? Chúng tôi không cho rằng đây là chuyện nhỏ.

Chúng tôi đã để ý thấy rằng, lần đầu trốn vé là tuần đầu cô đến đất nước chúng tôi, nhân viên soát vé tin lời giải thích của cô vì cô nói rằng mình chưa quen với hệ thống bán vé tự phục vụ nên chỉ yêu cầu cô mua vé bổ sung. Nhưng sau đó, cô lại trốn vé 2 lần nữa.”

“Khi đó trong túi của tôi không có tiền lẻ.”

“Không, không, thưa cô. Chúng tôi không chấp nhận lời giải thích này của cô. Cô đang nghi ngờ chỉ số thông minh của tôi sao? Tôi tin trước khi bị phát hiện, có thể cô đã trốn vé đến vài trăm lần rồi.”

“Đó cũng không thể coi là lý do được. Sao phải nghiêm túc vậy chứ? Sau này tôi sẽ sửa không được sao?”

“Không, không, thưa cô. Chuyện này chứng tỏ 2 điểm: Thứ nhất, cô không tôn trọng quy định. Cô giỏi phát hiện ra lỗ hổng trong quy định và sử dụng nó theo ý đồ xấu.

Thứ hai, cô không đáng tin cậy. Mà rất nhiều công việc ở công ty chúng tôi bắt buộc phải thực hiện dựa vào sự tín nhiệm. Nếu cô phụ trách khai thác thị trường ở khu vực nào đó, công ty trao cho cô rất nhiều quyền hành.

Để tiết kiệm chi phí, chúng tôi không thể lắp đặt máy móc giám sát phức tạp, cũng như hệ thống giao thông công cộng của chúng tôi vậy.

Thế nên chúng tôi không thể tuyển cô được. Có thể khẳng định chính xác rằng, ở đất nước này, thậm chí là ở cả liên minh Châu Âu, cô không thể tìm được công ty tuyển dụng mình.”

Đến lúc này, cô gái mới như người tỉnh mộng, vô cùng xấu hổ và hối hận.

Tuy nhiên điều thật sự khiến cô ngạc nhiên là câu nói cuối cùng của vị trưởng phòng đó: “Đạo đức thường có thể bù đắp cho sự thiếu hụt trí tuệ, tuy nhiên trí tuệ vĩnh viễn không thể lấp đầy chỗ trống của đạo đức.”

euro-seem-money-finance.jpg

 

Người ta thường nói, đạo đức là tố chất cơ bản nhất của một con người, cũng là nhân cách của một con người. Dù ưu tú đến mấy mà nhân cách có vấn đề thì đều khiến người khác mất đi lòng tin và sự ủng hộ.

Trên phương diện công việc, hành vi mất nhân cách còn đáng sợ hơn nhiều, vì chút lợi trước mắt mà có hành vi phá hoại hệ thống chắc chắn là mồ chôn sự nghiệp của người đó.

Kỷ Nguyên Sáng Tạo liên quan gì với châu Á và Đạo Phật?


Motivation Mondays: A QUESTION of BALANCE - How do we create it in our lives?

Lĩnh vực sáng tạo ở Mỹ chiếm 30% tổng số người lao động (nhiều hơn lĩnh vực sản xuất) và tạo ra 2 nghìn tỷ đôla thu nhập (gần bằng lĩnh vực sản xuất và dịch vụ công lại). Giai tầng sáng tạo (Creative Class) bao gồm giới khoa học, kỹ sư, văn nghệ sỹ, diễn viên, nhà thiết kế, kiến trúc sư, nhà ứng dụng (Adopter), nhà tư tưởng, nhà báo, những người mang tính sáng tạo trong y tế, luật pháp, kinh doanh, công nghệ cao, vv.

Theo Gs. Richard Florida (Carnegie Mellon, Mỹ), Sự Sáng Tạo của Con Người là nguồn kinh tế tối thượng (ultimate economic resource). Ông đã làm nhiều người (và chính mình) sửng sốt khi phát hiện các mối tương quan giữa tính Sáng Tạo với Văn Hóa, Tâm-Sinh Lý, Quan Điểm…của con người. Theo Gs Florida, ba yếu tố đem lại sự Sáng Tạo. Đó là Công Nghệ (Technology), Nhân Tài (Talent) và Lòng Khoan Dung (Tolerance) – 3 chữ T. Ông phát hiện mối tương quan thuận giữa Sáng Tạo với sự Đa Văn Hóa (Melting Pot Index), Tính Văn-Nghệ-Sỹ (Bohemian Index) và cộng đồng những người đồng tính (Gay Index). Những phát hiện của ông đóng góp nhiều, thậm chí đảo ngược quan  điểm trong việc hoạch định các vùng, miền sáng tạo. Singapore đã áp dụng các phát hiện này để có các biện pháp phát triển đất nước dựa trên Đổi Mới-Sáng Tạo (Innovation).

Bán Cầu Não Phải và tính Sáng Tạo

Kỷ Nguyên Thông Tin (Information Age) với ưu thế của Bán Cầu Não Trái (BCNT) đang dần lắng xuống, nhường bước cho Kỷ Nguyên Sáng Tạo (Creative Age) của Bán Cầu Não Phải (BCNP) chuyên cho sự Thấu Cảm và khả năng Phát Minh.

Bán Cầu Não Trái => Suy Nghĩ => Tri Thức Bán Cầu Não Phải => Quán Tưởng => Sáng Tạo
– Mang tính tuần tự (sequential)

– Nặng về nghĩa “đen” (literal)

 

– Thiên về chức năng (functional)

– Nệ câu chữ (textual), “hình”

– Nặng về phân tích (analytic)

– Logic, Tri Thức (Knowledge), Ý Thức (Consciousness)

– Thiên về tạo ra Tri Thức, dễ coi Tri Thức là Mục Đích; Nhận biết bản thể qua Tri Thức

– Tiệm cận bản thể bằng lý trí và gián tiếp qua các trung gian, khái niệm…

– Tạo ra cái Ảo (Virtuality), qua Mô Phỏng để biết bản thể

– Tiệm cận; không bao giờ nhất thể hóa với bản thể

 

– Liên quan nhiều tới Nghiên cứu (tạo ra Lý Thuyết)

– Một cách đồng thời (simultaneous) – Thiên về nghĩa “bóng” (metaphorical)

– Thiên về thẩm mỹ (aesthetic)

– Nắm ngữ cảnh (contextual), “thần”

– Thiên về tổng hợp (synthetic)

– Phi logic, Thấu Cảm (Empathy), Vô Thức (Sub-consciousness)

– Vượt qua, phá bỏ Tri Thức, coi Tri Thức là Phương Tiện; hướng tới đồng hóa với bản thể

– Cảm nhận bản thể trực tiếp qua giác quan, không qua trung gian, khái niệm…

– Phá cái Ảo, Phá Chấp để nhập vào bản thể

– Tiệm cận (Tiệm Ngộ), có thể nhất thể hóa với bản thể (Đốn Ngộ) => gần với Phát Minh, Khám Phá

– Liên quan nhiều tới Ứng Dụng (tạo ra Bản Thể), Sáng Tạo-Đổi Mới (Innovation), Phát Minh (Inventiveness), Phám Phá (Discovery)

BCNT dần mang lại Ánh Sáng của Trí Tuệ, nhưng luôn là Ảo. BCNP là sự Mờ Tối, Hỗn Độn của cõi Vô Thức, nhưng lại chứa đựng sự Thông Tuệ tối thượng vì đó chính là Thiên Nhiên, là Bản Thể. Vì vậy, các phát minh, khám phá, ứng dụng, sáng tạo – những điều luôn gắn với bản thể – luôn xuất phát từ BCNP. Nhận ra sự (có vẻ như) phi lý này, Lão Tử gọi đây là sự Mờ Tối của Thông Tuệ.

Hoạt động của BCNP (giác quan, sự thấu cảm, khả năng quán cảm, quán tưởng) không chỉ là bẩm sinh và có giới hạn mà luyện tập được, vô hạn, thậm chí có thể đưa người ta đến những tầng thức tưởng như siêu hình (meta-physic), siêu nhiên. Như vậy, để có Tri Thức (tức là có một sự mô phỏng gần đúng sự vật trong tư tưởng), cần Học (Learning) dựa trên các logic. Còn để sáng tạo (tức là áp dụng Tri Thức vào thực tế), người ta cần Hành, cần “Chơi” (Play) theo một nghĩa nào đó để cảm nhận, quán tưởng phi logic các bản thể. Hiện nay, người ta hướng trẻ em vào các hoạt động thể thao, nghệ thuật, giao lưu…hơn là vào học tập hàn lâm. Chỉ số Tình Cảm (EQ) liên quan nhiều hơn đến một cuộc sống, sự nghiệp lành mạnh, cân đối so với Chỉ số Thông Minh (IQ).

Nhìn nhận sự hạn chế, thậm chí bất lực, của Tri Thức và các biện pháp, công cụ của nó trong việc nhận biết bản thể, cổ nhân nói “Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận lời, lời bất tận ý”“Đạo khả đạo phi Thường Đạo; Danh khả danh phi Thường Danh” (Chân Lý khi đã được nêu ra thì không còn là Đạo trường tồn, bất biến nữa; Sự thể khi đã có tên gọi thì tên gọi đó không phản ánh đúng sự thể đó nữa). (Sách không hết ngôn từ, ngôn từ không hết lời lẽ, lời lẽ không hết ý tứ). BCNP không dùng ngôn ngữ, lý luận, cũng đúng như Đạo Phật coi Bản Thể là “bất khả tư nghì” (không thể nghị bàn được). Hơn 2 ngàn năm trước, Lão Tử đã có một tuyên ngôn cương cường, bất hủ, thách thức Tri Thức hàn lâm dựa trên logic và ngày nay còn chân giá trị:

Trước kỷ nguyên sáng tạo, BCNT, Ý Thức, luôn điều khiển, chỉ lối cho BCNP. Trong kỷ nguyên Sáng Tạo, người ta nhận ra rằng BCNP, Sự Thấu Cảm, mới dẫn dắt, quán xuyến chúng ta trọn vẹn nhất.

Ba yếu tố gây sự bùng nổ của Tính Sáng Tạo  

Kỷ Nguyên Sáng Tạo xuất hiện nhờ sự hội tụ của 3 yếu tố: Sự Dư Thừa (Abundance), Châu Á (Asia) và Tự Động Hóa (Automation) – 3 chữ A.

Thứ nhất, sự “Dư Thừa” về hàng hóa của nền đại công nghiệp làm xuất hiện nhu cầu về Tính Khác Biệt. Sự Khác Biệt chỉ có được nhờ sự Sáng Tạo.

Thứ hai, Châu Á hội nhập đem lại 2 yếu tố quan trọng. Một, đó là nơi làm thuê khoán ngoài (out-sourcing) nhiều nhất để các nước phát triển chuyên chú hơn vào sáng tạo. Thứ nữa, châu Á đem lại một phương pháp sáng tạo khác hẳn, thậm chí trái ngược với phương Tây. Phương pháp này, đặc trưng là cách Quán Cảm bản thể của Đạo Phật, tương đồng một cách kinh ngạc với phương pháp luận sáng tạo hiện đại mà phương Tây đang đi sâu nghiên cứu và áp dụng.

Thứ ba, Đông Tây hợp tác được nhờ Công Nghệ, thiết bị…được biểu trưng bằng “Tự Động Hóa”.

Sự kết hợp của phương Tây nhiều Tri, ít Ngộ với phương Đông nhiều Ngộ, thiếu Tri đem lại sức Sáng Tạo chưa từng có cho Nhân Loại. BCNP chuyên về sự Thấu Cảm, Quán Tưởng bản thể như một Nhất Thể (không phân tích) một cách đồng thời, không qua trung gian, với toàn bộ ngoại cảnh, thậm chí kể cả thời gian. Đây cũng là điều Phật Pháp hướng tới từ hàng ngàn năm nay.

Sự Khác Biệt

Kỷ nguyên Sáng Tạo là của những người áp dụng Tri Thức vào thế giới thực. Lúc này, tri thức logic, trong một chừng mực nào đó, lại là rào cản con người đến với thực tế, đến với sáng tạo, đặc biệt ở những nước thụ động tiếp nhận tri thức. Các công ty công nghệ, sáng tạo Mỹ cần ngày càng nhiều Thạc sỹ Mỹ Thuật (Master Of Fine-Arts, MFA) thay vì Thạc sỹ Quản Trị Kinh Doanh (Master Of Business Administration, MBA). Nhiều trường đại học đã đưa các môn mỹ thuật, nghệ thuật vào khoa kinh doanh hoặc hướng sinh viên lấy hai bằng về kinh doanh và mỹ thuật (double degree).  Ắt hẳn các nhà vật lý lý thuyết đã chân nhận điều này ngay từ nửa đầu thế kỷ 20 khi Niels Bohr nói “Chúng ta phải hiểu rất rõ rằng, khi đến với những nguyên tử, chỉ có thể dùng được ngôn ngữ của thi ca”.

Trong Kỷ nguyên Sáng Tạo, người ta ít nệ vào lý lẽ (Argument), mà thuyết phục qua kể chuyện (story telling); Không quan sát sự vật qua lần lượt phân tích lý, hóa tính…như nghe những bản Độc Tấu riêng lẻ của các nhạc cụ khác nhau (Solo, Focus) mà thưởng thức một Hòa Tấu (Symphony) của tất cả các nhạc cụ; Không hành động chỉ với Ý Thức (Seriousness) mà trải nghiệm sự cuộc chơi của Vô Thức (Play) với tất cả các giác quan.

Trong Kỷ nguyên Sáng Tạo, không phải Trí-Thức, mà “Cảm”-Thức mới là người mang lại giá trị gia tăng cao cho xã hội. Tính Sáng Tạo ít phụ thuộc vào Học Vấn mà vào Cách Sống. Trí Thức không còn ở bậc thang cao trong xã hội mà là Giai Tầng Sáng Tạo bao gồm rất nhiều các ngành nghề, cách sống, bản ngã, văn hóa, sắc tộc…khác nhau trên thế giới. Nếu các nước đang phát triển biết khai thác tốt khả năng sáng tạo của mình, bản đồ phân bố Tính Sáng Tạo của thế giới sẽ hoàn toàn khác so với ngày nay. Theo Gs. Florida, Kỷ nguyên Sáng Tạo là một cuộc chơi hoàn toàn rộng mở…(The Creative Age is a wide-open game…). Con người ngày càng tự do hơn, thoát khỏi các ràng buộc vật chất, các ước lệ hữu hạn thông qua việc nhất thể hóa với Thiên Nhiên.

 

Tham khao: http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/ky-nguyen-sang-tao-lien-quan-gi-voi-chau-a-va-dao-phat-2333

Khoa học của Sherlock Holmes


Rõ ràng, Sherlock Holmes là nhân vật hư cấu, nhưng nền tảng để nhà văn Arthur Conan Doyle xây dựng hình tượng Holmes lại bắt nguồn từ những tri thức khoa học sâu sắc, tiên phong, thậm chí đôi khi mang tính dự báo của thời đại bấy giờ, theo Nature.

 

Sherlock Holmes ứng dụng kỹ năng về hóa học trong một bức vẽ năm 1893 của Sidney Paget, họa sỹ chuyên vẽ minh họa trên tạp chí The Strand. Nguồn: Nature

Những người mê Sherlock Holmes hẳn còn nhớ trong lần đầu gặp bác sỹ John Watson, chỉ bằng một cái liếc mắt, Sherlock Holmes đã nhận ngay ra toàn bộ thông tin cơ bản về người bạn thân thiết trong tương lai của mình. Arthur Conan Doyle đã miêu tả khoảnh khắc gặp gỡ hết sức thú vị của hai nhân vật này trong tiểu thuyết đầu tiên “Cuộc điều tra màu đỏ” (A Study in Scarlet).

Họ gặp nhau ở một phòng thí nghiệm hóa học bề bộn những bình cổ cong, ống nghiệm và đèn hơi. Dù vui mừng về việc tìm ra một loại thuốc thử có thể làm kết tủa huyết sắc tố nhưng Sherlock Holmes cũng đã nhận ra ngay bác sỹ quân y Watson mới ở Afghanistan về qua một số đặc điểm: là bác sỹ quân y vì có phong cách quân nhân, nước da sẫm màu có thể là do ở vùng nhiệt đới, bị thương ở cánh tay vì cử động gượng gạo… Nhờ tổng hợp tất cả các yếu tố đó, Sherlock Holmes đã có thể rút ra kết luận trong vòng một giây.

Vậy nhờ đâu mà Conan Doyle lại có được những kiến thức về ngành y? Trước khi trở thành nhà văn, Conan Doyle là một bác sỹ nên ông có nhiều kiến thức trong lĩnh vực y học. Một trong những cố vấn của Conan Doyle chính là bác sỹ phẫu thuật Joseph Bell, giảng dạy tại trường Đại học Edinburgh – nơi Conan Doyle theo học ngành nhãn khoa. Chính Joseph Bell đã “cung cấp” thông tin về Afghanistan cũng như các đặc điểm của nhà thám tử lừng danh.

Độ chính xác trong chẩn đoán bệnh của Joseph Bell đã được chứng thực, và cũng nhờ nó mà ông đã được mời làm bác sỹ riêng cho nữ hoàng Victoria khi bà tới thăm Scotland. Thế mạnh lớn nhất của ông chính là óc quan sát. Khi làm trợ lý cho Joseph Bell, Conan Doyle đã từng chứng kiến cách người thầy của mình đoán “trúng phóc” nghề nghiệp cũ của một bệnh nhân cũng như nơi ông từng làm việc – Barbados đúng như cách của Sherlock Holmes. . Bell nhiều lần nói với Doyle, “cần phải học cách quan sát”. Bệnh nhân có thể tin tưởng vào sự tinh thông nghề nghiệp của bác sỹ “nếu như thấy bác sĩ biết rất nhiều về quá khứ của mình ngay từ một cái nhìn,”. Và thông điệp đó đã in hằn vào trí nhớ của Doyle. Nhiều năm sau, ông viết thư cho Bell, “chính nhờ việc tập trung vào suy luận và quan sát – những điều thầy dạy khắc sâu vào tâm trí, em đã cố gắng xây dựng lên hình tượng một nhân vật có khả năng thúc đẩy mọi thứ đi xa hơn”.

Những tư tưởng tiên phong

Holmes, tất nhiên, không chỉ là một thầy thuốc chẩn đoán bệnh. Ông còn là nhà hóa học, tâm lý học, logic học, người khám phá… Tất cả những “nhà” ấy đều hiển hiện trong giai đoạn cuộc đời “trước khi có Holmes” của Conan Doyle. Trong thời đại của những biến đổi khoa học đầy sâu sắc, đâu đâu cũng cũng có những ý tưởng xuất hiện – như cách mạng và sự tồn tại của sóng điện từ, đã ngay lập tức trở thành chủ đề của cuộc tranh luận. Từ bỏ ảnh hưởng của nhà thờ bởi học thuyết Darwin và chủ nghĩa kinh nghiệm, Conan Doyle ngày càng tiến gần đến cuộc cách mạng khoa học này.

Và tại Edinburgh, ông đã chạm trán nhiều nhà tư tưởng tiên phong của đổi mới sáng tạo. Bác sỹ phẫu thuật và người tiên phong nghiên cứu thuốc khử trùng Joseph Lister đã cho ông thấy những kết quả nghiên cứu về thuyết vi trùng của Louis Pasteur. Ngay lập tức, Conan Doyle bị cuốn hút về những tiềm năng rộng mở của y học – một sự hấp dẫn sau đó được Holmes đẩy lên những tầm cao đầy chất hư cấu. Ví dụ, trong “Cuộc điều tra màu đỏ”, Holmes tuyên bố, “tôi đã tìm ra một chất phản ứng cho phép phát hiện ra huyết sắc tố”. Sự hư cấu của văn học đã “viết lại” lịch sử khoa học: Nhà vi khuẩn học và miễn dịch học người Đức Paul Uhlenhuth khám phá ra bài kiểm tra nhanh chất kết tủa máu người vào năm 1900 trong khi truyện được xuất bản năm 1887.

Conan Doyle còn gặp gỡ nhà phân tích độc học người Scoland Robert Christison, một chuyên gia từng chứng kiến rất nhiều vụ án li kỳ – và là một trong những nguồn cảm hứng về chuyên môn chất độc cho thám tử Holmes. Và cũng có thể sự quan tâm đến khoa học pháp y của nhà văn xuất phát từ một nhân vật nổi tiếng khác: Alphonse Bertillon – người tiên phong về nhân trắc học với việc sử dụng phép đo người để nhận diện tội phạm. Trong cuốn “Con chó săn của dòng họ Baskervilles” xuất bản năm 1902 (The Hound of the Baskervilles), chúng ta thấy Holmes được coi là “chuyên gia xuất sắc nhất châu Âu” về nhân trắc học, sau Bertillon. Conan Doyle tin tưởng, kiến thức y học đã giúp ông thúc đẩy “một chủ nghĩa hoài nghi lành mạnh” và sự thật là “nguồn sinh dưỡng tốt nhất cho mọi suy luận”. Do đó, Holmes là người theo chủ nghĩa hoài nghi số một.

Dù chủ ý hay không thì rút cuộc Holmes đã xuất hiện như một vị đại sứ khoa học của đại chúng. Trong “Cuộc phiêu lưu của ngón tay cái viên kỹ sư” (The Adventure of the Engineer’s Thumb) xuất bản năm 1892, Conan Doyle đã liên hệ với cách khử trùng bằng a xít carbolic của Lister khi miêu tả Watson xử lý một vết thương.

Trước khi Sigmund Freud trở thành một tên tuổi lớn và đặt nền tảng cho lĩnh vực phân tâm học, thì trong cuốn “Ngọn lửa bạc” (Silver Blaze) xuất bản năm 1892, Holmes đã suy luận về những điều thúc đẩy một người luyện ngựa đua làm hại con ngựa quý của mình (Conan Doyle đã từng đọc những tác phẩm giai đoạn đầu của Freud , trong đó có bài viết “Về coca”  – xuất bản năm 1884, nguyên nhân dẫn đến “thói nghiện” cocaine của Holmes).

Cách suy luận của Holmes

Holmes đã khám phá một cách chi tiết để nghiên cứu về những quyết định bị ảnh hưởng bởi định kiến hay những suy đoán bị “kẹt giữa” lý trí của cái đầu lạnh và cảm xúc của trái tim nóng. Trong “Truy tìm dấu bộ tứ” (The Sign of Four) sáng tác năm 1880, ông giải thích với Watson, điều quan trọng nhất là không được để suy đoán của mình bị thiên kiến bởi những phẩm chất cá nhân: “Mỗi khách hàng chỉ đơn thuần là yếu tố để tìm ra vấn đề. Cảm tính đi ngược lại với lý lẽ”, và cho biết thêm “người phụ nữ quyết rũ nhất mà tôi biết đã bị treo cổ vì đầu độc ba đứa trẻ để lấy tiền bảo hiểm”, “người đàn ông đáng ghét mà tôi biết lại là một nhà từ thiện đã chi 250.000 bảng cho người nghèo London”. Cảm xúc là nguyên nhân của nhiều quyết định sai lầm, nhiều nhà tâm lý học đã chỉ ra điều đó, ví dụ như Daniel Kahneman trong cuốn sách nổi tiếng của mình, “Thinking, Fast and Slow” (Farrar, Straus and Giroux, 2011).

Ngày nay, Holmes đã trở thành một biểu tượng văn hóa. Ít nhất, vị thám tử này là nhân vật hư cấu đầu tiên được lập bảo tàng: năm 1990, bảo tàng Sherlock Holmes đã được xây dựng ngay tại phố Baker, London với những hiện vật là đồ dùng, trang phục của Holmes phỏng theo mô tả của nhà văn cũng như đạo cụ từ bộ phim truyền hình dài tập “Sherlock Holmes” sản xuất năm 1984. Bảo tàng do Hội những người yêu Sherlock Holmes tại Anh quản lý và điều hành.

Là nhà vô địch trong quan sát và hiện thân của lẽ phải, Holmes dường như vô cùng thích hợp với một thế giới còn bị ảnh hưởng của chủ nghĩa phủ định khoa học và tính đa cảm. “Bạn biết phương pháp của tôi rồi đấy. Hãy áp dụng chúng”, nhà thám tử từng khuyên Watson trong “Truy tìm dấu bộ tứ”. Còn với chúng ta, đã đến lúc làm theo lời khuyên của Holmes.

 

Anh Vũ lược dịch

Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/kham-pha/khoa-hoc-cua-sherlock-holmes/20180504102323875p1c879.htm

 

Albert Einstein và đạo Phật


tuong-Phat-nam

Gần đây có nhiều độc giả thắc mắc về mối liên hệ giữa nhà khoa học thiên tài Albert Einstein (1879-1955) và Đạo Phật như thế nào? Vì họ thấy đây đó có nhiều trích dẫn lời phát biểu của ông về Đạo Phật. Bài viết sau đây sẽ đề cập đến mối liên hệ ấy.

Dù chưa đầy đủ, nhưng hy vọng rằng nó sẽ là mấu chốt để chúng ta phăng tìm những tư liệu chi tiết về sau:

Ông Albert Einstein, sinh ngày 14 tháng 03 năm 1879 tại thành phố Ulm, Đức quốc, trong một gia đình làm nghề thủ công và tiểu thương. Bố là một người giỏi về hóa học và mẹ là người có khiếu về âm nhạc. Năm 1894, gia đình ông di cư sang sống tại Ý. Ông được bố gởi đi học ở Thụy Sĩ và đã tốt nghiệp tiến sĩ triết học tại Đại học Zurich. Sau khi ra trường, ông được mời dạy toán và vật lý tại một trường bách khoa ở Thụy Sĩ, ngoài việc dạy học, ông dành hết thời gian còn lại để nghiên cứu vật lý học và ông còn làm việc tại văn phòng thẩm tra cấp bằng sáng chế ở Berne, Thụy Sĩ. Năm 1905, ông gởi đăng bài “Lý thuyết tương đối hẹp” dài 5 trang trên tờ Physics. Bài báo nhanh chóng được chú ý và nó là tiếng nổ lớn của ngành khoa học về không gian và thời gian, ông đã phá vỡ các khái niệm tuyệt đối về không gian và thời gian của nhà vật lý học và toán học vĩ đại, Issaac Newton (1642-1727). Lập tức tên tuổi của ông được nhiều người biết tới và được xem là một khoa học gia nổi tiếng nhất vào thời điểm ấy.

Năm 1911, Ông là giáo sư vật lý ở Prague. Năm 1913, ông được mời làm giám đốc Học Viện Vật Lý Hoàng Đế Wilhelm tại Berlin. Đến năm 1921, ông được trao giải thưởng Nobel về Vật lý học qua đề án nghiên cứu “Lý Thuyết Tương đối” (The Theory of Relativity). Trong thế chiến thứ nhất (1914-1918), ông từng bị tống giam vì tội “chống chiến tranh và ủng hộ hòa bình”. Sau khi Adolf Hitler (1889-1945) trở thành quốc trưởng của Đức, ông ra sức chống lại chủ nghĩa phát xít và rời bỏ nước Đức sang sống tại Hoa Kỳ.

Từ năm 1933 đến năm 1945, ông là giáo sư toán và lý tại Viện Cao học Princeton ở bang New Jersey. Phát xuất từ lòng căm thù chủ nghĩa phát xít mà ông đã giúp cho Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt (1882-1945) chế tạo bom nguyên tử và cuối cùng bị xem là “cha đẻ” của thứ vũ khí giết người này. Đây cũng là lý do mà về sau năm 1950, ông thành lập Viện Kiểm Soát Nguyên tử Quốc tế tại Hoa Kỳ.

Ba thập niên cuối đời mình, ông dành thời gian để nghiên cứu về “Lý thuyết thống nhất giữa lực hấp dẫn và hiện tượng điện quang” (The Theory of unify gravitation and eletro-magnetism).

Mặc dù bận rộn nghiên cứu và giảng dạy khoa học, nhưng ông Einstein vẫn dành thời gian nhất định để nghiên cứu triết học và tôn giáo, đặc biệt trong đó có Đạo Phật. Theo tài liệu “The World As I See It” (Trần thế khi tôi nhìn thấy nó, nhà xuất bản Philosophical Library, New York, 1949) và quyển “Ideas and Opinions” (Những Ý Kiến và Những Quan Điểm, nhà xuất bản Crown, NY, 1945) là hai tuyển tập những bài báo, bài tham luận về tôn giáo và khoa học mà ông Einstein viết từ đầu những năm ba mươi. Đáng chú ý trong tập này là các bài như “Religion and Science” (Tôn giáo và Khoa học), viết từ 1930; bài “Science, Philosophy & Religion, A Sumposium” (Khoa học, Triết học và Tôn giáo, một buổi hội thảo) viết năm 1941; bài “Religion and Science: Irreconcilable?” (Tôn giáo và Khoa học: không thể hòa giải được sao?) viết vào năm 1948.

Theo các tài liệu trên thì chính A. Einstein tự xem mình là một người thuộc về tôn giáo. Tôn giáo của ông được người ta biết qua lý thuyết khoa học của ông. Ông bác bỏ sự thần thánh hóa trong tôn giáo, ông quan tâm đến đời sống con người ở hiện tại và ngay cả sau khi chết. Trong các buổi hội thảo về triết học và tôn giáo, có lúc ông trích dẫn lời của Chúa, rồi có khi ông dẫn lời trong kinh Phật. Quan điểm của ông về tôn giáo chưa bao giờ có hệ thống và nhất quán. Tuy nhiên, với trí tuệ sắc bén và lòng ngưỡng mộ của ông đối với các tôn giáo đã giúp cho ông hiểu đúng và chính xác về các tôn giáo mà ông để tâm nghiên cứu. Ông vẫn thường nhắc nhở các nhà khoa học nên học hỏi ở các tôn giáo để bổ sung cho những khiếm khuyết của khoa học. Ông nói: “Khoa học mà thiếu tôn giáo là khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng” (Science without religion is lame. Reigion without science is blind).

Cũng theo các tài liệu trên cho thấy, ông đã nghiên cứu Đạo Phật qua các sách báo của các học giả Phật học của người Âu Mỹ viết, đáng kể là triết gia người Đức Schopenhauer Arthur (1788-1860), tiến sĩ người Đức Paul Carus (1852-1919), viện sĩ hàn lâm người Nga Vasily Vasaliyey (1818-1900)… là những nhà Phật học nổi danh ở phương Tây. Nhờ nghiên cứu như vậy mà A. Einstein đã nhìn thấy Đạo Phật như là một triết lý phương Đông cực kỳ sống động và triết lý ấy đã đi vào cuộc đời bằng chân lý thực chứng của mình, ngỏ hầu cắt ngang sự chậm tiến, lạc hậu, mê tín, cuồng tín và kém văn minh của thời đại. Đạo Phật đã đem lại cho con người một cái nhìn mới, một lối sống mới, một sự hài hòa mới, sống với nhau như ánh sáng trong không gian, chan hòa với nhau như nước với sữa. Chính vì thấy rõ cái độc đáo đó mà ông Einstein đã phát biểu về Đạo Phật như sau : “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó” (The religion of the future will be a cosmic religion. It would transcend a person God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sence, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description). Đồng thời, một lần khác ông cũng khẳng định rằng: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học” (If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific finding. Buddhism need no surrender its view to science, becauseit embrances science as well as goes beyond science). (Cả hai câu trên được trích từ Collected famous quotes from Albert Einstein. http://rescomp.stanford.edu/~ cheshire/ Einstein quotes.htm).

Dù những lý thuyết khoa học của ông rất phức tạp và khó hiểu, nhưng tấm lòng nhân đạo và mến chuộng hòa bình của ông đã khiến cho mọi người cảm thấy gần gũi với ông. Ông đã cống hiến tất cả trí tuệ và sức lực của mình đối với sự phát triển khoa học của nhân loại. Ông làm việc không biết mệt mỏi cho đến ngày qua đời. Ông mất vào lúc 1giờ 25 phút rạng sáng ngày 19 tháng 04 năm 1955 tại Princeton, Hoa Kỳ, hưởng thọ 76 tuổi. Ngày nay, đối với mọi tín đồ Phật Giáo trên khắp năm châu đều thành kính khi nhắc đến tên tuổi của ông, người đã từng góp phần khẳng định lại giá trị vĩnh cửu đối với Giáo lý của Đạo Phật.

 

Lê Văn Phước

http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/245/0/3049/Albert_Einstein_va_dao_Phat

 

Tại sao Israel rất thành công trong nghiên cứu quân sự?


Featured Image -- 4516

Trong khi tìm kiếm các nhà khởi nghiệp trẻ cũng như kỹ thuật quân sự đầy sức sáng tạo, quân đội Đức thường dõi theo Hoa Kỳ và Israel. Ở hai quốc gia này, quân đội được coi là lò ấp các start up và là nơi đào tạo các nhân tài chất lượng cao nhất.

“Này, anh kia!”, người lái xe bus đã luống tuổi vung tay đứng chắn lối người khách đi xe. “Không được mang hành lý lên khu vực dành cho hành khách”, ông to tiếng với người thanh niên mặc áo phông, “mời anh đi xuống và để hành lý vào khoang hành lý.” Người lái xe phân bua, đây là quy định về an ninh, không thể lơ tơ mơ được, ông nói. “Ba đồng nghiệp của tôi đã chứng kiến những tên khủng bố trà trộn lên xe của họ. Tôi không muốn chứng kiến cái cảnh đó.”

Tại Israel có quy định, va li và túi xách lớn không được mang lên khoang dành cho hành khách – người ta hy vọng, qua đó có thể giảm thương vong, nếu bom phát nổ ở khu vực để hành lý. Ngay lập tức xuất hiện hai anh lính trẻ, khi người hành khách, có lẽ là du khách, tỏ ra không hiểu điều người lái xe đã nói.

Boaz, 22, và Dalit, 21, tuy không trong thời gian làm nhiệm vụ và đang trên đường về nhà, tỏ ra sẵn sàng giúp một tay, họ nói. “Ở Israel chúng tôi luôn trong tình trạng ít nhiều có lo lắng”, Dalit nói, “chúng tôi luôn phải tính đến điều tồi tệ nhất có thể xẩy ra.” Israel Defence Forces, Lực lượng phòng vệ Israel, viết tắt IDF, có mặt ở khắp mọi nơi trên đất nước nhỏ bé với 8,4 triệu dân. Trên các đường phố ở Tel Avivs và Haifa bất kể ngày hay đêm người ta đều thấy các nhóm thanh niên mặc ka ki đồng phục IDF.

Ở Israel có luật nghĩa vụ quân sự, cả con gái cũng phải đầu quân. Khác với nam giới, các cô gái có quyền từ chối sử dụng vũ khí. Từ nghĩa vụ không mấy dễ chịu này nhưng không ít bạn trẻ coi điều này là một vấn đề đạo đức: họ tình nguyện đăng ký quân sự từ 5 đến 8 năm và tìm mọi cách để được ra nhập đơn vị quân tinh nhuệ lừng danh ở nước này.

Nhất là những người đã từng học đại học về máy tính hay các môn kỹ thuật thì có nhiều cơ may được ra nhập đơn vị 8200 nổi tiếng: nó được coi là bàn đạp để tạo dựng công danh sự nghiệp và là lò ấp cho các startup công nghệ cao. Cho đến cách đây chín năm IDF luôn phủ nhận về sự tồn tại của đơn vị 8200. Ngày nay người ta có thể tìm thấy khá nhiều dấu vết của “cánh 8200“, đó là cái tên  mà các cựu binh ở đây tự gọi mình, và điều này cũng thể hiện trong hồ sơ LinkedIn của nhiều doanh nhân Israel.

 

startup-business-concept

Đơn vị 8200 và các startup công nghệ

Giờ đây khó mà giữ được bí mật về thành công của các lò ấp quân sự: Có thể nói gần như tất cả các hãng công nghệ cao đều do các cựu binh 8200 tạo dựng. Dịch vụ dẫn đường Waze (Google đã mua), người khổng lồ về an ninh IT CheckPoint Software, AudioCodes và ICQ cũng như nhà sản xuất cảm biến MobilEye là những ví dụ nổi bật nhất.

Đơn vị này có khoảng 5000 binh sỹ  –  IDF giữ bí mật về con số chính thức – mỗi năm đơn vị này tạo ra khoảng 100 nhà khởi nghiệp mới về công nghệ cao; có thể nói đơn vị này đơn thương độc mã trở thành điểm nóng về Hightech và startup của thế giới: không nơi nào có số vốn rủi ro tính theo đầu người lớn như ở đất nước này; Israel nhỏ bé nhưng lại có số doanh nghiệp khởi nghiệp tính theo đầu người nhiều nhất thế giới, có số lượng chuyên gia IT vào loại nhiều nhất thế giới trên cơ sở số dân và sau Hoa kỳ và Trung quốc Israel có nhiều doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán công nghệ Hoa kỳ Nasdaq.

Chính xác thì đơn vị 8200 hoạt động như thế nào? Điều gì làm cho các cựu binh 8200 có nhiều thành công về kinh tế? Mọi chuyện bắt đầu từ những năm 1930 khi các tình báo người Do Thái nghe trộm các cuộc điện thoại nói tiếng Ả rập; sau năm 1948 các nhân viên tình báo chủ yếu là các chuyên gia về mật mã. Tương truyền, nội trong một buổi chiều họ đã giải được mật mã của vô tuyến điện Ai cập trong cuộc chiến tranh sáu ngày. Ngày nay đơn vị 8200 chủ yếu sử dụng chuyên gia mạng và Hacker. Họ đã lập trình loại virus Stuxnet khét tiếng, loại virus này năm 2010 đã làm tê liệt phần mềm điều khiển một nhà máy điện hạt nhân của Iran, nhà máy này bị nghi là có khả năng làm giàu Uran để làm vũ khí.

Mạng lưới nhân lực

Ai muốn ra nhập đơn vị 8200 đều phải trải qua một quá trình chọn lọc hết sức kỹ lưỡng và sự chọn lọc bắt đầu từ khi còn học phổ thông trung học. Đặc biệt học sinh có điểm cao ở các môn toán, tin học và vật lý thì được Aman, cơ quan tình báo quân đội, để mắt tới nhiều hơn. “Nhiều người thậm chí còn không biết họ đang trải qua quá trình tuyển lựa“, Svet Cohen, nữ quân nhân dự bị kể. “Cho tới một hôm họ nhận được một cuộc gọi mời tham dự tuyển sinh.”

Bằng cách đó hàng năm IDF chọn ra được những học sinh xuất sắc nhất về toán và Coder-Cracks. Cách làm này không thể thực hiện ở Đức hay Hoa kỳ vì các nước này không có nghĩa vụ quân sự. Những người trải qua cuộc thử thách đầy khó khăn chỉ phải thực hiện một khóa học quân sự cơ bản ngắn hạn và nói chung không tham gia các nhiệm vụ chiến đấu. Thay vào đó các chiến sỹ đặc nhiệm này được giao ngay các nhiệm vụ cụ thể: thí dụ, thâm nhập vào mạng lưới máy tính của các cơ quan chính phủ nước khác. “Họ lập thành các nhóm nhỏ từ 8 đến 10 người, và được giao ngay các nhiệm vụ cụ thể”, Ofer Tziperman nói, ông là đồng sáng lập doanh nghiệp Anagog ở Tel Aviv, chuyên về xử lý dữ liệu địa lý, “các chiến sỹ phải giải quyết các vấn đề, giải quyết như thế nào, cấp trên không quan tâm, điều chủ yếu là phải giải quyết nhiệm vụ một cách nhanh gọn nhất.”

Trong các quân đội khác điều này là không thể: Không một viên tá, không một thượng sỹ nào chỉ thị các kỹ thuật viên trẻ phải làm một cái gì đó. “Với phong cách làm việc này các kỹ thuật viên sớm biết tự chịu trách nhiệm”, Cohen nói. Các cựu binh của đơn vị 8200 mang theo phong cách làm việc này cũng như tri thức kỹ thuật ứng dụng vào cuộc sống nghề nghiệp của họ.

 

Featured Image -- 3494

Công nghệ an ninh

Giải quyết các vấn đề một cách nhanh gọn và tập trung và thực hiện phân cấp theo chiều ngang  – đó là những tính cách mà các startup rất cần phải có, nếu như các startup đó muốn khẳng định được mình trước những phòng, ban nghiên cứu được trang bị tốt, có nhân sự hùng hậu, có nguồn tài chính dồi dào thuộc các tập đoàn công nghệ to lớn. Trước đây, đơn vị 8200 hợp tác nghiên cứu với đồng minh thân thiết nhất là Hoa kỳ để cải tiến các loại vũ khi từ lựu đạn, súng cối cho đến xe tăng và tên lửa. Từ những năm 80 quân đội Israel được coi là dẫn đầu trong cuộc chiến chống lại các cuộc tấn công của bọn Hacker.

Tại Hod HaSharon, một vùng ngoại ô điển hình của Tel Aviv, có trụ sở của Karamba Security với khoảng 40 nhân viên. Hầu như tất cả những người sáng lập các doanh nghiệp hightech của Israel kể cả các cán bộ lãnh đạo của Karamba Security từng có quá khứ binh nghiệp: Chief Scientist Assaf Harel và giám đốc phụ trách nghiên cứu Tal Ben-David cả hai đều từng là cựu binh tinh nhuệ thuộc đơn vị 8200 lừng danh. CEO Ami Dotan trước đây làm việc cho Rafael Defense Systems (RDS). RDS nguyên là dự án thuộc National Research & Development Defense Laboratory, phòng nghiên cứu quan trọng nhất của IDF. Những tri thức và các mối quan hệ mà họ có được khi là quân nhân nay nhiều người đưa vào sử dụng trong hoạt động dân sự. Điều tương tự cũng đang diễn ra đối với Karamba Founder, cơ quan này hiện đặc trách về an toàn ô tô – nói chính xác hơn: về an ninh mạng. Thực ra điện tử và Software trong xe ô tô dân sự bản thân nó hoàn toàn không có gì mới, Barzilai, giám đốc của Karamba giải thích. “Tuy nhiên trước đây xe ô tô là một hệ thống khép kín, quá lắm kiểm tra mỗi năm một lần, khi bộ nhớ có lỗi mới tiếp xúc với một máy tính khác.”

Ngày nay tình hình hoàn toàn khác, và chỉ ít năm nữa xe của chúng ta luôn kết nối với các máy tính khác qua mạng di động Internet. Thí dụ Tesla từ lâu đã xử dụng Over-the-air-Updates để cập nhật cho khách hàng các phiên bản phần mềm mới thông qua Internet GSM, UMTS hay LTE. “Khi ô tô tự lái và hoạt động ở các thành phố thông minh, nó sẽ phát và tiếp nhận thường xuyên một lượng lớn dữ liệu”, Barzilai giải thích.

Khi sự kết nối mạng của ô tô tăng lên thì nguy cơ tấn công mạng sẽ rất lớn. Khi tên hacker đã có măt trong ô tô nó có thể thông qua mạng trong xe gây nhiễu các thiết bị điều khiển như hệ thống phanh, khí ga hay tay lái.

Mặc dù có nhiều doanh nghiệp về an ninh mạng, có nhiều năm kinh nghiệm về lập trình cho các chương trình chống virus, tường lửa và các loại tương tự. “Nhưng các chương trình đó chỉ phát huy tác dụng sau khi xảy ra các vụ tấn công”, Barzilai giải thích. Có nghĩa là dựa vào các cuộc tấn công diễn ra trước đó, theo các khuôn mẫu nhất định trong các mã khóa hoặc các số liệu thống kê. “Nhà sản xuất hứa sẽ giảm tới 99% các vụ tấn công trong khoảng thời gian nhất định. Nhưng điều này đối với một chiếc ô tô đang chạy thật không có ý nghĩa, bởi vì chi cần một giây sau khi xẩy ra sự truy cập không được phép đã có thể xẩy ra một tai nạn chết người”, Barzilai bổ sung.

Vì thế vấn đề mà Karamba đặt ra là vô hiệu hóa ngay từ đầu mọi cuộc tấn công của bọn Hacker. “Chúng tôi sẽ là những người lập trình hệ thống điều khiển trên ô tô, mọi sự thay đổi đối với thiết bị điều khiển chỉ có thể diễn ra với sự đồng ý của nhà sản xuất chiếc xe đó. Mọi sự can thiệp khác sẽ bị chặn đứng ngay tức khắc”, nhà khoa học trưởng Harel giải thích.

Ý tưởng về dự án an ninh Karamba nảy sinh ở các nhà khởi nghiệp khi họ xây dựng tường lửa để chống lại các cuộc tấn công của bọn hacker thù nghịch. “Khi người ta từng tham gia xúc tiến mươi, mười hai dự án loại này, thì thường có một dự án trong số đó sau này trở thành start-up để sử dụng trong đời sống dân sinh”, Barzilai nói.

 

Featured Image -- 4238

Công nghệ quang-điện tử

Tại đơn vị mang số hiệu 81 Rosenzweig làm việc về các hệ thống quang-điện tử. Đơn vị 81 trong 8200 có chức năng như một tàu ngầm, khác với 8200, đơn vị 81 hầu như không được đề cập tới trong các website của hãng hoặc trong hồ sơ LinkedIn; Wikipedia chỉ đề cập dúng hai dòng về đơn vị 81 này. IDF về cơ bản không có phản ứng gì trước những câu hỏi liên quan đến đơn vị này.

Nhưng đơn vị đó có tồn tại: Rosenzweig và ba người đồng sáng lập từng làm việc ở đơn vị này về MEMS – Microsystem quang – điện tử. Công nghệ này được ứng dụng thí dụ đối với các loại vũ khí có điều khiển, thiết bị nhìn ban đêm hoặc dùng cho máy bay do thám. Không lâu nữa nó cũng sẽ được sử dụng trong ô tô tự điều khiển. Sau một số năm ở Mỹ, Rosenzweig đã thành lập ở Kfar Saba phía bắc Tel Aviv doanh nghiệp Innoviz, chuyên về Lidar. Công nghệ này làm cho chùm tia laser có thể nhìn thấy hình bóng trong đêm tối hoặc khi trời đầy sương mù, công nghệ này là chìa khóa cho xe tự lái.

Không chỉ kiến thức về chuyên môn mà cả thái độ trong công tác mà các cựu binh hấp thụ được ở đơn vị 81 đều có tác dụng tốt đối với các nhà sáng lập Innoviz trong hoạt động kinh doanh hiện nay. Họ chỉ mất một năm để phát triển và hoàn thiện hệ thống Lidar để cung cấp cho các nhà chế tạo ô tô, ông Rosenzweig kể đầy tự hào, và: “doanh nghiệp đứng đầu thị trường Velodyne ở San José thuộc California đã mất gần bảy năm để hoàn thành công việc này”.

Rosenzweig nói “IDF khác với quân đội Liên bang Đức hay quân đội Pháp, nó na ná như mạng lưới cựu sinh viên tốt nghiệp các trường đại học ưu tú của Hoa kỳ. Các cựu sinh viên duy trì cả đời mối quan hệ khăng khít với nhau; họ giới thiệu cho nhau các nhà đầu tư cũng như khách hàng tiềm năng, họ trao đổi với nhau về các vấn đề công nghệ.” Rosenzweig từng sống mười năm ở Silicon Valley và biết khá rõ về những nét tương đồng. “Nhưng Tel Aviv nhỏ bé hơn, các mối quan hệ giữa các cựu binh IDF chặt chẽ, khăng khít hơn“, ông nói. Ông quen biết cả ba nhà đồng sáng lập từ thời là quân nhân; họ cùng lứa tuổi với nhau và ở cùng một đơn vị. “Và chúng tôi quen biết cả hai chục nhân viên đầu tiên của doanh nghiệp cũng từ cái lò IDF.”

 

 Hoài Trang tổng hợp

Nguồn: https://www.wiwo.de/technologie/forschung/in-staendiger-alarmbereitschaft-warum-die-militaerforschung-in-israel-so-erfolgreich-ist/22797116.html

 

http://tiasang.com.vn/-doi-moi-sang-tao/Tai-sao-Israel-rat-thanh-cong-trong-nghien-cuu-quan-su-12598

 

 

ĐỪNG CHẾT TRÊN ĐƯỜNG TÌM KIẾM ĐAM MÊ


offtime.co

 

Mặt đối mặt với nhà tuyển dụng, vượt qua 80% cuộc phỏng vấn, bạn cũng phần nào nhẹ nhõm. Nhưng cơn ác mộng chưa dừng lại…

“Đam mê  của bạn là gì?”

“Bạn hứng thú với ngành học/công việc gì?”

Áp lực phải lục lại toàn bộ quá khứ bản thân, tạo mối liên hệ giữa sở thích, kinh nghiệm và ngành học của bạn  trong 5 giây không phải là điều dễ dàng. Bạn run rẩy, cố gắng bịa ra một thứ mà có khi trước cuộc phỏng vấn này bạn còn không biết là mình đam mê.

Sự lo lắng và quan ngại ấy chưa kết thúc kể cả khi cuộc phỏng vấn đã kết thúc nhất là đối với những sinh viên sắp ra trường. Bạn tra tấn bản thân mỗi ngày: “ Mình thực sự thích gì? Mình thực sự  đam mê cái gì? Tốt nghiệp rồi sẽ làm gì đây?”. Và chỉ nghĩ đến điều đó thôi đã khiến bạn lo sợ: nó chẳng khác gì đăng kí tín chỉ cho cả cuộc đời mình vậy.

BẠN KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI DUY NHẤT

Một điều an ủi nho nhỏ là: Bạn không phải là người duy nhất đang vật lộn với nỗi đau này. Đến 80% sinh viên, thậm chí là những người đã có công việc ổn định đều thừa nhận mình vẫn chưa biết ĐAM MÊ thực sự của bản thân là gì. Vậy ĐAM MÊ nó mặt mũi hình hài ra sao? Tại sao ai cũng “mải mê” đi tìm nó như thế?

Xã hội ngày nay có một quan niệm sai lầm về ĐAM MÊ và thành công trong cuộc sống. Đó là ai cũng có một và chỉ một ĐAM MÊ và cả cuộc đời việc duy nhất bạn phải làm là đi tìm nó. Khi ấy, mọi thứ khác sẽ tự nhiên rơi vào đúng chỗ của nó. Và nếu không tìm được, bạn có thể sẽ trở thành kẻ thất bại suốt đời và cuộc đời bạn chẳng còn ý nghĩa. Đó chính là lý do tại sao chúng ta luôn lo sợ là mình sẽ lựa chọn sai và bỏ lỡ cơ hội tìm thấy ĐAM MÊ thực sự của chính mình. Điều buồn cười là, trước khi nó đến, bạn cố gắng “mở” nhất có thể với tất cả các lựa chọn, trì hoãn mọi quyết định, và đắn đo mọi thứ  đi ngang qua.

ĐAM MÊ ĐƠN GIẢN CHỈ LÀ MỘT LOẠI CẢM XÚC

Chúng ta cần một sự phân biệt rạch ròi giữa ĐAM MÊ và công việc, một môn thể thao hay một sở thích. ĐAM MÊ không phải là bất kì cái gì trong những điều trên. ĐAM MÊ là một loại cảm xúc: sự thích thú, cảm giác toàn bộ sự tập trung và chú ý của mình được dồn vào một điểm nào đó/một ai đó. Đúng vậy, ĐAM MÊ chẳng khác gì tình yêu. Mà tình yêu thì có thể thay đổi thì ĐAM MÊ cũng thế. (Trừ khi bạn thực sự tin mỗi người chỉ có duy nhất nửa kia của cuộc đời mình)

Khi Terri Trespicio – chuyên gia về Tư vấn Thương Hiệu cho các Nhà khởi nghiệp, mới ra trường,  mẹ bà vẫn thường nói: “Hãy chấp nhận bừa một công việc đi. Cuộc đời con sẽ không vì công việc ấy mà bế tắc đâu. Vì hiện tại con đã đang bế tắc rồi. Con không cần tìm ĐAM MÊ và rồi mới sống cuộc đời của mình. Mà con tự tạo ra ĐAM MÊ bằng cách sống và trải nghiệm. Vậy nên đừng quá đắn đo mà bỏ lỡ tất cả các cơ hội đến với mình.”

Mẹ bà nói đúng, mẹ bà luôn đúng. Vậy là bà đăng kí đi làm trợ lý cho một công ty Tư vấn toàn thời gian – một công việc mà bà không biết một chút gì về nó.  Trừ việc bà biết mình có một lý do để thức dậy vào mỗi sáng, chải chuốt, ra khỏi nhà, và có người cần đến bà, chờ bà đến ở công ty. Chính là cái cảm giác mình đang có ích, giúp được một ai đó và được trả lương vào mỗi cuối tháng khiến bà tập trung toàn bộ sự chú ý và năng lượng của mình vào công việc. Liệu đó có phải là ĐAM MÊ?

Thay vì ngồi chờ đợi ĐAM MÊ xuất hiện, hãy dành thời gian và sự tập trung của mình để giải quyết những vấn đề “yêu thích”, tìm những thứ cần được giải quyết, trở nên có ích và hào phóng. Rồi mọi người sẽ cảm ơn bạn, ôm bạn và trả cho bạn vì những điều bạn làm. Đó chính là ĐAM MÊ: khi mọi sự cố gắng và nỗ lực của bạn giúp được một ai đó và đóng góp vào một thứ lớn hơn cả bản thân mình.

Nguồn:  Stop searching for your passion | Terri Trespicio | TEDxKC

 

Thm khao: https://aiesec.vn/

Chuyện đời của một kỹ sư phần mềm Ấn Độ – Cuộc sống chỉ có vậy thôi sao?


Dragging your office to the office?

Thực hiện giấc mơ của hầu hết các bậc phụ huynh tại Ấn Độ, tôi đã tốt nghiệp đại học với mảnh bằng kỹ sư máy tính và xin được vào làm việc tại một công ty phần mềm có trụ sở tại Mỹ, mảnh đất của những con người dũng cảm và có rất nhiều cơ hội. Khi tôi đặt chân lên đất Mỹ, đó cũng là lúc giấc mơ trở thành sự thật.

Cuối cùng thì tôi cũng đã đến được nơi mà mình muốn. Tôi quyết định là mình sẽ làm việc ở Mỹ trong vòng khoảng 5 năm, và trong thời gian đó tôi sẽ kiếm đủ tiền để quay trở về sống tại quê nhà Ấn Độ.

FatherAndSon

Nhưng một câu hỏi luôn dằn vặt tôi mỗi đêm là “Tất cả cuộc sống chỉ có vậy thôi sao?

Bố tôi là một công chức nhà nước và sau khi ông nghỉ hưu, tài sản duy nhất ông có thể kiếm được là một căn hộ khá tốt với chỉ một phòng ngủ.

Tôi muốn làm một điều gì đó nhiều hơn ông. Sau một thời gian, tôi bắt đầu cảm thấy rất nhớ nhà và cảm thấy cô đơn. Tôi thường gọi điện về nhà để trò chuyện với bố mẹ tôi mỗi tuần bằng cách sử dụng các thẻ điện thoại gọi quốc tế giá rẻ. Hai năm trôi qua, cũng là 2 năm tôi luôn phải gặm bánh Burger tại các cửa hàng McDonald’s hoặc bánh pizza và nghe nhạc disco, và trong 2 năm đó tôi thường xuyên theo dõi tỷ giá tiền tệ và thường cảm thấy hạnh phúc khi thấy trị giá đồng Rupee (đồng tiền của Ấn Độ) giảm xuống so với đồng đô-la. (Vì điều này khiến những đồng đô-la mà tôi tích cóp sẽ có giá trị hơn khi tôi quay về Ấn Độ.)

Cuối cùng tôi quyết định mình nên lập gia đình. Tôi nói với cha mẹ mình rằng tôi chỉ có 10 ngày trong dịp nghỉ phép và mọi thứ phải hoàn thành nội trong vòng 10 ngày ngắn ngủi đó. Tôi đặt vé máy bay trên một chuyến bay thuộc loại giá rẻ nhất. Vui mừng và thực sự thích thú là những cảm xúc đan xen khi tôi nghĩ đến việc quay về gặp lại gia đình và các bạn bè của mình. Tôi băn khoăn liệu mình có bỏ sót bất kỳ ai mà tôi nên gặp lại và nói chuyện hay không. Sau khi về đến nhà, tôi dành ra một tuần để xem một lượt các bức hình của tất cả các cô gái mà bố mẹ tôi đã nhờ người mai mối, và khi thời gian còn lại rất ít thì tôi đã lựa chọn được cho mình một “ứng cử viên” để làm vợ.

Ông bà sui gia vô cùng sửng sốt khi tôi nói với họ rằng đám cưới sẽ phải tổ chức nội trong vòng từ 2 đến 3 ngày, vì tôi sẽ không có thêm kỳ nghỉ nào nữa. Sau khi tổ chức lễ cưới xong, đó là thời điểm để quay trở lại Mỹ, sau khi đưa một số tiền cho bố mẹ tôi, và nhờ những người hàng xóm chăm sóc họ, vợ chồng tôi lên đường quay trở lại Mỹ.

Khoảng hai tháng đầu, vợ tôi cũng thấy thích thú với lối sống ở Mỹ, sau đó cô ấy bắt đầu cảm thấy cô đơn. Số lần gọi điện về Ấn Độ của cô ấy tăng dần từ 2 lần/tuần lên 3 lần/tuần. Số tiền chúng tôi dành dụm được bắt đầu vơi dần. Hai năm sau đó thì chúng tôi bắt đầu có con. Hai đứa bé rất dễ thương, một trai và một gái, đó là món quà mà ơn trên đã ban tặng cho chúng tôi. Mỗi lần mà tôi gọi điện về nói chuyện với bố mẹ mình, họ thường hỏi tôi khi nào thì quay về Ấn Độ để ông bà có thể nhìn thấy mặt các cháu của mình.

Năm nào tôi cũng suy nghĩ đắn đo để có thể thu xếp một chuyến quay về thăm Ấn Độ. Nhưng một phần vì lý do công việc, một phần khác vì lý do về điều kiện tài chính đã không cho phép chúng tôi làm điều đó. Nhiều năm trôi qua, việc quay về thăm Ấn Độ là một giấc mộng quá xa vời. Rồi một ngày kia tôi đột ngột nhận được tin rằng cha mẹ tôi đang bị bệnh rất nặng. Tôi đã cố gắng hết sức nhưng không thể có được kỳ nghỉ phép nào để có thể quay về Ấn Độ. Tin tiếp theo mà tôi nhận được là cha mẹ tôi đã qua đời và không có một ai thân thích để thực hiện những nghi lễ cuối cùng đưa ông bà về nơi chín suối. Tôi đã hoàn toàn suy sụp. Bố mẹ tôi đã qua đời mà thậm chí họ còn chưa được gặp mặt những đứa cháu của mình.

Sau đó một vài năm, mặc dù hai đứa con tôi không thích nhưng tôi và vợ vẫn quyết định quay trở về Ấn Độ để sinh sống. Tôi bắt đầu tìm kiếm để mua một ngôi nhà phù hợp với số tiền mà mình có, nhưng tôi đã thực sự choáng váng vì số tiền mà mình dành dụm được thì quá ít mà giá nhà đất ở Ấn Độ thì đã tăng một cách chóng mặt trong những năm vừa qua. Vì vậy tôi đành phải quay trở lại Mỹ.

Vợ tôi từ chối quay lại Mỹ cùng với tôi, còn 2 đứa con lại không muốn ở lại Ấn Độ. Vì vậy tôi cùng 2 con quay lại Mỹ cùng lời hứa với vợ mình là tôi sẽ quay về Ấn Độ sau 2 năm nữa khi tình hình kinh tế khá hơn.

Thời gian dần trôi qua, con gái tôi quyết định kết hôn với một người đàn ông Mỹ, và con trai tôi cũng cảm thấy hạnh phúc khi sống tại đây. Tôi quyết định rằng mọi thứ đã ổn và không còn vương vấn điều gì, vì vậy tôi sẽ quay về Ấn Độ. Tôi cũng vừa tiết kiệm đủ tiền để có thể mua một căn hộ có 2 phòng ngủ khá tốt ở một khu vực mới xây dựng của địa phương.

Bây giờ tôi đã 60 tuổi và chỉ dành thời gian ra khỏi căn hộ để đi loanh quanh viếng thăm những thánh đường Hồi giáo gần nhà. Người vợ thủy chung của tôi cũng đã rời bỏ tôi để đi về nơi chín suối.

Thỉnh thoảng tôi cũng tự hỏi mình rằng, liệu đây là tất cả những gì tôi có ư? Bố tôi, thậm chí chỉ sống tại Ấn Độ cũng đã có căn hộ của riêng ông, và tôi cũng không có gì hơn vậy.

Thật cay đắng, tôi nhận ra mình đã mất cả bố mẹ và hai đứa con để đổi lấy THÊM MỘT PHÒNG NGỦ.

Nhìn ra ngoài từ cửa sổ, tôi nhìn thấy rất nhiều trẻ em đang nhảy các điệu nhảy hip-hop theo những hình ảnh trên truyền hình. Cái TV truyền hình cáp chết tiệt đó đã đầu độc thế hệ trẻ của chúng ta và tạo ra một lũ trẻ đánh mất cả giá trị của chúng và bản sắc văn hóa dân tộc. Thỉnh thoảng tôi cũng nhận được thư từ 2 đứa con để hỏi thăm về sức khỏe của cha mình. Vâng, điều an ủi lớn nhất là ít ra chúng vẫn nhớ còn có tôi tồn tại trên cõi đời này.

Bây giờ có lẽ sau khi tôi chết đi, tôi sẽ lại phải nhờ những người hàng xóm thực hiện những nghi lễ rửa tội cuối cùng dành cho mình, Chúa sẽ phù hộ cho họ. Nhưng một câu hỏi luôn dằn vặt tôi mỗi đêm là “Tất cả cuộc sống chỉ có vậy thôi sao?

Tôi vẫn đang tìm kiếm cho mình câu trả lời… !!!

 

Ký tên:

Một lập trình viên Ấn Độ đã từng sống tại Mỹ.

 

Bài viết được dịch từ Sulekha.com