Học để làm gì ?


GS.TS TRƯƠNG NGUYỆN THÀNH 
(ĐẠI HỌC UTAH, USA – VIỆN TRƯỞNG KHOA HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TÍNH TOÁN, TP.HCM)
Các học sinh, sinh viên và nghiên cứu sinh đang bận rộn chuẩn bị cho năm học mới. Hẳn bạn từng nghe ý nguyện của cha mẹ mình khi họ muốn bạn theo đuổi một ngành nghề cụ thể. Nhưng với câu hỏi “Học để làm gì?”, đâu là câu trả lời của riêng bạn ?

 

Học để làm gì?

Đi tìm câu hỏi đúng

Trong buổi học đầu tiên của lớp hóa đại cương cho sinh viên năm thứ nhất, tôi thường hỏi học trò: “Tại sao bạn ở đây?” và “Bạn muốn gì từ lớp này?”. Nhưng câu hỏi “Học để làm gì?” hẳn có tính bao quát hơn.

Câu trả lời tôi thường gặp trong hơn 20 năm dạy học là “Học để có công việc làm tốt và có cuộc sống ổn định”. Hoàn toàn hợp lý. Nhưng chỉ thế thôi sao?

Những năm học cấp III, tôi phần lo đi cày mướn để giúp gia đình, phần lo yêu đương ở lứa tuổi dậy thì nên thường quên lãng chuyện học hành. Cha tôi có lần khuyên: “Học là con đường ngắn nhất để giúp con thoát khỏi cảnh nghèo”. Lúc ấy, tôi hiểu rất đơn giản là học sẽ giúp mình có việc làm lương cao hơn, không còn thiếu thốn vật chất nữa.

Tôi đặt chân lên đất Mỹ cuối năm 1980, trong tay hai bộ đồ cũ, không một xu trong túi, không họ hàng, tiếng Anh được vài chữ để sinh tồn. Đúng 10 năm sau, tôi cầm trong tay tấm bằng tiến sĩ hóa học, rồi tới tấm séc lương khá hậu. Vâng, học đã giúp tôi thoát khỏi cảnh nghèo tiền, nghèo vật chất.

Những diện mạo của nghèo

Nhưng có những cái nghèo khác mà lúc trước tôi không hề biết mình cũng gặp. Có câu “Bạn không biết điều bạn không biết”.

Kiến thức thấp thì cơ hội cũng không có bao nhiêu. Bạn có thể làm gì khi không biết đọc, biết viết? Nếu biết đọc, biết viết, bạn sẽ có nhiều cơ hội hơn. Nếu có thêm kiến thức chuyên môn, cơ hội và lương cũng sẽ cao hơn. Sau khi làm xong postdoc, tôi có cơ hội làm việc phát triển sản phẩm ở công ty phần mềm, nghiên cứu ở công ty hóa, dạy đại học… Học đã giúp tôi thoát khỏi cái nghèo cơ hội.

Khi nghèo, ước mơ cũng nghèo. Tôi từng mơ một ngày có đĩa cơm tấm bì sườn, thêm cái đùi gà rôti thơm phức, một mình tôi ăn thoải mái, không chia cho ai cả.

Kiến thức chẳng những gia tăng khả năng mơ ước mà còn đa dạng hóa nó nữa. Giờ đây, ước mơ của tôi xếp thành nhiều loại: ước mơ trong nghiên cứu khoa học, ước mơ cho xã hội, ước mơ khởi nghiệp, ước mơ cá nhân…

Khi nghèo, niềm hi vọng vào tương lai cũng mong manh. Người nghèo thường có cái nhìn bi quan trong cuộc sống hơn. Có hướng suy nghĩ rằng chính vì tính bi quan và thiếu tích cực nên đã làm họ nghèo. Đây là một tranh cãi kiểu “con gà – quả trứng”, nhưng ai cũng đồng ý là khi vượt qua khỏi cảnh nghèo vật chất thì cái nhìn cuộc sống của bạn sẽ khách quan và tích cực hơn.

Khi nghèo thì cơ hội học hành cũng ít. Người ít học thường ứng xử cảm tính nhiều hơn, thay vì dùng lý trí. Kiến thức về luật pháp, hiểu biết về khả năng đánh mất nhân cách con người khi mất tự chủ là điều sẽ giúp lý trí điều tiết được cảm xúc. Bằng cấp không tạo nên con người có văn hóa ứng xử, chỉ những người biết dùng kiến thức, cách sống và ý thức xã hội mới giúp họ có cách ứng xử văn minh.

Khi nghèo, tình thương thường gói ghém trong phạm vi bản thân và gia đình. Mối quan tâm lớn nhất khi đó thường là cơm áo gạo tiền, do đó khó mà còn tâm trí để lo lắng đến cộng đồng và xã hội. Khi ta vượt qua được khỏi cảnh nghèo, ta thường thông cảm cho những người cùng cảnh như ta trước đây, quan tâm đến cộng đồng và xã hội hơn, muốn đem cơ hội đến và giúp những người kém may mắn hơn.

Nghèo, ít học thường đi đôi với tính tự ti, vì thế đưa đến cái nhìn bi quan và thiếu tích cực trong cuộc sống. Kiến thức mà bạn có sẽ làm bạn tự tin hơn như khi đưa ra những quyết định cá nhân ảnh hưởng đến cuộc sống của mình và gia đình, thay vì lệ thuộc người khác.

Khi nghèo, ít học, tiếng nói cũng bé, không mấy ai quan tâm, chẳng mấy ai nghe. Với học thức, bạn sẽ có cơ hội nắm giữ những vị trí cao hơn trong xã hội, tiếng nói của bạn lúc ấy sẽ có tầm ảnh hưởng sâu rộng hơn.

Người nghèo ít học thì ít quan tâm đến tác hại tới sức khỏe của thực phẩm, họ không có nhiều lựa chọn và có kiến thức để chọn. Với kiến thức, bạn sẽ quan tâm đến sức khỏe của mình hơn, quan tâm đến chất lượng của thực phẩm hơn, biết cách chăm lo cho sức khỏe của bản thân và người thân hơn.

Ít học thì bạn thường không có nhiều cơ hội để học hỏi kinh nghiệm quản lý tiền bạc vì tiền có thể chỉ đủ chi tiêu trong ngày, tuần hay tháng. Một bằng chứng rất rõ là đa số người nghèo trúng số độc đắc thường tiêu hết tiền thưởng và trở lại cảnh nghèo sau vài năm. Người có học thường có khả năng quản lý tiền bạc tốt hơn.

Mục tiêu của những kẻ lường gạt thường là những người ít học và muốn làm giàu nhanh. Với học thức và hiểu biết về luật pháp, kinh tế và xã hội, xác suất bị người khác lường gạt sẽ thấp hơn. Học sẽ giúp bạn khôn ngoan hơn trong việc phân biệt được thực hư trong cuộc sống.

Cái nghèo dễ làm tầm nhìn thường không quá một năm, như để dành lúa đến mùa gặt năm sau, nuôi heo để ăn tết cuối năm… ít ai nghĩ đến việc đầu tư cho 5 năm hay 10 năm, rất khó nói đến suy nghĩ cho cả cuộc đời hay cho thế hệ sau. Kiến thức sẽ giúp bạn có tầm nhìn dài hạn hơn, biết đầu tư cho tương lai, cho con cái…

Nếu hiểu được tầm quan trọng của việc học và cố gắng để ngày càng tiến bộ thì ngoài những hiệu quả nói trên cho cá nhân, bạn còn đóng góp xây dựng một xã hội văn minh và công bằng hơn. Nhưng bằng cấp chỉ đánh dấu mức độ kiến thức chuyên môn, bạn phải biết áp dụng cả kiến thức cuộc sống – thường được gọi là kỹ năng mềm.

Thành công, do đó, đòi hỏi và truyền cảm hứng để bạn tiếp tục trau dồi kiến thức, trau dồi bản thân suốt cuộc đời mình.

 

TuoiTre Online

 

HIẾU THẢO VỚI CHA MẸ LÀ CÁCH CẢI THIỆN SỐ MỆNH TỐT NHẤT


Nhân sinh như mây, ai cũng tìm mọi cách cuộc đời thật tốt đẹp hanh thông mà ít biết rằng, cách tốt nhất để cải vận chính là hiếu thuận với cha mẹ.

Phật dạy cách cải thiện số phận là hành thiện làm việc tốt, chăm giúp đỡ người khác, mà trong đó, hiếu thuận với cha mẹ là việc căn bản nhất. Còn bất hiếu với cha mẹ là nghiệp ác phải gánh nợ nhiều nhất.

Phật giáo lấy chữ hiếu làm đầu, hiếu thuận với cha mẹ là nghĩa vụ hàng đầu của con cái, là đạo lý làm người cơ bản. Tình cảm với cha mẹ là tình cảm từ tâm, càng nhiều càng phát tiết ra ngoài.

1. Hiếu thuận với cha mẹ là việc tích đức tốt nhất

Tích đức hành thiện thì lấy giúp đỡ người khác làm đầu. Nhưng nếu ngay cả cha mẹ mình còn chưa đối tốt thì còn có thể trợ giúp được ai? Mà cha mẹ còn không phải người dưng, có công sinh thành dưỡng dục to lớn, nên tốt với cha mẹ chính là hành thiện. Trước khi có thiện nguyện phát tâm giúp đỡ người khác thì hãy đem thiện tâm đặt trên người cha mẹ mình.

Những chòm sao hiếu thuận luôn quan tâm, chăm lo cho cha mẹ rất nhiều. Sự yêu thương của họ thể hiện rất cụ thể và thường xuyên.

2. Hiếu thuận với cha mẹ có thể xây xựng trường khí vững mạnh

Cha hiền con hiếu, mẹ thiện con thuận sẽ tạo ra bầu không khí ấm áp, thoải mái, vui vẻ. Chính điều này sẽ ảnh hưởng tới tất cả mọi người trong nhà, nhất là con trẻ. Gia đình hòa ái, kính trên nhường dưới thì đứa trẻ lớn lên cũng tự khắc biết hiếu thuận, ngoan ngoãn và mang bản tính thiện lương.

Từ đó mà phong thủy cùng vận khí của gia đình cũng được cải thiện theo chiều hướng tích cực, tràn đầy năng lượng. Tự dưng người trong nhà cũng cảm thấy vận mệnh của mình khá lên rõ rệt. Người hiền có phúc báo của người hiền, điều này không thể sai.

3. Hiếu thuận với cha mẹ, vận may tìm đến cửa

Cầu thần bái Phật mong may không bằng đối tốt với cha mẹ ở nhà. Kinh Phật cũng đã chỉ ra, hiếu thảo là cách tốt nhất để cải vận. “Cha mẹ là trong nhà Phật”, cầu cha mẹ thiết thực hơn là lễ lạt đền này chùa nọ. Hơn nữa, “phúc đức tại mẫu”, con cháu hưởng ân đức của cha mẹ, chính cha mẹ sẽ mang tới tốt lành, tài phú cho con trẻ.

 

Trần Hồng – viromas.org

 

Lời phật dạy:

“Cùng tột điều thiện không gì hơn hiếu
Cùng tột điều ác không gì hơn bất hiếu”.

 

phatgiao-org-vnlamnguoicanhieuthaovoichame

 

 

MARATHON


Khơi lại lịch sử cuộc chạy marathon đầu tiên

Thời điểm diễn ra cuộc chạy marathon đầu tiên trên thế giới vào 2500 năm trước, khi mà người tham gia duy nhất đã gục xuống và chết ngay khi vừa chạm đích, mới được một nhóm chuyên gia thiên văn học xác định lại.

marathon1-1348604602_480x0.jpgTheo truyền thuyết Hy Lạp, cuộc chạy bộ đường dài đầu tiên là của một chiến binh Athen, người đã vượt quãng đường dài 42 km để cảnh báo về một cuộc tấn công của binh sĩ Ba Tư.

Trước đây, các lịch sử gia cho rằng cuộc chạy bộ đó diễn ra vào ngày 12/9, dựa trên những tư liệu cổ về mặt trăng. Họ xác định ngày tháng dựa vào lịch Athen, bắt đầu vào ngày trăng non đầu tiên sau hạ chí.

Nhưng nhóm chuyên gia đến từ Đại học Texas ở San Marcos tuyên bố kết luận đó là sai lầm. Họ đã tính toán lại ngày tháng dựa trên lịch của người Spartơ, bắt đầu vào ngày trăng non đầu tiên sau thu phân, và tìm ra hôm đó là ngày 12/8. Nếu đúng như vậy, chiến binh báo tin đó đã phải chịu cái nóng 39 độ C, chứ không phải 28 độ C vào tháng 9. Và chính cái nắng gay gắt đã giết chết anh ta, cả nhóm kết luận.

“Có vẻ hợp lý khi một người đã chạy hết sức mình nhằm cứu giúp những người anh em đã ngã bổ nhào và tắt thở khi vừa đến nơi”, Russell Doescher tại Viện vật lý phát biểu.

Câu chuyện về cuộc chạy marathon lịch sử bắt đầu vào năm 490 trước Công nguyên, khi hoàng đế Ba Tư gửi một đội quân gồm 25.000 binh sĩ đến trừng phạt Athen vì tội bạo loạn. Đội quân đổ bộ lên thị trấn Marathon ven biển, cách Athen 42 km, nơi được canh giữ bởi 10.000 binh lính.

Thua kém về số lượng chiến binh, nên đội quân Athen lúc đó đã cử một người chạy chuyên nghiệp tên là Pheidippides tới Sparta để xin viện trợ. Anh đã thực hiện một chuyến đi dài 240 km chỉ trong một ngày, để khi đến nơi mới phát hiện ra rằng một lễ hội tôn giáo đã ngăn cấm người Sparta đánh nhau cho đến ngày trăng tròn vào 6 ngày sau.

Binh lính Athen đã đơn độc chống lại đội quân Ba Tư tại Marathon và giành chiến thắng. Nhưng một nhóm quân của Ba Tư đã dong thuyền tới tới Athen vì vậy đội quân quả cảm lại vội vàng cử một người trở lại Athen để cảnh báo về cuộc tấn công, và lần này không biết vì lý do gì vẫn là Pheidippides. Người đưa tin đã chạy quãng đường 42 km không ngừng nghỉ và gục chết ngay khi vừa báo tin.

Điều này đã gợi lên một số nghi ngờ ở những vận động viên chạy chuyên nghiệp. “Câu chuyện rõ ràng là không hợp lý. Làm sao có thể như thế khi thực tế hàng nghìn vận động viên marathon ngày nay vẫn chạy đua với nhau hàng tuần mà không gặp rủi ro nào, trong khi một kẻ chạy bộ chuyên nghiệp lại không những gục ngã mà còn đột tử”, Jim Fixx viết trong cuốn sách về môn chạy vào năm 1978.

Nhưng ngày tháng mới do nhóm chuyên gia tại Đại học Texas đưa ra có thể đã mang tới một lý giải hợp lý. Pheidippides đã chết vì cái nóng gay gắt của mùa hè.

Những vận động viên ngày nay sẽ lặp lại sự kiện marathon lịch sử tại Thế vận hội Olympic 2004 diễn ra ở Hy Lạp trong tháng tới. Để tránh số phận tương tự với ông tổ marathon, những người tham gia sẽ xuất phát từ 6 giờ chiều và chạy dưới ánh sáng mát dịu của trăng rằm.

Minh Thi (theo Newscientist)- Vnexpress.net

————-

LỊCH SỬ HCMC RUN – THE CITY MARATHON

1992
Cuộc thi Marathon quốc tế đầu tiên của Việt Nam mang tên Ho Chi Minh City International Marathon ra đời. Đây là sự kiện thể thao đầu tiên và là bước chuyển mình bất ngờ của Việt Nam từ sau ngày giải phóng 1975 và bắt đầu mở cửa chào đón khách du lịch từ năm 1987.

HCMC Marathon đầu tiên được tổ chức vào tháng 2 năm 1992 với sự tham gia của gần 250 vận động viên đến từ 26 quốc gia. Vào thời điểm đó, người dân Việt Nam vẫn còn rất mờ hồ về định nghĩa “Marathon”. Trong số các vận động viên tham gia, có 92 vận động viên Việt Nam và chỉ 8 người trong số họ là đã từng chạy trong các cuộc Marathon. Hàng ngàn người dân đã đứng dọc đại lộ Lê Duẫn lúc bấy giờ để chào đón các vận động viên về đích.

1996
HCMC Marathon được tổ chức 2 năm 1 lần vào thời gian đó. Với nhiều lý do khách quan, giải chạy chỉ được tổ chức lần thứ 3 cũng là lần cuối cùng vào năm 1996. Đây là một điều đáng tiếc cho phong trào thể thao lúc bấy giờ.

2013
Giải việt dã HCMC Run ra đời đã tạo tiền đề cho sự trở lại mạnh mẽ của phong trào thể dục thể thao thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là chạy bộ. Sau ba năm tổ chức, giải chạy đã thu hút được đông đảo người dân tham gia, đồng thời thu hút được nhiều vận động viên quốc tế đến Việt Nam.

2017
HCMC Run sẽ được đổi tên tên chính thức thành HCMC Marathon. Sau 25 năm, sự kiện mang tính chất lịch sử HCMC Marathon một lần nữa sẽ trở thành niềm tự hào lớn của mỗi người dân thành phố. Đây là một mốc quan trọng trong phong trào chạy bộ của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung.

HCMC Marathon sẽ được tổ chức hằng năm ở 4 cự ly: Marathon-42km, half marathon-21km, 10km và 5km.

Nếu 25 năm trước, hầu hết các vận động viên tham gia là các cựu chiến binh Mỹ và Việt Nam, thì 25 năm sau sự kiện mong chờ và chào đón những người trẻ – người chủ tương lai.

Liên Đoàn Điền Kinh Thành Phố Hồ Chí Minh và Công ty Pulse Active hy vọng giải chạy sẽ trở lại thường niên và là niềm tự hào của của mỗi người dân. Đồng thời, thông qua cuộc thi sẽ thu hút được nhiều các vận động viên quốc tế đến Tp.HCM hơn.

Nếu bạn là một công dân của thành phố, hãy bước ra ngoài, chạy và trải nghiệm thành phố xinh đẹp của chúng ta đang thay đổi từng ngày.

Xem thêm thông tin về cuộc thi Ho Chi Minh City International Marathon đầu tiên trên các báo quốc tế:

——–

Độc cước đại võ sư 6 lần tham gia marathon quốc tế

Bị mất một chân vào năm 21 tuổi nhưng bằng nghị lực phi thường và niềm đam mê võ thuật mãnh liệt, ông đã vượt qua số phận, trở thành đại võ sư 18/18 của Liên đoàn thế giới võ cổ truyền Việt Nam.

Không những vậy, ông còn là người khuyết tật tham gia cuộc thi chạy marathon quốc tế (từ năm 1992 – 2002) đầu tiên ở Việt Nam trước sự kinh ngạc và ngưỡng mộ của báo chí trong nước và quốc tế.

Bi kịch trở thành võ sỹ một chân

Vị võ sư mà chúng tôi nói đến chính là võ sư Tạ Anh Dũng (SN 1961, ngụ Q.8, TP.HCM). Hẹn chúng tôi vào một ngày cuối tháng Bảy, võ sư vẫn một mình vác theo bao đạo cụ đến khu vực công viên Tao Đàn (Q.1, TP.HCM) để dạy võ.

Dù chỉ còn một chân, vừa đi vừa giữ thăng bằng nhưng ông vẫn toát lên khí thế vững vàng, mạnh mẽ của một người theo võ học. Giới võ lâm nói rằng, võ sư một chân Tạ Anh Dũng là con nhà nòi về võ thuật.

Ông là con của võ sỹ Tạ Ánh Đăng (biệt hiệu là Ánh Sáng), người từng tham gia thượng đài đấu võ nổi danh khu Chợ Cầu Muối (TP.HCM) thời Pháp thuộc. Thấy cha tập võ, cậu bé Dũng cũng bắt chước tập theo. Khi mới lên 4 tuổi, ông đã được cha dạy đứng tấn, đi quyền, tập những bài võ cơ bản của võ cổ truyền. Bước vào những năm tiểu học, trong trường có mở lớp dạy võ Takewondo, ông lại hào hứng đăng ký theo học. Tình yêu đối với bộ môn võ cổ truyền được nhen nhóm, lớn dần theo thời gian.

Độc cước đại võ sư 6 lần tham gia marathon quốc tế - Ảnh 1

Võ sư Tạ Anh Dũng

“Hồi ấy, ngày nào tôi cũng xem cha tập quyền luyện đao pháp. Tôi rất ngưỡng mộ ông về võ thuật. Ông đi quyền rất đẹp. Thấy vậy tôi cũng bắt chước tập theo cho vui chứ cũng chẳng nghĩ sẽ gắn bó với nó cho đến tận bây giờ. Có lẽ nghiệp võ thuật đã chọn tôi. Đây là con đường rất nghiệt ngã”, võ sư Tạ Anh Dũng chia sẻ.

Với mong muốn tìm tòi học hỏi thêm các thế võ của môn phái khác để tìm ra ưu, khuyết điểm cũng như cách hóa giải, khi lên trung học, ông lại học thêm Aikido (Nhật Bản) và võ Thiếu Lâm (Trung Quốc). Mỗi môn võ lại dạy thêm cho ông một kỹ năng riêng. Càng tập luyện ông càng mê. Vì thế, phần nhiều thời gian ông đều dành cho võ thuật.

Thế nhưng, một biến cố lớn đã xảy ra, năm 21 tuổi, khi tài năng và niềm đam mê võ thuật nở rộ nhất, ông gặp tai nạn trên sông trong một chuyến chở củi thuê về rừng Sác (huyện Cần Giờ, TP.HCM). Được đưa vào viện trong tình trạng hôn mê, đến khi tỉnh dậy, ông bàng hoàng nhận ra mình chỉ còn một chân. Chân trái bị hoại tử xương phải cắt bỏ tới trên đầu gối.

“Lúc đó, tôi sốc lắm bởi tôi vốn là người năng động, vậy mà giờ phải nằm liệt. Rồi tôi nghĩ, mình chỉ còn một chân, làm sao có thể tập võ được nữa. Hiện thực trước mắt khiến tôi rất đau lòng và muốn buông xuôi tất cả,…”, vị võ sư tâm sự.

Trong lúc tinh thần còn đang tuyệt vọng thì chuyện xảy ra trước mắt càng khiến ông cảm thấy tương lai mờ mịt. Ông kể: “Lúc nằm trong giường bệnh, kế bên giường bệnh tôi có một cô cũng nằm điều trị. Nhưng sau đó, cô ấy buồn, tuyệt vọng quá mà bỏ trốn về nhà tự tử. Ngày hôm sau, cũng có một anh khác trong phòng bệnh nhảy từ trên lầu của bệnh viện xuống. Chứng kiến những cảnh tượng đó tôi bị sốc lắm. Rất may khi đó, ngoài sự an ủi của gia đình, bạn bè đã giúp tôi có thêm nghi lực sống. Rồi tôi nghĩ, đời người sống chỉ có một lần nhưng không may mình gặp vận xui, đành chấp nhận chứ chẳng biết làm thế nào. Vì, giờ mình có buồn, có khổ, cái chân mình cũng không mọc lại. Cho nên, tôi đã quyết tâm sống khác, không thể để tuổi trẻ, đời người trôi qua một cách vô ích vậy”.

Đừng bao giờ nghĩ mình là người tàn tật

Chính từ những quyết tâm, những cố gắng không ngơi nghỉ của mình nên sau khi nằm viện được hai tháng, ông bắt đầu tập đi xe đạp, rồi tập bơi, đẩy tạ, đánh bóng bàn,…

Ông bảo: “Nằm trên giường, tôi cũng tập, ăn, ngủ cũng tập,… bởi tôi đã hứa với bản thân cần cố gắng, nỗ lực hơn nữa. Vì thế, những lúc mọi người nghỉ ngơi thì tôi vẫn tiếp tục tập, tập cho tới khi mệt lử người mới dừng lại”.

Nói là vậy nhưng khi làm được mới khó. Việc đi đứng bằng một chân đã khó rồi, huống hồ, đây còn tập võ, đứng tấn, đứng trụ, rồi xoay người tập các động tác tay,… khó khăn hơn gấp bội. Mặc dù vậy, ông vẫn cố gắng vượt qua, không từ bỏ ý định theo đuổi nghiệp võ.

Rồi ông kể: “Thời gian đầu chưa tìm lại được cảm giác thăng bằng, tôi tập đi mà ngã lên ngã xuống. Có lần đứng lên ghế thắp nhang trên bàn thờ, cứ nghĩ còn bình thường nên tôi đã bước hụt và bị ngã. Lúc đó, cái cảm giác mình là kẻ thất bại, kẻ thua cuộc lại trỗi dậy. Nhưng nó chỉ chợt thoáng qua thôi rồi lại vụt tắt. Sáng luyện tập, đêm về nằm vắt trán ngẫm nghĩ tìm ra sự cân bằng cơ thể rồi tự điều chỉnh dần. Thế rồi, sau nhiều lần ngã xuống, đứng lên, tôi đã tự mình học tập và thích nghi dần với thế thăng bằng,…”.

Chính vì những nghị lực phi thường của mình cộng với sự cố gắng không bao giờ mệt mỏi, chàng trai Tạ Anh Dũng một chân ngày nào đã khiến trái tim của thầy Đặng Văn Anh (võ sư, có biệt danh là Kim Kê hay Phi Vân Nhạn, người sáng lập môn phái Kim Kê vào năm 1955 – PV) xúc động.

“Ban đầu, khi tôi tìm đến môn phái của thầy học, thầy đã rất ái ngại với thể trạng của tôi. Tuy nhiên, trước nghị lực và quyết tâm với niềm đam mê võ học, thầy Nhạn đã không ngần ngại nhận tôi làm đệ tử,…”, võ sư Tạ Anh Dũng chia sẻ.

Trong quá trình học võ, việc luyện tập đối với người một chân chẳng hề dễ dàng. Vì thế, ông phải tìm cách biến cái khiếm khuyết ở chân thành lợi thế, dẫn dụ đối phương rồi sáng tạo những đòn thế hóa giải phù hợp. Ngoài ra, vị võ sư còn sáng tạo ra các bài võ cho riêng mình như bài nạng chống dao găm, bài gậy, bài côn nhị khúc, côn tam khúc,… vừa để phòng thân và dạy lại cho những người khuyết tật.

Đối với võ sư Tạ Anh Dũng, việc dạy cũng như học võ còn thể hiện niềm tự tôn dân tộc. Ông luôn tự nhủ rằng phải làm sao để người nước ngoài nhìn vào và cảm phục, yêu quý con người Việt Nam.

Rồi ông kể: “Khi tập một mình là cố gắng 10 còn đứng giữa kiều bào, du khách quốc tế là phải tập lên 20, 30,… Bởi, đây không còn biểu diễn, tập luyện cho mình nữa mà đại diện cho cả một thế hệ võ thuật của một quốc gia nên cần phải cố gắng hơn gấp bội. Cho nên, trong những năm tham gia cuộc chạy marathon quốc tế, được tổ chức tại TP.HCM (từ năm 1992 đến 2002), tôi đã làm cho cả thế giới kinh ngạc khi chạy marathon một chân. Ngày ấy, tôi chạy đến đâu, du khách nước ngoài chụp hình đến đó. Họ không nghĩ một ông cụt chân lại có thể chạy được và về đích như vậy”.

“Thực sự, lúc đó, tôi đau cứng cả người, có những lúc đôi chân mình như muốn khụy xuống thế nhưng trong đầu tôi nghĩ mình không thể làm vậy, vì đó không chỉ là thể hiện tinh thần của bản thân mà còn là của cả dân tộc Việt Nam”, võ sư bày tỏ.

Thời gian qua, ông đã dạy võ cho nhiều lứa học trò. Trong đó, một số môn đệ của ông đã đoạt được những huy chương Vàng giải trẻ võ cổ truyền toàn thành phố, giải vô địch pencak silat TP.HCM, các giải trong nước lẫn quốc tế.

Chính vì cái tài và đức của ông nên rất nhiều bạn trẻ đam mê võ thuật đã theo ông học. Hiện tại, lớp dạy võ của ông có trên 40 môn sinh. Ngoài dạy ở trường, ông còn đi dạy kèm bóng bàn, dạy võ tại nhà cho nhiều con em có nhu cầu.

Niềm đam mê dẫn dắt con người bước qua chông gai

Khi được hỏi về bí quyết giúp ông có thể chinh phục được võ thuật, võ sư Tạ Anh Dũng chia sẻ: “Tạo hóa công bằng khi cho mình cái này sẽ lấy đi cái khác. Chính vì thế, điều căn bản tạo nên thành công chính là quyết tâm của con người. Cho nên, dù con người có khuyết tật hay không, nếu kiên trì, cố gắng, nhất định sẽ làm được. Tiềm năng và khả năng của con người là vô tận. Nếu các bạn khuyết tật đủ tự tin với bản thân mình thì sớm muộn cũng sẽ thành công. Sau hơn 50 năm đi theo nghiệp võ thuật, tôi nhận thấy rằng, điều dẫn dắt con người đi đến thành công chính là niềm đam mê. Niềm đam mê võ thuật đã níu kéo tôi trở lại với cuộc sống, đã dẫn dắt tôi vượt qua mọi chông gai của cuộc đời”.

 

DƯƠNG HẠNH – Doisongphapluat.com

20 điều bạn cần ghi nhớ để có một cuộc sống tốt đẹp hơn


ph10061uy9.jpg

 

1. Bạn sinh ra không phải để làm hài lòng tất cả mọi người. Vậy nên đừng quá bận tâm tới những gì người khác nói về bạn, hãy cứ là chính mình.

2. Nếu bạn muốn đạt được những thứ bạn chưa từng có, bạn phải làm những điều bạn chưa từng làm.

3. Nếu bạn tin rằng những đường chỉ tay nói lên số phận của bạn thì bạn cũng đừng quên rằng, chúng cũng chỉ nằm trong lòng bàn tay bạn mà thôi.

4. Cuộc sống luôn cho bạn cơ hội thứ hai. Nó được gọi là ngày mai.

5. Toàn bộ đại dương cũng không thể làm đắm được một con tàu trừ khi nước ngập vào trong. Tương tự, toàn bộ những gì tiêu cực trên đời cũng không thể nào hạ gục được bạn trừ khi bạn cho phép nó thấm vào người mình.

6. Hãy học cách trân trọng những gì bạn đang có trước khi thời gian dạy cho bạn biết trân trọng những gì bạn đã từng có.

7. Chính trải nghiệm chứ không phải thứ gì khác, là thứ làm nên con người bạn.

8. Hãy ở bên người làm cho bạn cười, ngay cả khi bạn mệt mỏi, không vui.

9. Đừng vội vàng từ bỏ người mà bạn yêu thương, bởi tình yêu đâu phải ai cũng may mắn tìm được nhau.

10. “Hãy đếm số tuổi của bạn bằng số bạn bè, chứ không phải số năm. Hãy đếm cuộc đời của bạn bằng nụ cười chứ không phải những giọt nước mắt.” – John Lennon

11. Không có ai hoàn hảo cả. Đó là lý do tại sao bút chì có cục gôm.

12. Thứ đắt giá nhất trên đời này là lòng tin. Để có được có khi cần rất nhiều thời gian, nhưng để đánh mất thì chỉ cần vài giây ngắn ngủi.

13. Một cái đầu đầy nỗi sợ hãi sẽ không còn chỗ trống cho những ước mơ.

14. Tiền xu luôn gây ra tiếng động, nhưng tiền giấy lại luôn im lặng. Bởi vậy, khi giá trị của bạn tăng lên, hãy giữ cho mình khiêm tốn và ít nói đi.

15. Đôi khi bạn phải tự mình đứng dậy và bước tiếp, bởi không ai làm điều đó thay bạn đâu.

16. “Tôi không biết chìa khóa của thành công là gì, nhưng tôi biết chìa khóa của thất bại là cố gắng làm vừa lòng tất cả mọi người.” – Bill Cosby

17. “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng.” – Trịnh Công Sơn [Để gió cuốn đi]

18. Mỗi ngày hãy sống như thể đó là ngày cuối cùng của bạn.

19. Khóc cũng sống, cười cũng sống. Tại sao ta không chọn nụ cười để sống?

20. Thứ quý giá nhất đối với mỗi người không phải là tiền bạc hay địa vị,… mà chính là sức khỏe.

Bởi vậy, hãy quan tâm tới sức khỏe trước khi quá muộn bạn nhé!

 

 

Theo: OHAY.TV

Bản sắc Do Thái


d12Ewf8ddSsbRoKwMumvzucd

Tại Israel, để là một người thực tế, bạn phải tin vào phép lạ”.[1]

-David Ben-Gurion (Thủ tướng đầu tiên của Nhà nước Israel hiện đại)

 

Từ khi Nhà nước Israel tuyên bố độc lập vào năm 1948, những đánh giá lịch sử về Israel thường chỉ đặt trọng tâm xoay quanh của các cuộc chiến nẩy lửa, các xung đột Ả Rập-Israel không bao giờ hết và các cuộc đàm phán ngoại giao bế tắc. Trọng tâm đó rất gây hiểu lầm. Israel đã trải qua nhiều cuộc chiến; Israel cũng luôn là mục tiêu của các cuộc tấn công khủng bố nhiều hơn bất kỳ một quốc gia nào khác; cũng là một thành viên tích cực trong nỗ lực kiến tạo hòa bình của Trung Đông trong nhiều thập niên. Tuy nhiên, các xung đột và thương lượng, mặc dù thường xuất hiện với tần suất rất cao trên các tiêu đề truyền thông hàng ngày, chỉ là một phần nhỏ của câu chuyện. Cuốn sách này “Câu chuyện Do Thái: từ Do Thái giáo đến Nhà nước Israel hiện đại” cho chúng ta nhìn thấy một bức tranh quan trọng hơn và bao quát hơn: thực tế của đất nước này và con người của nó là gì?

Câu trả lời là Israel hiện đại đã và đang xây dựng một hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa với một ý thức rõ ràng – mặc dù không hoàn hảo và chưa trọn vẹn. Đó là một quốc gia bình thường như mọi quốc gia khác, độc đáo, đặc sắc, và mang nhiều màu sắc khác lạ.

Tuy rằng Israel hiện đại khởi nguồn từ một trong những nền móng xã hội và văn hóa lâu đời nhất trên trái đất, di sản cổ xưa của nó đã không giúp cho công cuộc xây dựng quốc gia Israel hiện đại dễ dàng hơn. Ngược lại, tôn giáo và chủ nghĩa duy vật, ngôn ngữ đa dạng, dân chúng với nhiều trình độ phát triển kinh tế, kinh nghiệm lịch sử khác nhau, trong số các yếu tố khác, đã khiến cho công cuộc xây dựng quốc gia của Israel đặc biệt phức tạp và đầy thử thách. Một mảnh đất nhỏ bé và khô cằn, tài nguyên thiên nhiên ít ỏi, bao quanh bởi các nước láng giềng thù địch, cùng với những câu chuyện thành công ngoạn mục đã làm cho Israel trở nên một đất nước như huyền thoại.

Định nghĩa Israel hiện đại

Ý tưởng cho rằng người Do Thái là “chỉ là” một nhóm tôn giáo là một khái niệm bắt đầu với cuộc Cách mạng Pháp năm 1789, nhưng đã không gây ảnh hưởng ở Tây Âu cho đến giữa thế kỷ 19. Khái niệm này hoàn toàn không đứng vững trong các cộng đồng người Do Thái ở Đông Âu hay Trung Đông. Ở Tây Âu, những người có cảm tình với người Do Thái và những người Do Thái muốn mình hòa đồng với nền văn hóa của đa số, đã tìm cách mô tả người Do Thái như những công dân bình thường về mọi mặt ngoại trừ trong khu vực cá nhân hạn hẹp của tôn giáo. Không tự coi mình là một dân tộc đặc biệt với một nền văn hóa, ngôn ngữ, và bản sắc riêng biệt là một cách làm của người Do Thái trong cố gắng đạt tới bình đẳng và loại bỏ chủ nghĩa bài xích Do Thái. Nhưng cách tiếp cận này đã không phản ánh được thực tế lịch sử và mâu thuẫn với chính hình ảnh bản thân của họ.

Trong Thời Kỳ Thánh Kinh [3000 TCN – 538 TCN][2] và cho đến thời điểm quốc gia Israel cổ đại bị người La Mã hủy diệt vào năm 70 CN, người Do Thái đã sinh hoạt như một quốc gia, được cho là đầu tiên trong lịch sử. Sau đó, suốt trong hơn mười chín thế kỷ, người Do Thái lưu vong, và trên những vùng đất mà họ cư ngụ đã hình thành nên một dân tộc tách biệt với những tổ chức quản lý phi-nhà nước theo cung cách riêng của mình, với ngôn ngữ duy nhất, phong tục độc đáo, những ý tưởng khác lạ, và một nền văn hóa rất khác biệt, chưa kể đến những thứ như trang phục quần áo và nghệ thuật. Những từ như “Hebrew” và “Israeli”, sử dụng phổ biến hơn từ “Jews” – ngay trong thời hiện đại – đã phản ánh rằng bản sắc dân tộc và con người Israel đã tự mở rộng vượt ra ngoài phạm vi của tôn giáo.

Tôn giáo, như thế, chỉ là một dấu hiệu trong bản sắc người Do Thái, giống như một quốc gia trong tự nhiên. Không có mâu thuẫn nào giữa bản sắc tôn giáo và bản sắc dân tộc. Trong thế giới cổ đại và cũng ở ngay thời hiện đại, ở nhiều nơi, một tôn giáo khác biệt là một trong những điểm nổi bật chính của quốc gia-dân tộc. Điều này đặc biệt đúng tại khu vực Trung Đông thời hiện đại, nơi mà Israel là một điển hình.

Trong suốt lịch sử, hành động đầu tiên đánh dấu rằng người Do Thái có một bản sắc dân tộc đặc biệt mạnh mẽ chính là việc họ đã từ chối các vị thần và các phong tục tôn giáo của ngay cả những dân tộc đã từng thống trị họ như người La Mã và sau đó người Kitô giáo và Hồi giáo. Trong nhiều trường hợp khác, có những dân tộc chấp nhận tôn giáo, ngôn ngữ, và bản sắc của những người cai trị hoặc hàng xóm để rồi cuối cùng biến mất khỏi lịch sử. Điều đó cho thấy rằng một bản năng yếu kém không có chỗ tồn tại trong thế giới của quyền lực. Cái bản sắc tôn giáo-dân tộc kéo dài của người Do Thái đã tỏ ra mạnh hơn so với hầu như bất kỳ một dân tộc nào khác trên trái đất.

Khả năng sinh tồn này đã được định hình không phải chỉ do đặc tính “bướng bỉnh” và “bất chấp” của người Do Thái, cũng không phải do những o ép đối với họ bằng vũ lực. Thay vào đó, người Do Thái đã hành động giống như một quốc gia hiện đại, dù rằng đã mất quyền kiểm soát hoặc hiện diện trong những vùng lãnh thổ đặc biệt. Thật vậy, việc ngăn cấm tôn giáo đối với người Do Thái bằng cách pha loãng tập tục của họ hay tích hợp từ tập tục của những dân tộc khác trong thời cổ đại đã dẫn đến cuộc nổi dậy thành công của người Do Thái vào năm 166 TCN chống lại người Syria dòng Seleucid để lập nên vương quốc Hasmoneans độc lập; và ngược lại là cuộc khởi nghĩa thất bại chống lại người La Mã và dẫn đến sự hủy diệt của Jerusalem vào năm 70, buộc người dân Do Thái sống cuộc đời lưu vong trong gần 2000 năm.

Sau khi dịch chuyển trung tâm sinh hoạt từ Vùng đất Israel đến các cộng đồng Do Thái lưu vong, rời xa khỏi quê hương lịch sử ở Trung Đông, người Do Thái vẫn tiếp tục cố gắng sinh hoạt như một quốc gia, mặc dù buộc phải chấp nhận những thiệt thòi của lối sống tách biệt, đó là sự phân biệt đối xử và thậm chí bách hại dưới bàn tay của các nước láng giềng. Qua nhiều thế kỷ, trong khuôn khổ lãnh đạo của các giáo sĩ Do Thái, người Do Thái vẫn duy trì một hình thức chính phủ cộng đồng của riêng mình, cùng với pháp luật, lịch, ngôn ngữ, các quan điểm triết học, có thể nhìn thấy trong các văn bản lớn của giáo hội và đặc biệt là qua đồ ăn, tập quán, và trang phục quần áo.

Đây không phải là một hoạt động mang tính cục bộ. Các cộng đồng cá nhân của người Do Thái, ngay khi cách xa nhau ngàn vạn cây số và sống trong những điều kiện rất khác biệt, vẫn duy trì kết nối trong suốt thời gian dài thời Trung cổ và tiếp tục trong thời kỳ hiện đại. Thật vậy, đó chính là lý do giải thích tại sao người Do Thái vẫn có thể thành công trong việc duy trì thương mại ở tầm xa, giữ được những tập quán khá đồng nhất.

Tất cả người Do Thái, ngay cả những người nghèo và ít học nhất sống ở các thôn xóm cô lập nhất, vẫn ý thức được nguồn gốc của họ tại Vùng đất Israel trong Thánh Kinh; nhiều người vẫn duy trì quan hệ với cộng đồng rất nhỏ người Do Thái đang còn sống ở đó và luôn tin rằng số phận sẽ dẫn họ trở về khi Đấng Cứu Thế xuất hiện.

Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái (Zionism – Chủ nghĩa Zion) xuất hiện ở châu Âu vào cuối thế kỷ 19 đã cập nhật tất cả những ý tưởng hiện có trên tinh thần tự giác và chủ nghĩa dân tộc đương đại. Nó đề xuất câu trả lời cho “câu hỏi Do Thái“, rằng làm thế nào để người Do Thái, bao gồm cả những người có cuộc sống không bị bao bọc bởi giới luật tôn giáo, đáp ứng những thách thức và cơ hội của thế giới hiện đại? Câu trả lời là không phải sự đồng hóa, cũng không phải là sự tồn tại thuần túy tôn giáo có thể đáp ứng những thách thức của thế giới hiện đại, mà chính là sự tồn tại của quốc gia: đó là sự cần thiết tạo ra một nhà nước Do Thái ngay trên quê hương lịch sử. Các nhà Zionist cũng lập luận rằng việc thay thế sự kiên nhẫn của lòng tin bằng hành động của con người sẽ bảo tồn cuộc sống của chính những người Do Thái và sự thịnh vượng cho tôn giáo của họ.

Ở Đông Âu, nơi mà đại đa số người Do Thái châu Âu tập trung, trên thực tế một đời sống quốc gia của người Do Thái vẫn tồn tại trong suốt thế kỷ 19 và kéo dài sang thế kỷ 20 ở nhiều nơi. Hầu hết người Do Thái châu Âu nói tiếng Yiddish, một ngôn ngữ có nguồn gốc từ tiếng Do Thái và tiếng Đức. Họ cầu nguyện hàng ngày trong các hội đường, lấy Vùng đất Israel làm trung tâm tôn giáo, và sinh hoạt như một cộng đồng hoàn toàn tách biệt với các láng giềng. Vụ diệt chủng người Do Thái của Đức Quốc Xã, cùng với sự đồng hóa cưỡng chế ở một số quốc gia châu Âu và Liên Xô, đã kết thúc lối sống này.

Trong khi đó ở Trung Đông người Do Thái sống gần như hoàn toàn cô lập trong cộng đồng của họ, tuân theo các lề luật tôn giáo riêng, có trang phục và nghề nghiệp khác biệt, và nói một ngôn ngữ đặc biệt đó là Arabic-Hebrew hoặc Spanish-Hebrew tương tự như tiếng Yiddish.

Với lịch sử như thế, nhận thức chung của nhiều người ngoài cuộc là người Do Thái luôn là những người ngoài lề, không tự nguyện hội nhập hoàn toàn vào những cộng đồng đa số nơi họ sống. Đối với người Do Thái ở châu Âu Kitô giáo hoặc Trung Đông với đa số Hồi giáo, chưa bao giờ – hoặc chỉ rất gần đây – có bất kỳ lời đề nghị hội nhập hoàn toàn. Tuy nhiên, đại đa số người Do Thái không nhìn bản sắc khác biệt của họ với ý nghĩ tiêu cực mà vẫn coi mình đơn thuần là “hướng nội”. Nói cách khác, người Do Thái tự coi họ là một phần của cộng đồng Do Thái rất gắn kết của riêng mình, trong khi vẫn chia sẻ thế giới quan với các thành viên của các cộng đồng khác bất kể vị trí địa lý và hoàn cảnh kinh tế của họ.

Thật vậy, Israel hiện đại không phải là một tác phẩm tùy ý hoặc ngẫu nhiên – nó không chỉ đơn thuần là kết quả của những thảm họa, ví dụ như, Holocaust. Thay vào đó, nó là sự tiếp nối của một quá trình lịch sử lâu dài. Sự ra đời của Nhà nước Israel là không thể tránh khỏi và là một logic hợp lý vì cũng như bất kỳ nhà nước nào trên thế giới hiện nay, nó được tạo ra bởi một cộng đồng của những người có chung một thế giới quan, lịch sử, và ước muốn được chia sẻ số phận của mình.

Sự tồn tại của những cảm tình đối với Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái trong xã hội, tôn giáo và thế giới quan Do Thái có lẽ sẽ không đi tới đâu nếu không có một phong trào có tổ chức. Những nhà tư tưởng tiên phong giữa thế kỷ 19 – Moses Hess [1812-1875], Leon Pinsker [1821-1891], và những người khác – đã cung cấp cái nhìn thoáng qua về ý tưởng lãng mạng của một nhà nước Do Thái, nhưng Theodor Herzl [1860-1904] và Ben-Gurion [1886-1973] mới là những nhà cách mạng đã đưa ý tưởng phục quốc trở thành hiện thực vào những năm 1890 khởi đầu với khái niệm “Vùng đất Israel ” (Land of Israel).

Cuộc di cư rải rác của những người dân Do Thái lưu vong về lại Vùng đất Israel và tham gia với cộng đồng tôn giáo truyền thống đã có ở đó dẫn đến sự ra đời của Yishuv. Đây là tên gọi cộng đồng người Do Thái ở Vùng đất Israel giữa những năm 1880 và 1948, khi Israel tuyên bố trở thành một nhà nước độc lập. Cộng đồng Do Thái Yishuv đóng vai trò quan trọng trong việc đặt nền móng cho một Nhà nước Israel đã được trù liệu. Trong khi truyền thống và lịch sử Do Thái là lớp nền móng đầu tiên trong việc định hình Nhà nước Israel hiện đại, Yishuv là lớp thứ hai.

Những thuộc tính văn hóa và cơ cấu kinh tế-chính trị được tạo ra trong thời kỳ Yishuv đã trở thành những thuộc tính cơ bản của nhà nước và xã hội Israel hiện đại sau này. Các đặc trưng tiền-nhà nước được biết đến nhất bao gồm: sự hồi sinh của ngôn ngữ Hebrew, sự thành lập các tổ chức tự vệ, việc thành lập một nền tảng kinh tế công nghiệp theo cấu trúc xã hội chủ nghĩa, sự phát triển của một hệ thống dịch vụ xã hội toàn diện, sự hòa hợp của một nền văn hóa nẩy sinh chủ yếu từ chất men trí thức của Đông Âu, việc lập ra các làng cộng đồng sáng tạo “Kibbutz” và các hợp tác xã “Moshav”, và việc xây dựng một khuôn khổ quốc gia căn bản là thế tục với các khía cạnh tôn giáo lớn. Nhiều yếu tố khác từ những năm Yishuv trong giai đoạn tiền-nhà nước vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến Israel rất lâu sau khi Nhà nước Israel được thành lập.

Hãy xem xét, ví dụ, vai trò của tôn giáo. Để nói rằng Israel là một nhà nước Do Thái không có nghĩa là chỉ đơn thuần là một bản tuyên bố về bản sắc tôn giáo. Nó trước tiên phải là một tuyên bố về bản sắc dân tộc. Đại đa số các nhà lãnh đạo Yishuv, và sau đó các nhà lãnh đạo Israel, là thế tục (có nghĩa là không ràng buộc vào tôn giáo nào). Họ đồng thời công nhận tầm quan trọng của tôn giáo trong việc gắn kết người Do Thái lại với nhau, tôn trọng tín ngưỡng của các nhóm thiểu số, nhưng cũng muốn đảm bảo rằng tôn giáo không có quá nhiều quyền lực đối với xã hội và văn hóa dân tộc.

Vì vậy, thế hệ lãnh đạo thống trị Yishuv và Nhà nước Israel ban đầu đã sớm đạt được một thỏa hiệp với các lãnh đạo Do Thái giáo Chính Thống (Orthodox) để chỉ chấp nhận quyền lực của tôn giáo ở một số khía cạnh của xã hội. Ngày nay các tổ chức nhà nước vẫn tuân theo luật lệ về chế độ ăn chay (Kosher) của người Do Thái; các cửa hàng thường đóng cửa vào ngày Sabbath (mặc dù thực tế này đã bị xói mòn theo thời gian); nhà nước nghỉ làm việc trong các ngày lễ tôn giáo của người Do Thái; kết hôn, ly hôn, và chôn cất được các giáo sĩ Do Thái điều khiển; sinh viên của các chủng viện Yeshiva[3] được hoãn nghĩa vụ quân sự. Thỏa hiệp này đảm bảo duy trì sự cân bằng quyền lực của cả hai phía thế tục và tôn giáo.

Tuy nhiên, thực tế thì Israel là một xã hội nghiêng về thế tục. Nói chính xác thì Israel được đặc trưng là một đất nước trong đó các khái niệm, phong tục và lịch sử có nguồn gốc tôn giáo đã được đặt vào trong một khuôn khổ thế tục và quốc gia. Trong một ý nghĩa tương tự, quá trình này cũng đã diễn ra trong nền văn minh phương Tây Kitô giáo.

Trong ba hoặc bốn thập niên đầu tiên của Nhà nước Israel độc lập, người Israel Do Thái tiếp tục tự cho rằng họ được phân chia rõ ràng thành hai nhóm tôn giáo và thế tục. Đến những năm 1990, tuy nhiên, người Israel Do Thái nhận ra sự tồn tại của một chuỗi rộng các quan điểm cũng như trình độ của việc thực hành tôn giáo. Khi xã hội đã trở thành thế tục hơn và ít ý thức hệ hơn, một thành phần khá lớn dân số gọi là “truyền thống” xuất hiện; họ vẫn duy trì các yếu tố của giới luật tôn giáo nhưng lại cam kết cho một lối sống cơ bản thế tục. Cách tiếp cận này đặc biệt mạnh trong nhóm người Do Thái Mizrahi là những người Do Thái đến từ Trung Đông và Bắc Phi.

Mặc dù có rất nhiều thách thức, Israel ngày nay có một hệ thống dân chủ đa nguyên được kiến trúc để có thể dung chứa các cộng đồng và các quan điểm khác nhau, mặc dù không đại diện về địa lý.

Một yếu tố khác đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của Israel là những người nhập cư Do Thái đến từ nhiều quốc gia và các nền văn hóa khác nhau đã hòa nhập thành công trong một xã hội thống nhất. Trước và sau độc lập của Israel vào năm 1948, những người nhập cư đến đầu tiên từ châu Âu, sau đó chủ yếu là từ Trung Đông, sau này từ Liên Xô cũ, và với số lượng nhỏ hơn, từ Ethiopia. Hầu hết những người nhập cư là người tị nạn nghèo, mất hết tài sản, cũng như bị chấn thương tâm lý do điều kiện sống khắc nghiệt và khủng bố ở các quốc gia họ đã bỏ trốn. Họ đã tìm thấy đời sống mới trên Vùng đất Israel. Họ hy vọng.

Mặc dù Israel được định nghĩa là một nhà nước Do Thái, nó lại hoạt động giống như một quốc gia Trung Đông truyền thống đa nguyên – với một tôn giáo nhà nước và các nhóm thiểu số tự trị một phần – hơn là kiểu nhà nước một dân tộc (mono-nationalist) của châu Âu thế kỷ hai mươi vốn đã xóa bỏ tất cả các nhóm thiểu số trong quá trình cưỡng bức đồng hóa . Ở Israel, mỗi cộng đồng tôn giáo có quyền kiểm soát đối với các vấn đề riêng của cộng đồng mình về tình trạng cá nhân, có quyền duy trì văn hóa, tôn giáo, và, ở một mức độ nào đó, tự chủ về tư pháp.

Israel nổi lên từ những năm trước và sau độc lập của mình với một thách thức chính trị, thế giới quan, kinh tế, văn hóa trộn lẫn từ nhiều yếu tố khác nhau. Trong số các ảnh hưởng chính là xã hội Do Thái truyền thống cùng với những cải cách Yishuv và những vay mượn từ các nền văn hóa Đông Âu, Tây Âu và Trung Đông. Bổ sung theo thời gian là các yếu tố văn hóa của Bắc Mỹ, Địa Trung Hải, và Nga hiện đại, cũng như một môi trường văn hóa Ả Rập tự trị. Pha trộn tất cả các yếu tố dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo và văn hóa này với nhau đã tạo nên một môi trường xã hội phong phú, những ý thức hệ chính trị đa dạng và nhiều giai tầng về địa vị xã hội.

Đây là một phần trích từ cuốn sách “Câu Chuyện Do Thái: Từ Do Thái giáo đến Nhà nước Israel Hiện đại” của tác giả Đặng Hoàng Xa (Nhóm nghiên cứu Do Thái & Israel), do Sách Thái Hà dự định xuất bản tháng 1/2015

——————

[1] “In Israel, in order to be a realist, you must believe in miracles.”

[2] Trong cuốn sách này chúng tôi ghi rõ TCN (trước công nguyên) trong những ngày trước năm 0001. Còn những ngày sau đó chúng tôi dùng ký hiệu viết tắt CN (sau công nguyên) hoặc để trống không ghi gì.

[3] Yeshiva: chủng viện Do Thái Chính thống.

 

 

Tham khao: http://nghiencuuquocte.org

Đằng sau câu chuyện chàng trai 
tình nguyện ghép đầu…


Đằng sau câu chuyện chàng trai bị liệt Phạm Sỹ Long (28 tuổi, trú xóm 3, xã Xuân Phổ, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh) gửi đơn xin được ghép đầu là một góc khuất rất nhân bản của một con người.

Đằng sau câu chuyện chàng trai 
tình nguyện ghép đầu...
Mẹ Long phải chỉnh giấy từng chút cho Long vẽ tranh – Ảnh: VŨ TOÀN

Phạm Sỹ Long kể năm 16 tuổi, đang học lớp 9 thì gặp nạn do đi chăn bò, nghịch ngợm trèo lên cây phi lao bị bão bật nghiêng gốc. Hai đốt sống cổ số 3, số 4 của Long bị giập nát. Long bị liệt tứ chi, phải nằm “chết” một chỗ trong không gian thu hẹp trên chiếc giường con.

“Nghệ sĩ” 
vẽ tranh bằng miệng

Một hôm nghe tin chị Hiền, người hàng xóm thân quen chuẩn bị lấy chồng, Long nhờ mẹ là bà Trần Thị Hà đi mua bút màu để vẽ một bức tranh đem tặng. Nhưng tay không cầm được bút nên Long ngậm bút vào miệng rồi cắn lấy bút vẽ.

Lần đầu cắn bút, vừa đưa ngòi bút chạm vào giấy thì bút rơi. Nhiều lần như thế khiến môi, lợi của Long tê buốt. Mẹ phải đứng cạnh khi thấy bút rơi thì đưa bút vào miệng giúp con. Hai mẹ con nhìn nhau, ứa nước mắt.

Ba ngày sau, bức tranh hiện lên hình ảnh hai con chim đang tình tứ với nhau trên cành cây giống như cảnh chim bay về vườn ngoài cửa sổ.

“Không ngờ bức tranh đầu tiên được vẽ bằng miệng thành công. Đến nỗi em gái đứng nhìn cũng ngạc nhiên. Mẹ đi làm đồng về nghe nói mà không tin. Đến lượt chị Hiền cầm bức tranh trong ngày đám cưới cũng bất ngờ vì cảm động và không thể tin nổi” – Long nhớ lại.

Long tâm sự một ngày hai buổi vẽ. Hết vẽ chim chóc đến vẽ hoa, cây cảnh, mái trường, tượng Phật. Một tranh như thế vẽ khoảng ba giờ. Vẽ xong bức tranh thấy đời bớt cô quạnh hơn.

Do người nhà đi làm vắng, không biết nhờ ai để bút vào miệng được nên có hôm Long cứ ngậm hai hoặc ba cây bút màu cùng lúc để vẽ.

“Thấy con vẽ được 50 bức tranh, vợ chồng tôi ép plastic, để vào khung treo lên tường làm kỷ niệm” – mẹ Long nói.

Đằng sau câu chuyện chàng trai 
tình nguyện ghép đầu...
Tập thơ đầu tay của Long

Tác giả của 200 bài thơ

Năm 2010, khi vẽ xong mỗi bức tranh, Long nghĩ hai câu thơ ghi bên cạnh làm đề tựa cho tranh. Đấy là khi Long tập viết bằng miệng.

Bà Hà kể: “Viết cũng phải cắn bút như vẽ. Cắn chắc bút nhưng miệng phải rất thoải mái mới có thể viết được các nét chữ đều nhau và thẳng hàng. Có hôm con đang cắn bút tập viết, bỗng dưng người lên cơn rung bần bật. Tôi phải lấy dây vải buộc chân và người con vào nan giường để giữ chặt, nếu không con lăn xuống đất”.

Khi ghi được hai câu thơ, Long thấy bức tranh sinh động hẳn lên. Từ đó Long bắt đầu làm thơ.

Tôi bảo Long đọc tôi nghe bài thơ mình tâm đắc nhất, Long mở to đôi mắt nhìn lên trần nhà rồi đọc:

Cha mẹ ơi, con thật lòng xin lỗi 

Suốt đời con không thể đáp đền 

Công mẹ cha sinh thành dưỡng dục 

Đã nuôi con vất vả ngày đêm 

Lo cho con được đủ đầy ăn học 

Để cho con không thua kém bạn bè 

Chỉ mong con học hành chăm chỉ 

Vậy mà con ngang bướng không nghe 

Con leo trèo để rồi bị ngã 

Liệt cả người nằm một chỗ từ đây 

Mọi sinh hoạt con không làm được

Để mẹ cha phải chăm chút mỗi ngày 

Ôi ngày ấy giá như con ngoan ngoãn 

Biết nghe lời dạy bảo của mẹ cha 

Thì cuộc đời con không đến nỗi 

Để bây giờ phải hối hận, xót xa 

Bây giờ đây cho dù con hối tiếc 

Cũng chỉ biết nói lời xin lỗi mẹ cha

Xin cha mẹ hãy rộng lòng tha thứ

Cho đứa con bất hiếu những ngày qua

(Bài thơ Con xin lỗi).

Bà Hà lấy cuốn sổ đưa cho tôi xem. Bà nói: “Đây là 200 bài thơ chưa đăng của Long”. Rồi bà đưa tiếp tập thơ Miền khát vọng (Nhà xuất bản Văn Hóa – Thông Tin, năm 2014) gồm 32 bài cho 
tôi xem.

Miền khát vọng

Năm 2012, sau giải thưởng chương trình “Vì bạn xứng đáng” của VTV3, Long được nhận gần 50 triệu đồng. Từ đó, Long mua được điện thoại và sử dụng Facbook.

Bạn bè cộng đồng mạng chia sẻ rất nhiều về hoàn cảnh, nghị lực và năng khiếu vẽ tranh, làm thơ của Long. Trong đó anh Trần Hồng Giang (người cũng bị tật nguyền ở Nam Định) gọi điện gợi ý Long gửi bản thảo ra anh biên tập và xuất bản giúp.

Tập thơ này Long in 500 cuốn. Khi đưa về, các trường trong huyện đến mua hết. Long mới tái bản thêm 500 cuốn, hiện vừa bán vừa tặng chỉ còn 40 cuốn.

VŨ TOÀN – Tuoitre.vn

Câu truyện hài đáng suy ngẫm: Niệm phật không bằng tu tâm tính


Ngày xưa, có một đôi vợ chồng trẻ, người chồng hàng ngày đều chăm chú đọc sách, người vợ một lòng hướng Phật nên ngày ngày đều ngồi trong phòng tụng kinh niệm Phật rất lâu.

Một hôm, người chồng để ý thấy người vợ ngồi trong Phật đường không ngừng niệm: “Nam mô a di đà phật! Nam mô a di đà phật!” Người vợ cứ chăm chú niệm câu này mãi, niệm đi niệm lại trong một khoảng thời gian rất lâu. Người chồng thấy vậy liền nghĩ cách đùa người vợ một chút.

Gom Xu3

Anh ta  bèn đi vào phòng bên cạnh phòng mà người vợ đang niệm rồi bất ngờ gọi tên người vợ. Người vợ nghe thấy tiếng chồng gọi mình liền ngừng niệm và quay đầu sang phía người chồng hỏi: “Có việc gì vậy?”

Người chồng cười cười rồi nói: “Không có gì, không có gì!”

Người vợ lại tiếp tục quay lại vừa gõ vừa niệm. Một lát sau, người chồng lại gọi tên người vợ. Người vợ lại nhịn không được liền quay đầu ra hỏi chồng: “Rốt cuộc là anh có chuyện gì mà cứ gọi như vậy?”

Người chồng lại cười cười rồi nói: “Không có gì, không có gì cả.”

Người vợ lại tiếp tục niệm Phật. Nhưng chẳng được bao lâu người chồng lại gọi tên người vợ. Người vợ lúc này có vẻ rất bực tức quay sang nói với người chồng: “Anh rốt cuộc là có chuyện gì mà cứ gọi mãi như thế? Anh cứ gọi như thế khiến em không thể tập trung tụng kinh niệm Phật được.”

Người chồng lúc này mới đứng lên đi đến bên người vợ và nói: “Vợ ơi! Anh mới gọi tên em có ba lần mà em đã thấy mệt mỏi và bực tức rồi. Thế mà, em ngày nào cũng niệm A di đà phật trong một thời gian lâu như vậy, không biết liệu ngài có thấy phiền toái không?”

Chúng ta muốn thông qua hình thức tụng kinh niệm Phật để cho Thần Phật biết rõ lòng thành kính của chúng ta đối với ngài. Nhưng mà chúng ta lại không chú ý tu luyện tâm tính của mình cho tốt mà chỉ thể hiện ở hình thức bên ngoài. Như vậy, có khác nào trong lòng chúng ta không thực sự thành kính Thần Phật? Như thế, thử hỏi Thần Phật có thể tiếp nhận hình thức “tụng kinh niệm Phật” của chúng ta không?

Theo Secretchina
Mai Trà biên dịch

Câu chuyện hài đáng suy ngẫm: Niệm phật không bằng tu tâm tính

Hãy là một người tử tế !


song-tu-te1

be-kind2

song-tu-te

  • Có lý tưởng và hướng đến những giá trị sống ý nghĩa

  • Mỗi con người tử tế sẽ hình thành một xã hội văn minh

  • Vượt qua cám dỗ, bến đỗ của tử tế

  • Luôn dặn lòng: mặc kệ thị phị, làm chi cũng phải tử tế

  • Thứ tha, bài ca hạnh phúc

  • Tử tế là lúc ta sống có trách nhiệm với lời nói, hành động của mình

  • Sống trên đời, vay trả, trả vay

  • Không tiếp tay, không tham gia, không cổ vũ những hành động sai trái

  • Kiên định theo con đường đã chọn

  • Không ngừng hoàn thiện bản thân