Tập Thiền mọi lúc, mọi nơi, không phải lúc nào Thiền cũng phải tĩnh, hãy tập và cảm nhận.


6 kỹ thuật độc đáo giúp bạn hành thiền mà không cần ngồi yên một chỗ

Đây chắc chắn là giải pháp sáng tạo và hữu hiệu nhất dành cho những người đam mê tập hành thiền nhưng không có đủ thời gian.

Một trong những thách thức lớn nhất của những người tập thiền, đó là làm sao để luyện tập đều đặn mỗi ngày. Hầu hết, cuộc sống của mọi người đều rất bận rộn, đến thời gian tắm rửa còn chẳng có, nói gì đến việc ngồi một chỗ yên tĩnh để hành thiền.

Tuy nhiên, tập thiền trong những ngày bận rộn không phải điều gì đó quá bất khả thi. Bạn hoàn toàn có thể kết hợp thiền định vào trong những hoạt động thường ngày của mình. Hãy thử làm theo các bước dưới đây trong 1 tuần, bạn sẽ thấy mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn.

Bạn phải làm gì?

Đồng hồ đếm giờ tắt không có nghĩa là bạn ngừng việc tập thiền. Thông thường, khi bạn tập thiền xong, chỉ mất vài phút là bạn lại cảm thấy căng thẳng và bế tắc, như thể mọi lợi ích khi tập thiền đều bị xóa sạch. Thực ra, bạn không nên coi thiền định là một khoảng thời gian nghỉ ngơi tạm thời, mà là một quá trình chuyển đổi để làm phong phú thêm cho cuộc sống của chính bạn và những người xung quanh. Bạn cần phải kết hợp thói quen tập thiền vào trong những hoạt động thường ngày của mình.

6 kỹ thuật kết hợp thiền vào cuộc sống thường ngày

Bằng cách chia nhỏ thời gian tập thiền trong ngày, bạn có thể duy trì được lợi ích của thiền trong suốt cả ngày. Bằng cách áp dụng một vài kỹ thuật dưới đây, bạn sẽ dễ dàng kết hợp thiền định vào trong sinh hoạt thường ngày của mình để bình tĩnh và tập trung hơn.

Hãy hành thiền ở nhiều môi trường đa dạng khác nhau vì điều này giúp bạn kiểm soát được tâm trí mình. Bạn sẽ không bị ảnh hưởng bởi những dòng cảm xúc bất chợt và tập trung tốt hơn vào những điều mình định làm.

Thiền khi làm việc nhà

 Bất cứ công việc nhà mang tính chất lặp đi lặp lại cũng có thể biến thành bài tập thiền nếu bổ sung thêm yếu tố tập trung. Bạn có thể đếm nhịp thở của mình trong khi dọn tủ, gấp quần áo, lau cửa sổ,… Bất cứ việc nhà nào không cần phải suy nghĩ để đưa ra quyết định đều rất phù hợp cho việc thiền.

Thiền khi đi lại

Khi đi bộ, hay liên kết từng nhịp thở với từng bước chân. Phương pháp thiền đi này đã từng được thiền sư Thích Nhất Hạnh giới thiệu, trong đó người tập sẽ hít vào thở ra theo từng bước chân. Kỹ thuật thiền khi đi bộ này mang lại lợi ích rất hiệu quả. Nếu bạn không có đủ thời gian hay địa điểm phù hợp để đi bộ, bạn có thể tập khi đi trong hành lang, đi đến bãi đỗ xe, hoặc trong cửa hàng. Hãy nhớ cứ 2-3 nhịp lại thở đều 1 lần.

Thiền khi tập thể dục

Biến việc tập thể dục thành bài tập thiền bằng cách dồn năng lượng tinh thần của bạn vào cơ thể. Tưởng tượng lực đẩy và lực kéo trong từng cơ bắp của bạn. Cảm nhận cách cơ thể dần dần điều chỉnh theo từng chuyển động. Bạn sẽ cảm thấy ngạc nhiên trước trạng thái cân bằng mà mình đạt được. Để tăng cường hiệu quả, bạn có thể thử những bài tập mang thiên hướng tập trung vào hơi thở như thái cực quyền hay yoga.

Thiền bằng cách thở 2 nhịp

Chỉ cần thở 2 nhịp đơn giản là đủ đưa bạn vào trạng thái thiền vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày. Hãy hít ra thở vào thật sâu, khoảng 2 nhịp, trước khi gọi điện, trả lời email, hay khởi động xe. Đây là một kỹ thuật rất hay để kết hợp thiền vào trong cuộc sống hàng ngày, nhất là khi bạn cảm thấy bận rộn, căng thẳng và cần tới nó nhất.

Thiền bằng âm thanh

Hãy chọn một loại âm thanh đặc biệt và hít vào thở ra 2 lần mỗi khi bạn nghe thấy âm thanh ấy. Bình thường, các vị thiền sư thường thực hiện kỹ thuật này mỗi khi nghe thấy tiếng gió hoặc tiếng chuông chùa. Hãy lựa chọn cho mình một âm thanh mà bạn thường nghe thấy xung quanh mình. Chẳng hạn, bạn có thể để cho đầu óc thư giãn trong 5 giây bất cứ khi nào nghe thấy tiếng điện thoại của ai đó.

Thiền khi di chuyển, thay đổi môi trường

Bạn có thể tập thiền ngay cả khi đang di chuyển hay thay đổi môi trường. Ví dụ, việc di chuyển từ nhà đến công ty mỗi sáng cũng chính là một cách chuyển đổi từ trạng thái cá nhân sang trạng thái làm việc chuyên nghiệp. Ăn trưa cũng là một hoạt động chuyển đổi môi trường. Thông thường, các thiền sư sẽ dừng lại một lúc mỗi khi bước qua ngưỡng cửa hoặc đi từ phòng này sang phòng khác.

Hãy chọn ra một vài hoàn cảnh mà bạn phải thay đổi môi trường trong cuộc sống hàng ngày (ngồi vào xe hơi, đi bộ đến chỗ làm, mở cửa trước), sau đó dừng lại để thiền nhanh trong 5 giây trước khi bước vào môi trường mới. Thậm chí, việc mở một chương trình máy tính hay kiểm tra email cũng được coi là một thời cơ tốt để thiền.

Chú ý:

Bạn không nên thay thế việc hành thiền hàng ngày bằng những kỹ thuật này. Việc ngồi yên và tập trung trong khi thiền vẫn rất quan trọng. Bạn chỉ nên áp dụng các kỹ thuật trên trong cuộc sống hàng ngày để bổ trợ và làm tăng hiệu quả cho thói quen tập thiền chính.

Ban đầu, hãy lựa chọn những phương pháp mà bạn có thể tự làm khi ở một mình. Bạn sẽ khó mà tập thở 2 nhịp khi đang nói chuyện với người khác, hay bị người khác nhìn chằm chằm chằm. Bạn có thể tập thiền tại một nơi riêng tư như xe hơi. Khi đang dùng máy tính hoặc khi đang giặt quần áo cũng là thời điểm thích hợp để tập thiền.

Ngọc Hà

Theo Trí thức trẻ/Verywellmind

Bài viết liên quan đến việc tập Thiền:

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/2015/12/16/steve-jobs-thien/

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/2019/01/23/tap-thien-chay-bo/

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/tag/giai-ma-nhung-bi-mat-cua-thien-dinh/

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/2018/10/22/nhan-ngay-phu-nu-viet-nam-20-10-2018-dang-bai-phong-van-chi-tran-lan-huong/

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/2018/06/20/30-cau-noi-bat-hu-cua-thien-su-thich-nhat-hanh/

Mỗi hơi thở, mỗi bước đi của chúng ta có thể lấp đầy bởi bình an, hạnh phúc và sự thanh thản.

4 GIẢI MARATHON THÂN THIỆN VỚI MÔI TRƯỜNG


Chạy bộ là hình thức di chuyển cực kỳ thân thiện với môi trường, tuy nhiên không phải giải chạy nào cũng đặt vấn đề bảo vệ môi trường làm ưu tiên. Chúng ta hãy cùng xem các giải chạy “nhà người ta” đã có những sáng kiến nào để trở nên “xanh” hơn nhé 🌳🌳🌳

#1 – SHELBY FARMS GREENLINE HALF MARATHON

Shelby Farms

#2 – PORTLAND MARATHON

Portland marathon

#3 – HARTFORD MARATHON

Hartford marathon

#4 – AUSTIN MARATHON

Austin marathon

Nguồn: Earth911.com
Biên tập bởi: The Running Hub

View original post

Bốn tâm vô lượng


Chúng ta thường nghe quen tai và nói quen miệng bốn tiếng “từ bi hỷ xả”. Nhưng chính vì “quen” quá mà chúng ta không để ý phân tách ý nghĩa sâu xa của nó. Bốn đức tánh ấy có một sự tương quan mật thiết và bổ túc cho nhau, thiếu một không được.

Ðứng về phương diện tuyệt đối, hay chơn như môn, thì tâm của chúng sinh hay tâm của Phật cũng vẫn là một, không có rộng hẹp, thấp cao, sai khác, ngăn cách. 

Nhưng đứng về phương diện tương đối hay sinh diệt môn, thì tâm có muôn hình vạn trạng, tùy theo chủng tánh của chúng sinh mà có cao thấp, rộng hẹp không đồng. Hễ nghĩ đến tham, sân, si, mạn v.v… thì tâm trở thành nhỏ hẹp, lớn bé, ngàn sai, muôn khác,cũng như cùng một thứ bột mà do người thợ làm bánh, khéo hay vụng mà có bánh ngon, bánh dở, bánh tốt, bánh xấu, bánh lạt, bánh mặn v.v…

Cho nên Tôn Cảnh Lục có chép: ” Tâm tạo chư Phật, tâm tạo chúng sinh, tâm tạo thiên đường, tâm tạo địa ngục. Tâm vọng động thì ngàn sự sai biệt tranh khởi, tâm bình thì thế giới thản nhiên, tâm phàm thì ba món độc trói buộc, tâm thánh thì sáu món thần thông tự tại, tâm không thì nhứt đạo thanh tịnh, tâm hữu thì vạn cảnh tung hoành. Tự mình đạp mây mà uống nước cam lồ, chẳng có ai cho mình. Nằm trong lửa hừng mà uống máu mủ cũng tự mình gây nê, không phải trời sanh ra, cũng không phải do đất mà có “. 

Xem thế thì cũng đủ biết tâm là động lực chính để làm cho ta sướng hay khổ, vui hay buồn, trầm luân hay giải thoát. Vậy muốn thoát khỏi khổ sanh tử luân hồi, muốn được quả vị thánh nhân, Bồ Tát, chúng ta cần trau dồi cho được một tâm vô cùng rộng lớn, một vô lượng tâm.

I. Ðịnh nghĩa 

Vô lượng là gì?
Vô lượng nghĩa là nhiều, rộng lớn, không thể lường tính được. Tâm vô lượng là tâm vô cùng rộng lớn thoát ra khỏi sự ràng buộc của các thứ phiền não đê hèn của phàm phu, phá vỡ được các thứ quan niệm chấp trước hẹp hòi của Nhị thừa, là tâm có một vùng thương yêu rộng lớn có thể bao trùm đến vô lượng chúng sinh, và tìm phương cứu cho tất cả.

Vô lượng tâm cũng có nghĩa là “Ðẳng tâm”, cái tâm bình đẳng, phổ biến; bình đẳng, vì tâm này chỉ tự nhiên, không phân biệt so đo thấp cao, hơn kém; phổ biến, bởi nó trang trải mọi nơi chẳng khu biệt, giới hạn. Và dĩ nhiên, nhân nào quả nấy: do thi hành bình đẳng, phổ lợi cho vô lượng chúng sinh, nên chi tâm này có công năng dẫn sinh vô lượng phước đức, làm cho sự kiện căn bản để cảm thành vô lượng quả báo tốt đẹp, ấy là quả vị Bồ tát và Phật đà.

Hơn nữa, tâm này không những làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh, dẫn sinh vô lượng phước đức, và tạo thành vô lượng quả vị tốt đẹp trong một thế giới và trong một đời, mà còn lan rộng ra đến vô lượng thế giới trong vô lượng kiếp sau này, và tạo thành vô lượng chư Phật. Tóm lại, chữ vô lượng ở đây hàm nhiều nghĩa, vô lượng nhân lành, vô lượng quả đẹp, vô lượng chúng sinh, vô lượng thế giới, vô lượng đời kiếp, vô lượng chư Phật và Bồ Tát. 

II. Thành phần và hành tướng của bốn món tâm vô lượng  

Tâm vô lượng gồm có bốn phần là: bi vô lượng, từ vô lượng, hỷ vô lượng và xả vô lượng.

1. Bi vô lượng.

Bi là lòng thường xót rộng lớn trước những nỗi đau khổ của chúng sinh và quyết tâm làm cho dứt trừ những đau khổ ấy. Nhưng chúng ta đã học trong khóa thứ ba nói về Tứ đế, cái khổ của chúng sinh thật là mênh mông, rộng lớn không thể nói hết. Nó bao trùm cả nhân lẫn quả, cả thời gian lẫn không gian, cả phàm lẫn thánh, thật đúng là vô lượng khổ. 

Khổ nằm trong nhân. Trong các kinh điển thường có câu: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả”. Chúng sinh vì không sáng suốt cho nên chỉ khi nào quả khổ hiện ra mới lo sợ, chứ trong khi đang gây nhân thì lại không nhận thấy, mà vẫn cứ thản nhiên như không. Họ đang sống trong cảnh khổ mà họ không biết, nhiều khi lại là cho vui.

Họ hoan hô tán thán và khuyến khích nhau gây khổ mà cứ tưởng là vui, như những đứa trẻ quẹt diêm quăng lên mái nhà lá, rồi vỗ tay reo mừng với nhau. Vì thiếu sáng suốt cho nên đôi khi họ gây khổ để cứu khổ, chẳng khác gì làm cho đỡ khát bằng cách uống nước mặn. 

Khổ nằm trong quả. Ðã gây nhân xấu, thì tất phải chịu quả khổ, đó là lẽ tất nhiên. Có ai trồng khoai mà được đậu bao giờ? Thế mà người đời ít ai chịu công nhận như thế. Người ta oán trời trách đất, rên khóc thảm thiết, làm cho cõi đời đã đen tối lại càng đen tối thêm, cuộc sống đã khổ sở lại càng khổ sở thêm. 

Khổ sở bao trùm cả thời gian. Từ vô thỉ đến nay, cái khổ chưa bao giờ dứt, mà cứ chồng thêm lên mãi. Nó gây nhân rồi lại kết quả, kết quả rồi lại gây nhân, cứ thế tiếp tục mãi trong một vòng luẩn quẩn, như bánh xe lăn tròn trên đường thiên lý, không bao giờ dừng nghỉ. 

Khổ bao trùm cả không gian. Cái khổ không có phương sở và quốc độ; ở đâu có vô minh thì ở đó có khổ! Mà vô minh thì như một tấm màn vô tận, bao trùm không chỉ một thế giới khác nữa. Khoảng không gian mênh mông vô tận như thế nào, thì nỗi khổ đau cũng mênh mông vô tận như thế ấy.

Khổ chi phối cả phàm lẫn thánh. Chúng sinh ở địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đã đành là khổ vô cùng, loài người vì say đắm dục lạc, và tham sân si chi phối, nên cũng quay cuồng lặn hụp trong biển khổ; còn chư thiên mặc dù không khổ như người, nhưng cũng không tránh được cái khổ vì ngũ suy tướng hiện. 

Cho đến các hàng thánh như Thanh Văn, Duyên giác, vì còn mê pháp, trụ trước Niết Bàn, nên cũng không tránh khỏi nỗi khổ biến dịch sanh tử. Xem thế đủ biết nõi khổ thật là lớn lao vô lượng. Có được một lòng thương xót lớn lao vô lượng cân xứng với nỗi đau khổ vô lượng và có một chi nguyện cứu độ tất cả thoát khỏi nỗi đau khổ vô lượng, ấy là tâm Bi vô lượng. 

Các vị Bồ Tát nhờ có lòng đại bi nên đã phát tâm bồ đề rộng lớn, thệ nguyện độ khắp tất cả. Các Ngài nhận thấy mình có sứ mạng vào trong sanh tử để hóa độ chúng sinh, nên không chấp trệ ở Niết Bàn. Sứ mạng chính của các Ngài là gần gũi chúng sanh để: 

Làm cho chúng sanh nhận được mặt thật của cõi đời, rõ thế nào là tà là chánh, là khổ là vui. 

Làm cho chúng sanh nhận rõ được thân phận của mình mà thôi làm các điều ác, chừa các điều tội lỗi.

Xem như thế đủ biết lòng đại bi chính là động lực chánh để đi đến quả vi Bồ tát và Phật. Trong đại hội Hoa Nghiêm đức Bồ tát Phổ Hiền cũng tự nhận và nói như thế này: “Nhơn vì chúng sanh mà khởi lòng đại bi. Nhơn lòng đại bi mà phát tâm bồ đề. Nhơn phát tâm bồ đề tiến thành ngôi chánh giác”. 

Câu nói của Ngài Phổ Hiền đã rõ ràng, không còn nghi ngờ gì nữa. Phật đã dạy: “Hạt giống Bồ đề, không thể gieo trên hư không, chỉ trồng trên đất chúng sinh mà thôi”. Vậy, chúng ta là Phật tử, muốn tu bồ tát hạnh, tất phải mở rộng lòng Bi, thương xót tất cả, không phân chia nhân, ngã, bỉ, thử, và phải phát nguyện độ khắp tất cả, nghĩa là phải tu luyện cho có được một lòng Bi vô lượng.

2. Từ vô lượng.

Từ là mến thương và vì mến thương mà gây tạo cái vui cho người. Từ vô lượng là lòng mến thương vô cùng rộng lớn, đối với toàn thể chúng sanh, và gây tạo cho chúng sanh cái vui chân thật. 

Vui của thế gian sở dĩ gọi là giả tạm, vì cái vui ấy không bền, cái vui ấy còn phiền não chi phối: khi tham, sân, si, mạn được thỏa mãn thì vui, nhưng có bao giờ những thứ dục vọng ấy có thể thỏa mãn được hoàn toàn và lâu bền đâu? 

Còn vui xuất thế gian là cái vui chân thật, vì nó lâu bền, thoát ra ngoài vòng phiền não của tham, sân, si, mạn; nó không bị dục vọng chi phối. Cái vui này không ồn ào, sôi nổi nhưng vĩnh viễn nhẹ nhàng, vì là cái vui của cảnh giới giải thoát siêu phàm. 

Muốn có được cái vui này, thì trước tiên phải dứt trừ cho hết các khổ do phiền não gây ra. Nếu không ngăn chặn được tham,sân, si hoành hành, thì chỉ có thể có được mọt cái vui nhất thời giả dối. 

Bởi thế, các vị Bồ Tát muốn ban vui cho chúng sanh, thì trước tiên phải có lòng từ bi vô lượng như đã nói trên, để luôn luôn nhắc nhở chúng sanh đừng gây tội dìu dắt chúng sanh tránh xa những hố hầm nguy hiểm. 

Qua các giai đoạn đầu tiên ấy rồi, các Ngài mới hướng dẫn chúng sanh đi lên con đường quang minh chánh đại, con đường sáng để tiến đến địa vị giải thoát mà hưởng cái vui vĩnh viễn. Nói một cách rõ ràng hơn là lòng Từ phải đi theo lòng Bi: Bi để chỉ nguyên nhân của đau khổ và khuyên bảo chúng sanh đừng gây nhân khổ; Từ để chỉ rõ phương pháp diệt khổ và được vui. 

Tỷ dụ Bồ Tát muốn cho chúng sanh hưởng cảnh Niết Bàn, thì trước hết các Ngài chỉ cho biết thế nào là khổ (khổ đế) và đâu là nhơn của khổ (tập đế), sau mới chỉ cho thấy cái vui Niết Bàn như thế nào (diệt đế). Nếu chúng sanh y theo lời dạy của các Ngài mà thi hành, thì cái vui Niết Bàn sẽ xuất hiện. Như thế, động lực dạy cho chúng sanh biết khổ đế và tập đế là Bi, còn động lực dạy cho chúng sanh biết diệt và đạo đế là Từ. 

Nhưng nỗi khổ của chúng sanh đã là vô lượng, lòng Bi đã là vô lượng, thì lòng Từ cũng phải như thế. Muốn thành tựu tâm Từ này, Bồ Tát phải dùng đủ phương tiện để làm lợi lạc cho chúng sanh. Tựu trung có hai điểm quan trọng sau đây mà Bồ Tát không thể bỏ qua trong khi hóa độ chúng sanh là: Tùy cơ và tùy thời.

Tùy cơ: Nghĩa là quan sát trình độ căn bản của chúng sanh như thế nào rồi tùy theo đó mà dạy bảo. Tâm bệnh của chúng sanh vô lượng, nên thuốc pháp của Bồ Tát cũng vô lượng. Nhưng chính vì bệnh vô lượng mà thuốc cũng vô lượng nên cho thuốc đúng với bệnh là một điều mà chỉ có các vi lương y đại tài như Hoa Ðà, Biển Thước mới làm được. 

Các vị bồ tát sở dĩ hóa độ được nhiều chúng sanh là nhờ, ngoài trí huệ sáng suốt, còn có một tâm Từ vô lượng, không quản khó khăn, không ngaị gian nguy, một lòng kiên nhẫn vô biên như lòng kiên nhẫn của người mẹ đối với người con, quyết tâm tác thành cho con nên người mới thôi. Nếu không có được trí huệ, chí kiên nhẫn và nhất là lòng từ bi vô lượng như các vị bồ tát thì kho tránh khỏi cái nạn thối chuyển vì trần sa hoặc. 

Dưới đây là một đoạn văn chương trong Kinh Hoa Nghiêm có thể chứng minh một cách hùng hồn lòng Từ vô lượng của đức Phổ hiền: 

“…Hằng thuận chúng sanh là như thế nào? Nghĩa là có bao nhiêu chúng sanh ở cõi nước mười phương trong cả pháp giới, hư không giới…tôi đều tùy thuận mà chuyển mọi thứ thừa sự, mọi cách cúng dường, như kình cha mẹ, như phụng sự sư trưởng và A La Hán cho đến bực như lai đều đồng không khác.
 
Với kẻ bịnh khổ thì làm lương y cho họ, với kẻ lạc đường, chỉ lối thẳng cho họ, với kẻ trong đêm tối, làm cho họ được sáng lên và với kẻ nghèo cùng, khiến cho họ được gặp của…Bồ Tát làm lợi ích bình đẳng với tất cả chúng sanh như thế là vì bồ tát nhận thấy rằng tùy thuận chúng sanh tức là tùy thuận cúng dường chư Phật nên tôn trọng thừa sự chúng sanh tức là tôn trọng thừa sự Như lai..”.


Tùy thời. Tức là thích ứng với thời đại với giai đoạn mà hóa độ chúng sanh. Thời gian xoay vần cuộc thế biến chuyển mỗi khi một khác. Thời tiết có khi mưa, khi nắng, thay đổi theo bốn mùa, thì lòng người cũng có khi thích cái này khi ưa cái khác. Nếu phương pháp hóa độ không biến chuyển, không thay đổi để cho thích nghi với hoàn cảnh, với giai đoạn thì phương pháp dù hay ho bao nhiêu, cũng chẳng thu được kết quả gì tốt đẹp. Bồ Tát hiểu rõ như thế, nên khi dạy chúng sanh cũng phải theo thời thế, biết khi nào là tượng pháp, khi nào mạt pháp để cho giáo pháp được thích hợp với căn cơ. 

Tóm lại, muốn hóa độ chúng sanh một cách có hiệu qủa thì Bồ Tát bao giờ cũng không quên hai điều chính là tùy cơ và tùy thời. Kinh “Tâm Ðịa Quán” cũng có dạy: 

” Các đức Phật chuyển pháp luân, vẫn tùy cơ mà nói pháp, bao giờ cũng tránh bốn điều sai lạc; một là nói không phải chỗ; hai là nói không phải thời; ba là nói không phải là căn cơ; bốn là nói không phải pháp”

Bởi những lẽ trên nên Bồ Tát trong lúc hóa độ khi thì hiện thân, khi thì ẩn thân lúc làm thuận hạnh, lúc lại nghịch hạnh, khi dùng oai dũng, lúc lại từ hòa. Công hạnh của bồ tát sai khác nhiều đến vô lượng, nhưng chỉ phát sinh từ một ý duy nhất là tạo cái vui chân thật cho chúng sanh. 

Nên nhớ “tạo cái vui chân thật” ở đây, không có nghĩa là tạo ra cảnh giới thiên đàng hay cảnh giới cực lạc để cho những chúng sanh thân yêu của mình vào hưởng, như người ta ban phép lạ, mà chỉ có nghĩa là tạo cho chúng sanh cái mầm an vui chân thật bằng cách thức tỉnh dắt dẫn chúng sinh tránh các điều dữ làm các điều lành một cách tích cực mạnh mẽ, cho đến khi cái mầm vui, các hành động lành ấy mà kết quả vui mới thôi. 

Ðấy, lòng Từ vô lượng là thế. Như trên đã nói Từ phải đi theo với Bi. Nếu chỉ có Bi không, thì đại nguyện của Bồ tát chưa thành, vì mới chỉ cứu hkổ, chứ chưa ban vui. Chúng ta là Phật tử, muốn tu hạnh Bồ Tát phải luyện tập cho lòng Từ mở rộng, mở rộng mãi cho đến vô lượng vô biên. 

3. Hỷ vô lượng.

Hỷ là gì? Nói cho đúng là tùy hỷ, nghĩa là “vui theo”. “Vui theo” có nhiều cách: Phóng tâm vui theo những cảnh trần: nào sắc, nào thanh, nào hương, nào vị, nào xúc, nào pháp… để mặc cho nó làm chủ, không biết phản giác, không biết tỉnh ngộ mà dẹp trừ những hiện hành phiền não, ấy là vui theo dục vọng, theo thói quen phóng túng của lòng phàm. Vui theo ác nghiệp, như khi thấy một người sát sanh, uống rượu, trộm cướp… đáng lẽ ta nên khuyên can mà lại không, còn bằng lòng theo họ đi vào con đường ác. Sự vui theo ở đây có nghĩa là khuyến khích đồng lỏa với kẻ ác vậy. 

Vui theo những việc nhân từ phước thiện, như khi thấy người đem của ra bố thí, lập nhà thương, ta tán thành, giúp đỡ vui theo với công việc của họ. Sự vui theo này là một bước tiến đi đến con đường thiện nghiệp. Tuy thế, ta nên phân biệt hai trường hợp tốt sẽ được nhiều phước báo, còn nếu không vì lòng thiện, nhưng vì thấy người làm thiện được người ta ca tụng, danh tiếng vang lừng mà mình cùng hùa theo tán thành, giúp đỡ để được tiếng khen lây, thì không khéo chỉ gây thêm ngã ái ngã mạn. 

Khác với những lối vui trên, là những lối vui tầm thường của thế gian, hàng Nhị thừa chỉ vui theo cảnh giới Niết Bàn tịch tịnh. Thứ vui theo này, tuy không có tánh cách trụy lạc ác độc, nhưng theo chánh giáo, thì cũng còn hẹp hòi, thiếu lòng Từ bi rộng rãi và chưa phải đúng nghĩa “hỷ” vô lượng tâm. Ðức Phật còn quở đó là cái vui “Khôi thân diệt trí” hay “thu tịch Niết Bàn”.

Chỉ có sự “vui theo” sau đây của Bồ Tát mới đúng với nghĩa tâm Hỷ vô lượng. Trong khi thực hành phương tiện Từ bi để độ sinh và sau khi công hạnh này được kết quả, nhận thấy chúng sinh hết khổ, hưởng vui, tâm của Bồ Tát tự nhiên cũng vui theo. Trong luận Ðại Thừa Trang nghiêm Ngài Trần Na Bồ Tát dạy rằng: “Sự vui này còn nhiều gấp bội sự vui của chúng sinh được hưởng”. Bồ tát còn xác nhận rằng: “Nếu làm chúng sinh được vui, tức làm cho tất cả chư Phật được vui mừng”. Ðó là lời nói của đức Phổ Hiền. 

Nên nhớ cái “Hỷ” của bồ tát có những đặc điểm sau đây: Chẳng những không làm cho chúng sinh mê lầm mà còn giác ngộ cái mê và được giải thoát. Không còn bị buộc trong vòng vui tự đắc làm tăng trưởng ngã mạn, chấp trước ở thế gian, mà trái lại, làm cho chúng sinh xuất thế. 

Thoát ra khỏi phạm vi tư lợi mà phổ biến và bình đẳng đối với tất cả chúng sinh. Tóm lại, sự vui ở đây bắt nguồn từ lòng Từ bi mà phát ra. Lòng Từ bi rộng lớn bao nhiêu thì cái “hỷ” này cũng rộng lớn như thế. 

Chúng ta là Phật tử, tu hạnh Bồ tát, chúng ta phải tập cho được cái vui trong sạch, giải thoát của các vị bồ tát, chứ đừng quay cuồng theo cái vui nhiễm ô ích kỷ, hẹp hòi của phàm phu hay hàng Nhị thừa. 

4. Xả vô lượng.

Xả là cái gì? Xả là bỏ, không chấp không kể. 

Thói thường, khi chúng ta làm điều gì, nhất là khi được kết quả tốt, thì ta hay tự hào, đắc chí đôi khi ngạo nghễ khó chịu. Sự bất bình, cãi vã xung đột giữa bạn bè thân thuộc hay giữa nhóm này và nhóm khác cũng do tánh chấp trước, tự cho là quan trọng ấy. Nguyên nhân của tánh nầy là do sự chấp ngã, chấp pháp mà ra. 

Phàm phu thì vừa thấy có mình làm (chấp ngã) vừa thấy có công việc kết quả mình đạt được (chấp pháp) nên cứ bị trói buộc trong cái giới hạn phân chia nhân ngã, bỉ thử và do đó, không bao giờ thoát được cảnh giới phàm phu. 

Còn hàng Nhị thừa tuy đã xả được chấp ngã, nhưng chưa xả được chấp pháp. Sau khi nhờ tu tập, các Ngài thoát ly được tam giới chứng được quả Hữu dư y Niết Bàn, các Ngài coi như đó là phần thưởng xứng đáng của bao công phu tu tập và yên trí nơi cảnh giới sở đắc ấy. Do đó, hàng Nhị thừa vẫn còn bị biến dịch sanh tử. 

Chỉ có các vị Bồ tát là những bậc chứng được pháp không, nên đã ly khai quan niệm pháp chấp. Khi các Ngài ra công cứu khổ cho chúng sinh, thì đó là một sự cảm ứng tự nhiên, giữa các Ngài với chúng sinh, các Ngài dùng trí hoàn toàn vô phân biệt để được bình đẳng phổ biến theo đồng thể đại bi. 

Chúng sinh có hưởng được vui chăng, Bồ tát không thấy mình là kẻ ân nhân chủ động. Trái lại, các Ngài còn thấy chúng sinh là ân nhân của mình trên bước đường lợi tha tiến đến công hạnh viên mãn. Bởi thế, lòng Từ, lòng Bi của Bồ tát thoát khỏi vòng ái kiến và trụ trước, túc là xả vậy. Ðến như lòng “Hỷ” cũng thế, Bồ tát vui lòng từ bi, thấy chúng sinh được vui chứ không phải lối vui tự đắc, vui vì thàh thật tán thán công đức chung cùng chư Phật, chư Bồ tát và chúng sinh, chứ không phải vui vì dắm miếng riêng tư. Cho nên tâm tùy hỷ đây cũng hoàn toàn giải thoát, nghĩa là cũng thanh tịnh trên tinh thần “Xả”

Như vậy, Xả là một tâm lượng quảng đại cao cả, ở đó, không kiến lập một tướng nào. Kẻ gần người xa đeù bình đẳng, kẻ trí người ngu vẫn như nhau, mình và người không khác; làm tất cả mà thấy như không làm gì cả; nói mà thấy mình có nói gì cả, chứng mà không thấy mình có chứng và quả gì được.

Cho nên trong kinh Tú thập nhị chương có chép “Niệm mà không chấp nơi niệm mới là niệm, hành mà không chấp nơi hành là hành, nói mà không chấp nơi nói mới là nói, tu mà không chấp nơi tu mới là tu. Lý hội nghĩa ấy là gần đạo, mê mờ không rõ là xa đạo”.

Làm như thế tức là Xả: Xả hết tất cả mới thật là Bồ tát. Nếu còn chấp một tướng gì, dù nhỏ nhặt bao nhiêu cũng chưa phải là Bồ tát. Hãy nghe trong kinh Kim Cang Phật dạy ông Tu Bồ Ðề. “Này ông Tu Bồ Ðề, nếu có vị Bồ Tát còn tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sinh, tướng thọ giả, tức chẳng phải là Bồ Tát”. 

Ý nghĩa chữ Xả đã rõ ràng. Bây giờ chúng ta chỉ còn cố gắng tu tập dần dần cho được cái tâm xả ấy. Thành tựu được cái Xả một cách hoàn toàn cái Xả vô lượng tức là chứng quả Bồ đề. 

III. Sự đối trị của bốn món tâm vô lượng  

Bốn món tâm vô lượng là bốn trạng thái của Tâm Bồ Tát, nhưng đó cũng là bốn pháp tu của những Phật tử tu hạnh Bồ tát. 

Trong mỗi con người đều có hai xu hướng: xu hướng thiện và xu hướng ác. Hai xu hướng này cứ xung đột nhau luôn: hễ thiện thắng thì ác lùi, hễ ác thắng thì thiện lùi. 

Khi lòng giận hừng hẩy, thì tâm Bi bị lấn. 
Khi lòng sân bừng dậy, thì tâm Từ bị che khuất. 
Khi ưu não dẫy đầy, thì tâm Hỷ không phát hiện. 
Khi lòng ái dục còn nặng nề, thì tâm Xả không sanh. 


Trái lại, khi tâm Bi lớn mạnh, thì lòng Hận phải yếu mòn. 
Khi tâm từ lan rộng, thì lòng sân phải lùi. 
Khi tâm hỷ bừng lên, thì lòng ưu não phải dẹp xuống. 
Khi tâm xả đủ đầy, thì lòng ái dục phải dập tắt.

Sự chiến đấu với phiền não cũng như sự chiến đấu với giặc cướp, phải tiếp tục mãi cho đến khi toàn thắng mới dừng lại. Nếu chúng ta mới chiến thắng vài ba trận đã vội thỏa mãn và dừng nghỉ, thì giặp cướp sẽ tai phát và hoành hành trở lại. 

Cũng thế, trong trận chiến đấu của Từ, Bi, Hỷ, Xả chống sân, hận, ưu, dục chúng ta phải tiếp tục thi hành cho đến toàn thắng, nghĩa là bành trướng các đức từ, bi, hỷ, xả cho đến vô cùng tận để sân, hận, ưu, dục hoàn toàn bị tiêu diệt mới thôi. Một khi bóng tối đang còn, là vì ánh sáng chưa mạnh, muốn bóng tối hoàn toàn tiêu tan, thì ánh sáng phải đủ sức chiếu soi cùng khắp. Khi từ bi, hỷ xả, đã trở thành vô lượng thì phiền não sẽ không còn và hành giả đạt đến quả vị Bồ tát. Ðó là ý nghĩa “phiền não tức là Bồ đề” mà Ngài Bồ tát Trần Na đã dạy trong Luận Ðại Thừa Trang Nghiêm. 

IV. Kết luận

Chúng ta thường nghe quen tai và nói quen miệng bốn tiếng “từ bi hỷ xả”. Nhưng chính vì “quen” quá mà chúng ta không để ý phân tách ý nghĩa sâu xa của nó. Bốn đức tánh ấy có một sự tương quan mật thiết và bổ túc cho nhau, thiếu một không được. 

Vì thấy chúng sinh vô cùng khổ sở, nên thương xót chúng sinh. Vì thương xót chúng sinh nên ra tay cứu chúng sinh khỏi khổ (Bi). Cứu chúng sinh khỏi khổ cũng chưa phải làm xong nhiệm vụ của tình thương, nên cần phải tiếp tục làm cho chúng sinh được vui (Từ). Khi chúng sinh hết khổ được vui, mình mới vui được (Hỷ).

Nhưng nếu cái vui này mà còn vướng ngã mạn, tự đắc vì tự cho mình đã thành tựu những công hạnh lớn lao, thì cái vui ấy trở thành ái dục, dơ bẩn nặng nề, kéo hành giả xuống hàng phàm phu. Vậy cái vui ấy cần phải là một thứ vui trong sạch, hoàn toàn xa lìa các thứ chấp trước như nhân, ngã, bỉ, thử, chúng sinh, Bồ tát...(Xả).

Ðó là về phần phẩm, còn nói về phần lượng thì bốn đức tánh này cần phải rộng lớn vô cùng, hay nói theo danh từ thường dùng, là phải vô lượng. Có vô lượng mới đủ sức cứu độ chúng sinh cũng nhiều vô lượng. Có vô lượng mới lấn át tất cả những phiền não và không cho chúng có đất sống để tái phát và nhiễu loạn. 

Ðó là hành tướng và ý nghĩa của bốn món Tâm vô lượng, hay của bốn đức: Ðại từ, Ðại bi, Ðại hỷ, Ðại xả, mà chúng ta thường tán thán mỗi khi niệm các danh hiệu Bồ tát hay Phật. 

Phải công nhận rằng có được bốn món Tâm vô lượng không phải là dễ, mặc dù bốn đức ấy đã nằm sẵn trong bản tánh thanh tịnh của chúng sinh. Nhưng cũng đừng thấy khó mà lại chùn chân, lùi bước. Có công việc gì được thành công lớn lao, rực rỡ mà dễ dàng đâu? 

Yếu tố quan trọng giúp cho sự thành công là sự quyết tâm và lòng kiên nhẫn. Người tu hành cũng như kẻ trèo núi. Ðừng thấy núi cao mà nản chí, sờn lòng. Trước tiên phải lập chí quyết trèo lên trên cho đến chót núi, rồi sau đó tuần tự kiên nhẫn bước từng bước một, đừng hấp tấp và cũng đừng trễ nải thì một ngày kia thế nào cũng đặt chân lên được chót núi cao. 

Người tu hành cũng vậy, hãy phát bốn lời thệ nguyện lớn, rồi cứ tuần tự, kiên nhẫn, mà tu tập theo những pháp môn Phật đã chế cho đến khi thành tựu mới thôi.

Hòa thượng Thích Thiện Hoa

http://vuonhoaphatgiao.com

Dành cho các bạn đang viết CV !


Suốt 20 năm tuyển dụng người tài, đây là chiếc CV ấn tượng nhất mà tôi từng thấy: Dễ đọc, thành thực và không chứa những ngôn từ sáo rỗng!

Gary Burnison là CEO của Korn Ferry, một công ty tư vấn toàn cầu giúp các công ty lựa chọn và thuê những nhân tài giỏi nhất. Ông là tác giả của cuốn sách best-seller trên New York Times “Lose the Resume, Land the Job” (Mất hồ sơ, tìm được việc) với phong cách nói chuyện thẳng thắn mà không ai – không phải là vợ/chồng, đối tác, cố vấn hay bất kỳ ai khác – sẽ nói với bạn.

Mới đây, ông đã có những chia sẻ về chiếc CV ông ấn tượng nhất trong 20 năm làm nghề tuyển dụng và phỏng vấn.

“Trong suốt toàn bộ sự nghiệp của mình, tôi đã nhận được hàng ngàn tập hồ sơ với đủ thể loại khác nhau: Quá dài, quá ngắn, quá nhàm chán, quá nhiều lỗi chính tả, quá khó đọc và đủ kiểu bố cục kỳ quặc khác.

Thành thật mà nói, tôi chưa bao giờ đánh giá cao tầm quan trọng của việc thiết kế CV. Thậm chí, trong cuốn sách “Lose the Resume, Land the Job” của mình, tôi tập trung vào mạng lưới bạn bè trong quá trình tìm việc làm thay vì đánh bóng bản thân trong những bản CV. Tất nhiên để xin vào vị trí của một công ty, bạn cần có một bản sơ yếu lý lịch, nhưng sai lầm lớn nhất của những người tìm việc là họ nghĩ rằng CV chiếm 90% quyết định tuyển dụng, trong khi nó chỉ thực sự chiếm 10%.

Vì thế, thật hiếm để một nhà phê bình khó tính như tôi phải chú ý tới một bản CV nào đó. Tuy nhiên một vài năm trước, tôi đã rất ngạc nhiên khi tìm thấy một bản lý lịch thực sự gây ấn tượng với mình.

Trên thực tế, đó là một trong những bản CV tốt nhất tôi từng thấy trong 20 năm làm nghề tuyển dụng và phỏng vấn. Nó không có mánh lới quảng cáo, không có công ty Fortune 500 nào được liệt kê. Và tất nhiên, tôi đã lựa chọn ứng viên tiềm năng đó.

Cụ thể, đây là những yếu tố giúp chiếc CV đó nổi bật hơn tập CV còn lại:

1. Thật dễ đọc

Bản CV này có nhiều khoảng trắng và dài 2 trang với hơn 10 năm kinh nghiệm làm việc.

Mọi thứ đều được tổ chức và sắp xếp rất khoa học: Khoảng cách dòng vừa phải, tên công ty in đậm, tiêu đề in nghiêng và những công việc chi tiết được liệt kê bằng những gạch đầu dòng. Và tất nhiên, không một lỗi đánh máy nào được tìm thấy.

Tôi ưa những kiểu phông chữ không quá lạ mắt. Nhưng thực tế, có rất nhiều ứng viên lãng phí thời gian để chọn lựa phông chữ nào cho bản CV. Times New Roman hay Calibri không phải là lựa chọn duy nhất, miễn là nó phải luôn đơn giản và dễ đọc.

2. Kể một câu chuyện

Bản CV này đã kể câu chuyện về hành trình sự nghiệp của ứng viên. Không có lỗ hổng thông tin (ví dụ như một mùa hè bỏ lỡ). Chỉ sau vài giây, tôi đã có thể dễ dàng nhận ra những nấc thang phát triển sự nghiệp của ứng viên.

Nói cách khác, danh sách lịch sử công việc – theo thứ tự thời gian, với vị trí gần đây nhất ở trên cùng – cho thấy sự tiến triển rõ rệt của ứng viên: vị trí càng cao, trách nhiệm công việc càng lớn.

3. Nhấn mạnh những thành tựu, thay vì chỉ liệt kê những nhiệm vụ đơn thuần

Tôi cũng như rất nhiều nhà tuyển dụng khác không quan tâm đến việc đọc những điều ứng viên sao chép từ bản mô tả công việc ban đầu. Điều mà các nhà tuyển dụng thực sự muốn biết là liệu bạn có phải là một ứng cử viên tiềm năng có khả năng mang lại kết quả tốt cho công ty không – và người này đã làm rất tốt khi chứng minh rằng mình là như vậy.

Làm nổi bật trách nhiệm bằng việc liệt kê cụ thể những thành tích ấn tượng nhất của bản thân là điều luôn luôn sáng suốt. Ví dụ:

– Thay vì viết “mở rộng hoạt động sang các thị trường quốc tế, thì bản CV viết “mở rộng hoạt động sang tám quốc gia mới ở Mỹ Latinh.”

– Thay vì viết “đội ngũ tiếp thị và bán hàng dẫn đầu” thì bản CV viết “đội ngũ tiếp thị và bán hàng đã đạt được mức tăng trưởng 15% hàng năm so với 0,5% ngân sách.”

4. Thành thật

Không có bất kỳ yếu tố nào khiến tôi phải ngờ vực. Mọi thứ đều đáng tin và những con số không phóng đại.

Thậm chí, sơ yếu lý lịch có dẫn link trang LinkedIn và trang web công việc của người đó, bao gồm một bản portfolio công việc cá nhân. Điều này giúp tôi dễ dàng kiểm tra hồ sơ thực tế hơn, từ đó gây dựng niềm tin rằng ứng viên là một người trung thực.

Suốt 20 năm tuyển dụng người tài, đây là chiếc CV ấn tượng nhất mà tôi từng thấy: Dễ đọc, thành thực và không chứa những ngôn từ sáo rỗng! - Ảnh 2.

Lời khuyên của tôi đó là hãy thành thật về cuộc sống của bạn. Một đồng nghiệp đã từng kể với tôi về câu chuyện một ứng viên đã liệt kê tội phạm hình sự trong hồ sơ xin việc của cô ấy. Sau khi nộp hồ sơ, cô gọi cho nhà tuyển dụng và hỏi rằng: “Liệu anh/chị có muốn thuê một người từng bị kết án như tôi không?” Sau khi trả lời một loạt câu hỏi với lòng nhiệt huyết của mình, cô ấy đã được nhận việc và cuối cùng trở thành một nhân viên tuyệt vời.

Mặc dù những thành tựu nổi bật và tên công ty lớn sẽ mang lại lợi thế cho bạn, nhưng đừng nhầm lẫn: Nhà tuyển dụng sẽ kiểm tra tham chiếu – và nếu họ phát hiện ra rằng bạn đã nói dối về điều gì đó, thì cơ hội việc làm của bạn chấm dứt lập tức.

5. Không có bất kỳ ngôn từ sáo rỗng

Không có những đặc điểm chung chung hay những yêu cầu cao trong bản CV, chẳng hạn như những từ ngữ “sáng tạo”, “làm việc chăm chỉ”, “chú trọng kết quả”, “giao tiếp xuất sắc”, hay “làm việc nhóm hiệu quả”.

Bất kỳ mục sáo rỗng nào đều sẽ khiến nhà tuyển dụng “tròn mắt” trong chưa đầy một giây. Vì thế, hãy bỏ qua các tính từ hay thuật ngữ đánh bóng bản thân quá mức và thay vào đó là sử dụng động từ hành động. Ví dụ:

– Thay vì ghi là “người giao tiếp xuất sắc” thì bản CV trình bày “có các cuộc đàm phán trực tiếp với khách hàng và phát biểu tại các sự kiện tuyển dụng đại học.”

– Thay vì ghi có “tính sáng tạo cao” thì bản CV viết “đã thiết kế và triển khai nền tảng giám sát ứng dụng toàn cầu mới.”

6. Đưa ra một đề nghị

Không phải ai cũng có mạng lưới bạn bè tại công ty mơ ước của mình nhưng một trong những cách hiệu quả nhất để có được sự chú ý của người khác đó là tìm những người có thể giới thiệu bạn trong quá trình tìm việc.

Một trong những lý do khiến tôi mở file PDF của chiếc CV này đó là nó được thông qua lời giới thiệu từ một đồng nghiệp đáng kính của tôi. Vì thế, ngoài vài giây lướt qua nó, tôi muốn biết nhiều hơn về ứng viên này.

Gửi hồ sơ của bạn ở khắp mọi nơi sẽ không giúp bạn có được công việc ưng ý nào. Thực tế, hàng ngày tôi nhận được hàng chục bộ hồ sơ từ những người mà tôi không biết, và phần lớn tôi không có đủ thời gian để mở ra.

Vì thế, nếu bạn đang cân nhắc một công việc nào đó, hãy tận dụng mạng lưới bạn bè của mình để tìm kiếm việc làm. Cố gắng kết nối trực tiếp với mọi người, có thể là tại một sự kiện hoặc thông qua một người bạn chung sẽ giúp hồ sơ của bạn được đưa lên đầu trong một chồng danh sách những hồ sơ xin việc và rơi vào đúng tay người quản lý đang tuyển dụng.”

Anh Thơ

Theo Nhịp sống kinh tế/CNBC

Những câu nói truyền cảm hứng hay nhất của Warren Buffett


Warren Buffett tổ chức buổi gặp mặt thường niên của Berkshire Hathaway vào tuần trước.Tại đây, ông chia sẻ 10 câu nói truyền cảm hứng về tiền bạc, đầu tư và cuộc sống:

1. “Điều 1: Không bao giờ làm mất tiền. Điều 2: Không bao giờ quên điều 1”
Lời khuyên của Zack: Rất nhiều người chỉ coi trọng bề nổi. Nhưng đừng quên đi những giá trị cốt lõi bên trong.

2. “Bạn trả giá bao nhiêu, bạn sẽ nhận lại được thứ tương tự.”

Lời khuyên của Zack: Tập trung vào cái bạn nhận được, đừng tiếc nuối cái giá bạn phải đánh đổi.

3. “Mất hai mươi năm để xây dựng danh tiếng cho mình nhưng bạn chỉ cần 5 phút là có thể hủy hoại nó. Nếu bạn nghĩ về điều này, bạn sẽ hành xử khác đi.”

Lời khuyên của Zack: Nghĩ kỹ trước khi làm gì đó. Bởi mỗi hành động đều sẽ phản ánh con người bạn.

4. “Chỉ khi thủy triều rút thì bạn mới biết được ai đang tắm truồng.”

Lời khuyên của Zack: Rất dễ để bơi những ngày trời đẹp. Nhưng bạn luôn phải chuẩn bị cho cả những trường hợp xấu nhất.

5. “Bóng mát hôm nay bạn ngồi là nhờ cái cây đã được trồng từ rất lâu về trước.”

Lời khuyên của Zack: Học cách nhẫn nại. Bạn cần phải làm tốt công việc hôm nay, và hãy nhớ là chúng sẽ ảnh hưởng đến tương lai của bạn nữa.

6. “Rủi ro đến từ sự thiếu hiểu biết khi làm một điều gì đó”

Lời khuyên của Zack: Bạn có thể giảm thiểu rủi ro bằng việc trang bị thật nhiều thông tin. Càng hiểu biết nhiều bạn càng nhận được người khác công nhận.

7. “Tốt hơn nhiều nếu bạn mua một công ty tuyệt vời ở một mức giá phải chăng, hơn là một công ty tầm trung với mức giá hời.”

Lời khuyên của Zack: Vật chất thể hiện giá trị. Đững mãi nghĩ về một món hời hay giảm giá.

8. “Khoảng thời gian tuyệt vời nhất là mãi mãi.”

Lời khuyên của Zack: Khi bạn có dự định trước cho tương lai của mình, đừng quan tâm quá nhiều những khó khăn hiện tại. Hãy đầu tư nhiều nhất cho cuộc sống của bạn.

9. “Chúng ta đơn giản là cố gắng sợ hãi khi người khác tham lam và chỉ tham lam khi người khác sợ hãi.”

Lời khuyên của Zack: Đừng luôn theo số đông. Hãy trở nên khác biệt.

10. “Hãy chơi với những người giỏi hơn bạn. Chọn những người bạn đồng hành có những phẩm chất tốt và bạn cũng sẽ phát triển theo hướng đó.”

Lời khuyên của Zack: Hãy khôn ngoan chọn bạn để chơi. Họ sẽ nâng cao phẩm giá của bạn.

*Zack hay Zack Friedman là nhà sáng lập và CEO của trang web nổi tiếng: Make Lemonade.

MMM

Theo Trí Thức Trẻ

SQ – Spiritual Quotient (chỉ số tinh thần): đều mà người làm lãnh đạo cần có.


Chủ tịch Mentally Fit Global: Không phải IQ hay EQ, đây mới là chỉ số mang lại thành công mà những nhà lãnh đạo hàng đầu đều thấu hiểu!

Nếu như chỉ số thông minh (IQ), chỉ số cảm xúc (EQ), và chỉ số thể chất (PQ) là “kiềng 3 chân” cho một cá nhân làm việc hiệu quả, thì chỉ số SQ – Spiritual Quotient (chỉ số tinh thần) sẽ giúp trả lời câu hỏi cơ bản: Tại sao chúng ta làm việc chúng ta đang làm? Động lực làm việc của chúng ta là gì? Vì Đam mê, Quyền lực, Học hỏi, Tự do tài chính, hay chúng ta đã vượt qua những đòi hỏi của cơm áo gạo tiền và nhắm tới đích lớn lao hơn là để lại di sản cho xã hội?

“Chuyển hóa năng lượng: Công thức thành công của những nhà lãnh đạo hàng đầu” là nhan đề sự kiện thứ 2 tại Việt Nam của ông Alain Goudsmet – Chủ tịch và Nhà sáng lập của Mentally Fit Global, một tổ chức độc đáo bắt nguồn từ những triết lý trong huấn luyện thể thao, áp dụng vào môi trường kinh doanh.

Vị chuyên gia quốc tế với hơn 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực coach (huấn luyện tinh thần) chia sẻ một tin buồn với hàng trăm khán giả là nhà lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp rằng: Sự thông minh là cần thiết trong công việc. Nhưng đối với một vị sếp, trí thông minh chỉ phục vụ cho cá nhân anh ta, chứ không thể lan truyền xuống cấp dưới.

“Không bao giờ chúng ta có thể lan truyền cho người khác chỉ số thông minh của mình, nhưng cảm xúc, niềm đam mê, năng lượng… lại có thể lan truyền được. Đó là trụ cột của lãnh đạo”, ông Alain nói.

“Lãnh đạo là gì? Hiểu một cách đơn giản, lãnh đạo là tạo ra năng lượng tích cực cho mọi người. Lãnh đạo là những người truyền đạt được niềm say mê, và niềm say mê đó là nguồn năng lượng giúp chúng ta tiến lên phía trước”.

4 trụ cột để nâng cao hiệu suất công việc

Theo ông Alain, để có thể chuyển hoá được nguồn năng lượng, để nâng cao hiệu suất làm việc của nhân viên trong tổ chức, công thức chung của các nhà lãnh đạo là kích hoạt được 4 trụ cột:

  • Chỉ số thông minh – IQ (Intelligence Quotient)
  • Chỉ số cảm xúc – EQ (Emotional Quotient)
  • Chỉ số thể chất – PhQ (Physical Quotient)
  • Chỉ số tinh thần – SQ (Spiritual Quotient)

Một người làm việc hiệu quả cần dựa trên 3 yếu tố gồm: Năng lực IQ, năng lực EQ và năng lực PhQ. Tức để phát triển bản thân, chúng ta không chỉ dựa vào trí tuệ, mà còn cần có năng lực quản lý cảm xúc trên nền tảng sức khoẻ thể chất đảm bảo.

Huấn luyện động vật các bạn chỉ cần quan tâm tới 1 trục thôi, nhưng huấn luyện con người bạn cần kích hoạt cả 4 trụ cột

Và một nhà lãnh đạo thành công cần kích hoạt cả 3 nguồn năng lượng đó: Kích hoạt trí tuệ nhân viên, khuyến khích họ phát triển thể chất và có năng lực lay động trái tim họ. Nhưng như thế chưa đủ.

Nếu coi IQ, EQ và PhQ là “kiềng 3 chân”, thì SQ chính là yếu tố “xương sống”.

“Chỉ số SQ chính là trụ cột về lãnh đạo/quản lý, là xương sống của bất kỳ lãnh đạo, quản lý nào”, ông Alain nói. Trụ cột “xương sống” SQ ấy sẽ trả lời cho câu hỏi: Why do I do what I do? (Tạm dịch: Tại sao tôi phải làm việc tôi đang làm?). Động lực làm việc của chúng ta là gì? Vì Đam mê, Quyền lực, Học hỏi, Tự do tài chính, hay chúng ta đã vượt qua những đòi hỏi của cơm áo gạo tiền và nhắm tới đích lớn lao hơn là để lại di sản cho xã hội?

SQ được chia làm 4 giai tầng, gồm:

1- Personality

Trả lời cho câu hỏi: Tôi là ai?

Tùy theo chúng ta là con người thế nào: Là người hướng nội hay hướng ngoại? Tính cách của chúng ta ra sao?… Những yếu tố xác định “Tôi là ai” sẽ ảnh hưởng tới quyết định chúng ta đưa ra.

2- Values

Trả lời cho câu hỏi: Giá trị tôi hướng tới là gì?

3- Drivers

Trả lời cho câu hỏi: Những yếu tố nào sẽ tạo động lực cho tôi làm việc?

“Các bạn cũng nên xác định xem cái gì tạo nguồn năng lượng cho mình. Đó là quyền lực, tiền bạc, sự tự chủ, kinh nghiệm, học hỏi, hay yếu tố gì?”, ông Alain nói.

4- Quest

Trả lời cho câu hỏi: Tôi muốn mọi người nhớ về tôi thế nào? Di sản nào, dấu ấn nào tôi muốn lưu lại?

Ở cấp độ cao nhất, mọi người sẽ làm việc vì những thứ họ mong muốn để lại cho tương lai, những di sản họ muốn để lại, dấu ấn họ muốn để lại trong cuộc đời. Đó cũng là động lực để họ hành động.

Di sản này rất quan trọng trong công việc kinh doanh và trong công cuộc lãnh đạo, quản lý, có thể giúp chúng ta xác định được hướng đi sắp tới của mình là gì. Di sản là cái chúng ta mong muốn để lại cho mọi người ghi nhớ đến chúng ta. Họ sẽ nhớ tới chúng ta như một nhà lãnh đạo biết khai quật tài năng hay người ta nhớ đến chúng ta như một người kiếm tiền giỏi, một người luôn đổi mới sáng tạo?

“Các động cơ này ảnh hưởng đến quyết định ngày hôm nay của chúng ta. Cho nên, phải lưu ý đến 4 trụ cột – 4 động cơ cho chúng ta cũng như nhân viên chúng ta làm việc”.

“Mặc dù con người có bộ gen giống con khỉ tới 95%, nhưng đừng huấn luyện con người giống như huấn luyện con khỉ. Huấn luyện động vật các bạn chỉ cần quan tâm tới 1 trục thôi, nhưng huấn luyện con người bạn cần kích hoạt cả 4 trụ cột. Một vị sếp phải biết mình đang huấn luyện ai”, ông Alain chia sẻ.

Bảo Bảo – Tri Thức Trẻ

Sống lâu sống khỏe


Hành trình đi tìm bí thuật sống lâu sống khỏe

Cuộc truy tìm bí thuật sống lâu và sống khoẻ của tôi khởi đầu cách nay chừng 20 năm. Tôi đã lưu lại tất cả các bài báo nói về tuổi già, các triệu chứng lão hoá, những nguyên nhân làm xơ cứng các mô, những chứng bệnh kỳ lạ làm con người mỗi năm già đi 10-15 tuổi, những trường hợp ngưng lão hoá sau cơn bạo bệnh, hôn mê kéo dài…

Tôi cũng đã gặp hàng trăm cụ từ 60-70 đến trên 90 tuổi tập dưỡng sinh tại các công viên và những lão võ sư trong Ban cố vấn Hội võ cổ truyền Tp. HCM: Huỳnh Khánh Hội, Phạm Cô Gia, Trần Tiến. Tôi đã tiếp xúc các nhà tu hành, được người đời xưng tụng là đắc đạo, tuy tuổi cao mà da mặt luôn tươi nhuận, hồng hào, không một nếp nhăn.

Với tất cả các bậc trưởng lão đó, tôi chỉ đặt ra mỗi câu hỏi: “Đâu là bí quyết sống lâu và sống khoẻ?” Và câu trả lời đầy đủ nhất, bao quát nhất tôi đã nghe được trong lần nhàn đàm với giáo sư thạc sĩ y khoa Ngô Gia Hy.

Bí quyết sống lâu và sống khoẻ của giáo sư Ngô Gia Hy

Một hôm, nhân lễ phát văn bằng của đại học dân lập Hùng Vương, tôi ngồi bên cạnh giáo sư Ngô Gia Hy. Ở tuổi gần 90, giáo sư vẫn không ngừng hoạt động trí tuệ và luyện tập khí công. Câu chuyện xoay quanh việc đẩy lùi tuổi già bằng khoa học hiện đại. Tôi hỏi giáo sư về bí quyết sống lâu và sống khoẻ của ông. Giáo sư vui vẻ đáp: “Thứ nhất là luôn luôn vui tươi, lạc quan, tích cực. Thứ hai là có cũng được, không có cũng được”.

NgoGiaHy BuiTheCan Hành trình đi tìm bí thuật sống lâu sống khỏe
            GS Ngô Gia Hy (phải) và GS Bùi Thế Cần

 Theo đại sư Tohei Koichi, sáng tổ môn phái Shin Shin Toitsu Aikido (Thân tâm đồng nhất Hiệp Khí Đạo), sự hợp nhất tinh thần và thể xác là chủ yếu để phát huy được tối đa năng lực của mỗi con người. Trong sự hợp nhất đó, tinh thần phải chủ động. Một tinh thần luôn tươi vui, lạc quan, tích cực sẽ giúp cơ thể vượt qua nọi khó khăn, tự điều chỉnh các trục trặc, khai thông những bế tắc của khí huyết… Điều này cũng phù hợp với những phát hiện mới nhất của môn Điều chế học (cybernétique). Một tinh thần mạnh mẽ, hưng phấn không những chỉ có khả năng phòng bệnh mà cả trị liệu.

“Có cũng được, không có cũng được” là một ý niệm triết học đơn giản, nhưng áp dụng vào cuộc sống đời thường không dễ, vì con người vẫn là nạn nhân của tham, sân, si, thất tình, lục dục…

Phần còn lại của bí quyết sống lâu và sống khỏe là biết sống điều độ. Giáo sư Ngô Gia Hy cho biết thêm: “Tôi thường đi ngủ vào lúc 20 giờ 30, đến 4 giờ sáng thì thức dậy và làm việc. 6 giờ bắt đầu tập khí công”. Giáo sư thường dành 45 phút để luyện tập khí công và Thái cực quyền; trong đó khí công chiếm 30 phút và Thái cực quyền 15 phút. Mỗi ngày luyện công 2 lần, vào lúc 6 giờ sáng và 6 giờ chiều.

Và một điều cuối cùng mà giáo sư Ngô Gia Hy không ngớt nhắc đi nhắc lại: “Không bao giờ được ngơi nghỉ, phải làm việc bằng trí não, càng làm việc thì đầu óc càng thông tuệ, sắc bén. Trí óc ta với hàng tỷ tế bào thần kinh, giống như một con dao, phải được mài dũa mỗi ngày, nếu không sẽ bị rỉ sét”.

Bên cạnh hoạt động trí não thường xuyên còn phải có thú đam mê giải trí (hobby). Tôi đã vô cùng kinh ngạc khi được giáo sư cho xem bộ sưu tập khổng lồ của mình về bưu hoa. Tem được xếp theo từng quốc gia, vùng lãnh thổ và theo đề tài với đầu óc của nhà khoa học, tinh vi, tinh tế đến kỳ lạ. Tôi tự hỏi không biết ông lấy đâu ra thời gian để làm công việc sưu tập, ghi chú, phân loại, đối chiếu này. Giáo sư ngỏ ý muốn tôi chọn một con tem trong loại “tối hiếm” (rarissime) của ông. Tôi chợt hiểu ý của câu: “Có cũng được, không có cũng được”.

Bác sĩ Tom và “cô gái yểu điệu thục nữ”

Chúng tôi ngồi ở sân thượng khách sạn Majestic nhìn xuống sông Sài Gòn. Tàu phà xuôi ngược trên sông trong ánh sáng rực rỡ của buổi sáng mùa xuân ấm áp. Bác sĩ Tom tự giới thiệu như là một nhà lão hoá học (gerontologue). Tuy đã quá tuổi “cổ lai hy”, song phong thái của ông trẻ trung như người ở tuổi 40. Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Ông nói với tôi:

– Đấy, anh xem.

Tôi ngoảnh lại. Một thiếu nữ trong chiếc quần short kaki và áo sơ mi trắng hở cổ đến ngồi bên cạnh Tom, đối diện với tôi. Làn da trắng mịn và môi hồng tự nhiên. Không son phấn và hầu như không trang điểm, trừ một ít mascara trên hàng mi đen nhánh.

– Ciao! (Chào!).

Giọng Ý chính tông, không nhầm được, duy có điều là hơi trầm và khàn đối với một cô gái chỉ khoảng 24-25 tuổi. Thế nhưng tôi đã sửng sốt khi biết cô thực sự là… bà, vì đã xấp xỉ 50 và là một tỷ phú, chủ một công ty lớn của Mỹ. Trong khi Helena (tên thân mật của bà) đang ngồi đây thì tại một điểm nào đó trên biển Égée, chiếc du thuyền của bà đang thả neo chờ đợi. Tom là bác sĩ, săn sóc viên, tùy viên liên lạc và quản gia du thuyền của Helena. Theo Tom, dù bề ngoài có vẻ yểu điệu thục nữ, Helena có một ý chí sắt đá.

Trẻ, khoẻ và đẹp ở tuổi 50

Bí quyết để giữ gìn tuổi trẻ, sức khoẻ và sắc đẹp của Helena, theo Tom, nằm gọn trong một từ: “Topothérapie”.
Tôi cau mày, thắc mắc. Với đôi mắt cười cười hóm hỉnh, Tom đột ngột hỏi:

– Anh có nhận thấy là mấy anh chàng phi công đường dài có vẻ trẻ hơn người bình thường cùng lứa tuổi không? Anh có biết là mấy người đó được miễn nhiễm một số bệnh vốn là những bệnh thường kỳ nơi những người cuốc bộ suốt đời như phong thấp, hen suyễn, đầu thống… Anh chỉ cần thay đổi độ cao là một số vấn đề tự nó có thể giải quyết…

Tom giải thích là sau khi học y khoa, anh đã nghiên cứu châm cứu, lý thuyết âm dương ngũ hành, sự vận hành của khí trong con người, sự kích thích của điện trường và từ trường trên cơ thể, ảnh hưởng của khí áp đối với con người, tác động của ngoại cảnh (màu sắc, âm thanh, ánh sáng…) của độ cao trên sức khoẻ…

Anh ta đề cập đến Yoga, Thiền học, án ma pháp của Cốc Đại Phong, phương pháp cấy nhau của Philatov, phương pháp tiết thực của vùng Nepal, phép ăn hoa quả, ăn chay giúp nội tạng giảm tiêu hao công sức và năng lượng, và phương pháp trị liệu bằng âm nhạc (musicothérapie), hoặc bằng hải dương (thalassothérapie). Phần lớn các phương pháp trên đều được Tom và Helena áp dụng một cách có hệ thống theo một trình tự rất thích hợp và khoa học.

Vừa lắng nghe những lời phân tích, lý giải khoa học và siêu khoa học của Tom, tôi vừa ngước mắt nhìn Helena. Cô ta nhìn lại tôi, nụ cười quyến rũ kỳ lạ.

– Thế còn topothérapie? Tôi hỏi.

– Là trị liệu và phòng ngừa bệnh tật bằng cách đi từ địa vực này đến địa vực khác trên trái đất, tìm những vùng đất thích hợp với tâm thể của mình do khí hậu, thời tiết, khí áp, cảnh trí, nhân văn…

Tom rành tất cả các vùng đất có suối nước nóng với các đặc tính riêng của từng địa danh, những miền có tỷ lệ cao nhất về người cao tuổi tại các châu lục, những ngọn núi được xem là linh địa của mỗi quốc gia… Tôi hỏi Tom:

– Topothérapie có thể áp dụng cho một tỷ phú, còn người nghèo thì sao?

Anh cười đáp:

– Anh đã đi hết đất nước của mình chưa?

GS Bùi Thế Cần

http://www.vo.edu.vn