Đâu là cảnh giới cao nhất của võ thuật ?


41ctai105ctaij1028btai107ctaij10

CẢNH GIỚI CAO NHẤT CỦA VÕ THUẬT

Võ thuật không đơn giản là một môn thể thao hay là một bộ môn nghệ thuật, võ thuật là sự tích hợp những điều tinh túy của nhân loại!

Luyện tập võ thuật giúp ta có sức mạnh của thể hình, sự dẻo dai của Yoga, tinh thần vững vàng của mật vụ, sự nhanh nhẹn của điệp viên, sự nhạy bén của nhà kinh doanh, sự thấu hiểu của nhà tâm lý học, sự sáng suốt của minh quân và sự điềm đạm của một chân sư.

Tất cả những điều đó góp phần tạo nên trí tuệ và phẩm chất tốt đẹp của con nhà võ.

Dưới đây là đoạn đối thoại giữa 2 thầy trò có thể “thức tỉnh” được suy nghĩ lệch lạc của một số bạn trẻ đã, đang và sẽ luyện tập võ thuật nói riêng, và những người mắc “bệnh ngôi sao” nói chung:

Một võ sinh tò mò hỏi Sư phụ:
– “Thưa Sư phụ, đỉnh cao của võ thuật là đâu?”

Sư phụ ôn tồn trả lời:
– “Võ thuật có 4 cảnh giới.

Thứ nhất là “Kiếm trong Tay” tức là tập luyện để kiếm trở thành một phần thân thể của các con. Các con phải điều khiển được vũ khí dễ dàng như điều khiển các ngón tay của mình thì vũ khí mới phát huy hết tác dụng. Với các môn thể thao khác, như môn bóng đá và bóng rổ… các cầu thủ sẽ luyện tập đến khi họ cảm giác như trái bóng là một bộ phận không thể tách rời của họ. Từ đó họ có thể thực hiện những kỹ thuật ảo diệu với trái bóng.

Thứ hai là “Kiếm trong Thân” tức là các con không cần đến kiếm vì mọi bộ phận trên cơ thể con đều là kiếm. Lúc này, các con sẽ nhận ra rằng trên thân thể ta đã có sẵn vô vàn các loại vũ khí vô cùng lợi hại. Chỉ riêng bàn tay thôi đã có ít nhất 4 loại vũ khí vô cùng ghê gớm như nắm tay, lòng bàn tay, cạnh bàn tay và các ngón tay. Nếu biết sử dụng và phối hợp các bộ phận trên cơ thể hợp lý thì các con không cần phải sử dụng bất kỳ loại vũ khí nào.

Thứ ba là “Kiếm trong Tâm” tức là mọi thứ xung quanh các con, dù là cỏ lá, rơm rạ đều có thể là kiếm. Lúc này các con sẽ nhận ra loại vũ khí mạnh mẽ nhất là loại vũ khí ta không thể nhìn thấy được. Đó chính là sự tư duy. Trong nhiều tình huống, sức mạnh cơ bắp thôi là không đủ. Các con phải biết tận dụng tất cả những gì mình có xung quanh. Các con phải biết quan sát, biết cách biến mọi thứ xung quanh thành trợ thủ của mình. Kết hợp giữa cơ bắp, khí công và trí não sẽ giúp con đánh bại mọi đối thủ.

Cuối cùng là TUYỆT GIỚI “Tâm không Kiếm”, tức là con không cần dùng đến vũ lực nữa, cái tâm và cái hồn của các con cũng đủ để làm đối phương khuất phục. Và các con phải nhớ rằng, bất kỳ ai cũng có thể đạt tới cảnh giới cao nhất của võ thuật chứ không cứ phải là con nhà võ. Cảnh giới đó cũng chính là TUYỆT GIỚI của mọi loại nghệ thuật trên thế gian này hướng đến. Khi đạt được nó, toàn bộ cơ thể của các con, từ lời nói đến từng động tác nhỏ đều thoát lên những sức mạnh kỳ diệu khiến mọi người xung quanh các con đoàn kết lại và chữa lành các tổn thương. Tuyệt giới ấy không bao giờ tạo ra thương tổn hay gây chia rẽ. Vì vậy nếu các con sử dụng võ thuật với mục đích là gây tổn thương và chia rẽ, có nghĩa là con đang xa rời con đường tới TUYỆT GIỚI.”

 

(Nguồn: Sưu tầm)

http://karatedochoju.com

 

Khi các ni cô Nepal luyện võ Kung-Fu


Còn lâu mới đến 5 giờ sáng. Nhưng ở nữ tu viện Druk Gawa Khilwa ở Kathmandu, Nepal, các vị ni cô đã thức dậy luyện võ công.

Ý tưởng từ Việt Nam

Một chân gập về phía trước, một chân duỗi về phía sau, họ liên tục hít không khí vào đầy buồng phổi và cố gắng tập cho hoàn hảo một chuỗi những cú đá không chê vào đâu được.

Mỗi động tác của họ đều kèm theo những tiếng hô đầy nội lực – những tiếng kêu lanh lảnh sau những cú đá rầm rập.

Vận vào bộ nâu sồng truyền thống nhưng được sửa lại theo kiểu đồng phục karate, những gương mặt tươi cười của những vị ni sư này toát lên nội lực và sức mạnh không ngờ.

Họ là những ni cô học võ Kung Fu: những người phụ nữ duy nhất ở Nepal luyện môn võ công có thể làm chết người vốn đã nổi tiếng dưới sự thể hiện của huyền thoại võ thuật Lý Tiểu Long.

Trong một hệ thống tăng đoàn vốn tự thân đã nằm dưới sự chi phối của nam giới, phụ nữ được xem là đứng dưới nam giới.

Các vị tăng thường giữ tất cả các vị trí lãnh đạo, còn các ni sư chỉ làm các công việc quanh quẩn trong chùa và các việc tẻ nhạt khác.

Nhưng vào năm 2008, người đứng đầu dòng tu truyền thừa Drukpa vốn có lịch sử 1.000 năm, Đức Pháp chủ Gyalwang Drukpa, đã thay đổi mọi thứ.

Prakash Mathema/GettyBản quyền hình ảnhPRAKASH MATHEMA/GETTY
Image captionNăm 2008, Đức Pháp chủ Gyalwang Drukpa bắt đầu khuyến khích các ni sư học võ để biết cách tự vệ

Sau một lần đến thăm Việt Nam nơi Ngài nhìn thấy các ni cô được học võ công, Ngài đã quyết định áp dụng ý tưởng này ở Nepal bằng cách khuyến khích các vị ni sư ở đây học cách tự phòng vệ.

Mục đích của Ngài rất đơn giản: thúc đẩy bình đẳng giới và tạo sức mạnh cho những phụ nữ trẻ vốn đa phần đến từ những nơi nghèo khổ ở Ấn Độ và Tây Tạng.

Tập luyện căng thẳng

Mỗi ngày, 350 ni cô trong độ tuổi từ 10 đến 25 tham gia vào ba đợt luyện tập căng thẳng để trau dồi những chiêu thức mà họ được sư phụ dạy, người đến từ Việt Nam để dạy cho họ hai lần một năm.

Bên cạnh việc hoàn chỉnh các thế võ, họ còn sử dụng các vũ khí truyền thống, chẳng hạn như ki am (kiếm), dao nhỏ (đao), dao lớn (kích), tong (thương) và nunchaku (côn nhị khúc).

Những ni cô có sức mạnh về thể lực và tâm lý vượt trội sẽ được dạy chiêu chặt gạch vốn đã trở nên nổi tiếng trong vô số các bộ phim võ thuật.

Chiêu thức này chỉ được biểu diễn vào một số dịp đặc biệt, chẳng hạn như vào ngày sinh nhật của Đức Pháp chủ.

Các vị ni cô, đa số đều có đai đen, đồng ý rằng võ công giúp họ cảm thấy an toàn, trở nên tự tin, cho họ sức mạnh và giúp cơ thể họ khỏe mạnh. Còn thêm một lợi ích nữa, là việc tập võ là giúp tăng cường sự tập trung vốn giúp cho các ni sư ngồi thiền được lâu hơn

Jigme Konchok là một ni cô ngoài 20 tuổi, đã luyện võ được hơn năm năm.

Ni cô giải thích quá trình học võ của mình như sau: “Tôi lúc nào cũng phải chú ý đến các động tác để biết rằng động tác đó đúng hay sai để sửa lại ngay lập tức nếu cần. Tôi phải tập trung vào chuỗi các động tác mà tôi đã học thuộc cũng như từng động tác riêng lẻ ngay lập tức. Nếu tâm dao động thì các động tác sẽ không thể chính xác hoặc là gậy sẽ rơi. Ngồi thiền cũng giống vậy.”

Tràn đầy tự tin

Với danh nghĩa bình đẳng giới, Đức Pháp chủ Gyalwang Drukpa cũng khích lệ các ni cô học các kỹ năng vốn trước giờ là của nam giới, chẳng hạn như sửa ống nước, lắp đặt hệ thống điện, đánh máy, đạp xe và tiếng Anh.

Dưới sự chỉ đạo của Ngài, các ni sư được dạy để hướng dẫn các buổi tụng kinh và được trang bị những kỹ năng kinh doanh cơ bản – những công việc vốn dĩ thuộc phạm vi của tăng nhân – và họ điều hành nhà khách cùng quán nước của tu viện.

Các phụ nữ cấp tiến thậm chí còn lái những chiếc xe hai cầu xuống núi Druk Amitabha để đến Kathmandu nằm cách đó khoảng 30km để lấy vật dụng đồ dùng.

Với tâm tràn trề sự tự tin mới, các vị ni sư này đã bắt đầu vận dụng các kỹ năng và năng lượng này vào các công việc phát triển cộng đồng.

Khi Nepal xảy ra một trận động đất lớn hồi tháng Tư năm 2015, các ni cô không chỉ từ chối di tản đến nơi an toàn hơn mà còn lội bộ đến những ngôi làng lân cận để giúp dọn dẹp những đống đổ nát và dọn lối đi. Họ phân phát thực phẩm cho những người sống sót và giúp dựng lều để họ có nơi trú thân.

Có lần các ni cô – được chính Đức Pháp chủ dẫn đầu – đã đạp xe 2.200km từ Kathmandu đến Delhi để truyền bá thông điệp về ý thức bảo vệ môi trường và khuyến khích người dân sử dụng xe đạp thay vì đi ô tô.

Và khi các ni cô đến thăm các khu vực dẫy đầy bạo lực như ở Kashmir, họ đã thuyết pháp về tầm quan trọng của sự đa dạng và lòng khoan dung.

Nhưng chiếm vị trí quan trọng nhất trong chương trình làm việc của các ni cô vẫn là thúc đẩy việc tạo sức mạnh cho nữ giới.

“Võ công giúp chúng tôi xây dựng được một sự tự tin để có thể chăm sóc cho bản thân mình và người khác vào những lúc cần thiết,” Konchok giải thích.

 

tham khảo: https://www.bbc.com/vietnamese/vert-tra-43534562

Bản tiếng anh: http://www.bbc.com/travel/story/20160916-the-kung-fu-nuns-of-nepal

Nhát kiếm ám ảnh chiến binh samurai và bài học rút ra từ nghi lễ mổ bụng tự sát


IMG_0523

Trên đường về, người chiến binh samurai nghe như có tiếng “meo” từ tán lá cây, từ mỗi bước chân. Ngay cả những người qua đường nói chuyện xôn xao cũng chỉ còn vang lại tiếng “meo”.

Ngày xưa có một người chiến binh samurai đi câu bên bờ suối, câu mãi mới được một con cá. Đang sửa soạn cho một bữa cá nướng ngon lành thì bỗng nhiên từ trong bụi rậm vụt ra một con mèo, ngoặm lấy cá toan chạy mất.

Người samurai nổi giận, nhanh như cắt tuốt kiếm. Con mèo đứt làm đôi, chỉ kịp kêu một tiếng “meo” đầy hoảng hốt.

Lúc ấy, người samurai sực tỉnh, và cảm thấy rất hối hận vì việc mình vừa giết con mèo quá dã man. Trên đường về, ông nghe như có tiếng “meo” từ tán lá cây, từ mỗi bước chân trên đường.

Ngay cả những người qua đường nói chuyện xôn xao cũng chỉ còn vang lại tiếng “meo”. Gặp bạn bè ông cũng tưởng như họ giễu cợt mình bằng tiếng “meo”. Con cái cũng nói với ông bằng tiếng “meo”, mỗi lần chợp mắt lại thấy “meo”, tỉnh dậy cũng lại là “meo”…

Cuối cùng, không thể chịu đựng thêm được nữa, người samurai tìm đến một ngôi chùa trong vùng, để gặp vị sư già xin được giúp đỡ thoát khỏi cảnh khổ sở này.

Nghe kể chuyện xong, vị sư quở trách: “Sao một võ sĩ như ngươi lại có thể hèn mạt đến thế được? Nếu tự mình không thắng được những tiếng “meo” kia, thì chỉ còn cách mổ bụng tự sát như một hara-kiri chính trực! Ngươi hãy làm điều đó ngay bây giờ, trước mặt ta!”

Trong lòng vô cùng kinh sợ cái chết nhưng người samurai vẫn sửa soạn nghi lễ, từ từ đặt lưỡi kiếm lên bụng mình.

Vị thiền sư quát: “Bắt đầu đi!

Mồ hôi vã ra như tắm, người samurai run lẩy bẩy cầm thanh kiếm chuẩn bị đâm thì ngay lúc này, vị sư già lên tiếng:

– Còn nghe thấy tiếng meo không?

– Chao ôi! Không! Lúc này con không nghe thấy tiếng gì hết!

– Không còn nghe thấy tiếng “meo” thì không cần phải chết!
Ảnh minh họa
“Thanh kiếm” cắt đứt mọi vọng tưởng

Người samurai trong câu chuyện trên đã gần như phát điên bởi tiếng “meo”, là vì khi ăn không nghĩ tới chuyện ăn, khi ngủ không nghĩ tới việc ngủ, để cho tâm trí bị dẫn dắt bởi một con mèo trong quá khứ.

Nhưng ngay khi ông chuẩn bị chết và nghĩ tới cái chết, mọi suy nghĩ về con mèo, hay tiếng “meo” hoàn toàn bị cắt đứt. Tất cả nhường chỗ cho hiện tại.

Khi tâm trí không còn ở trong quá khứ và tương lai, làm việc gì ở trong việc ấy, là đã giữ được Chánh Niệm.

small_1199380691.nv

Từ xưa tới nay, các vị thiền sư vẫn luôn truyền dạy một điều rất đơn giản mà vô cùng quan trọng, đó là trở về với thực tại, sống trọn vẹn với toàn bộ những điều đang xảy ra: “Đói ăn, khát uống, mệt ngủ liền” – giống như Phật hoàng Trần Nhân Tông từng viết.

Sự nhất tâm ấy tuy rất đơn giản nhưng chứa đựng đầy đủ sự thật ở trong đó. Thiền sư Huệ Hải khi mô tả về cuộc sống tu thiền của mình cũng rất giản dị: “Khi đói thì ăn, khi mệt thì ngủ”, trạng thái sống của một thiền sư tự do với cuộc đời là như vậy.

Tuy đơn giản là thế nhưng không phải ai cũng muốn làm, mà thường xuyên ở trong trạng thái:

Khi ăn chẳng chịu ăn

Đòi trăm thứ cần dùng

Khi ngủ chẳng chịu ngủ

Tính toán chuyện mông lung

Mọi khó chịu hay đau khổ thường đến do những suy nghĩ không chịu ở trọn trong hiện tại. Hối tiếc quá khứ đã phạm sai lầm, “giá như mình đừng giết con mèo”, lo lắng cho tương lai “mình sẽ phát điên bởi tiếng meo” khiến cho người samurai cũng như tất cả chúng ta mất năng lượng một cách lãng phí.

Quá khứ không truy tầm

Tương lai ngừng ước vọng

Quá khứ đã đoạn tuyệt

Tương lai thì chưa đến

Tất cả những gì bạn có, chỉ là giây phút hiện tại này thôi. Sống trong hiện tại, biết những điều đang có ở hiện tại, đó chính là thanh kiếm cắt đứt mọi vọng tưởng gây ra đau khổ.

 

Ngọc ThảoTrí Thức Trẻ

 

GIẢI MÃ NHỮNG BÍ MẬT CỦA THIỀN ĐỊNH


Zen

Không cứ phải vào rừng kiếm một guru râu dài mới học được thiền.Tại Mỹ, giờ đây, nhiều khi không muốn ngồi thiền Thiền định đã trở thành môn học chính cũng khó vì giờ đây nó là khóa ở nhiều trường học của Mỹ môn được yêu cầu tại nhiều trường học, bệnh
viện, công ty luật, các tổ chức chính phủ và cả trong nhà tù…Trong các trường học bao gồm cả đại học, trung học cấp 2, cấp 3 và tiểu học ở Fairfeild, Iowa, sinh viên và học sinh ngồi thiền tập thể 2 lần mỗi ngày. Ngay tại các khách sạn khu Catskills ở New York đã trở
thành các trung tâm thiền nhanh đến mức được coi là Buddhist Belt (Vành đai Phật giáo).

examains
Trào lưu thiền định khởi phát từ văn hoá và y học. Ngày càng nhiều thầy thuốc ở Mỹ yêu cầu bệnh nhân ngồi thiền như một biện pháp phòng và điều trị các bệnh mạn tính như tim, AIDS, ung thư, vô sinh và đặc biệt là các bệnh rối loạn thần kinh, trầm cảm. “30 năm
nghiên cứu đã cho chúng tôi thấy thiền định có tác dụng tuyệt vời trong việc giảm stress”, Daniel Goleman cho biết. Ông là tác giả của cuốn Destructive Emotions (Những cảm xúc tiêu cực) – cuốn sách miêu tả cuộc đối thoại giữa Đạt Lai Lạt Ma và nhóm các nhà thần kinh học. Các kỹ thuật quét ảnh não tân tiến cho thấy thiền có thể “rửa” lại não, giải toả các khu vực căng thẳng vì máu ở tình trạng ách tắc…

Conceptual Mind

Human Mind series. Background design of brain human outlines and fractal elements on the subject of technology science education and human mind

Bộ não cũng giống như cơ thể, có thể trải qua những thay đổi cực nhỏ trong thiền định sâu. Năm 1967, giáo sư Herbert Benson ở Đại học Y Harvard đã tiến hành nghiên cứu trên 36 người thiền định và thấy rằng khi ngồi thiền họ dùng lượng oxy ít hơn bình thường 17%, giảm 3 nhịp tim/ phút và tăng sóng Theta ở não – hệt như trạng thái trước ngủ – trong khi toàn não vẫn tỉnh táo. Những năm 70, Benson còn chứng minh rằng: người ngồi thiền có thể đạt được trạng thái tỉnh táo hơn và hạnh phúc hơn. Benson nói: “Tất cả những gì tôi làm là dùng logic sinh vật học để giải thích môn thiền học được con người dùng hàng nghìn năm nay”.

15

Bảy năm sau, tiến sĩ tâm thần học Gregg Jacobs, Đại học Havard qua việc ghi sóng não đã phát hiện ra rằng những người ngồi thiền định có thể sản sinh ra rất nhiều sóng Theta và có thể phong toả phần não trước vốn nhận và xử lý cảm giác, ngoài ra họ cũng giảm thiểu
hoạt động ở phần thuỳ đỉnh não, nơi phụ trách các cảm giác về không gian – thời gian. Bằng cách “tắt” thuỳ đỉnh não, người ta có thể mất cảm giác về giới hạn và thấy vũ trụ “trở thành một”.

jaameditates
Công nghệ dựng ảnh não ra đời càng thúc đẩy thêm nhiều nghiên cứu. Năm 1997, nhà thần kinh học Andrew Newberg, thuộc Đại học tổng hợp Pennsylvania, đã dùng tia phóng xạ để xem áp lực máu trong não của một nhóm các thiền sư và phát hiện ra rằng khi họnhập định, não của họ không “tắt” mà chỉ phong toả các thông tin lên thuỳ đỉnh não. Nghiên cứu thiền định đã có một bước ngoặt vào  tháng 3/2000 khi Đạt Lai Lạt Ma gặp gỡ các nhà thần kinh học ở Ấn Độ và yêu cầu sử dụng các kỹ thuật dựng ảnh não hiện đại nhất để quan sát các đại sư thiền định (gắn đầy các điện cực).

to-su-dat-ma-3
Người Mỹ đang say mê thử các kỹ thuật thiền như Vipassana (tập thở), thiền định (đi bộ chậm trong tỉnh giác), TM (thần thiền, bằng cách nhắc đi nhắc lại những câu thần chú tiếng Phạn). Dzogchen (tỉnh giác) và thậm chí cả thiền vũ (nhảy theo nhạc). Roger Walsh, giáo sư triết học, tâm thần học, Đại học tổng hợp California, nói: “Chỉ những năm gần đây ngành tâm thần học phương Tây mới chỉ nhận ra hội chứng nhiễu loạn chú ý mất tập trung). Nhưng các thiền giả phương Đông đã biết từ hàng nghìn năm trước rằng con người luôn bị nhiễu loạn chú ý mà không ý thức được”.

yoga-chakra

Hơn 10 năm trước, tiến sĩ Dean Ornish đã khẳng định thiền cùng với yoga và ăn kiêng có tác dụng giảm thiểu sự tích tụ các mảng bám ở động mạch vành. Tháng 4/2003, tại đại hội của Hội Tiết niệu Mỹ, ông đã công bố nghiên cứu rằng: Thiền định có thể làm chậm lại sự
phát triển của ung thư tuyến tiền liệt. Tại Đại học Cambridge, John Teasdale chứng minh rằng: Thiền giúp bệnh nhân trầm cảm rất hiệu quả và giảm tới 1/2 khả năng tái phát bệnh. Ngoài ra, Jon Kabat-Zin, người thành lập Trung tâm trị liệu Stress năm 1979, đã giúp đỡ hơn 14.000 người vượt qua các bệnh đau đớn mà không cần dùng thuốc bằng cách tập trung thiền định. Jon nói: “Thiền định cực kỳ hữu dụng với những bệnh nhân ung thư, AIDS hay các bệnh nhân đau mạn tính”.

IMG_2271

Cũng theo Jon, kỹ thuật thiền định càng hoàn hảo, con người càng có nhiều kháng thể và hệ thống miễn dịch trong cơ thể càng lớn mạnh. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu mới cũng cho thấy thiền đôi khi có thể thay thế được Viagra vì nó mang lại rất nhiều sinh lực. Nữ nghệ sĩ Heather Graham bắt đầu ngồi thiền từ 12 năm trước dưới sự hướng dẫn của David Lynch, đệ tử của Maharishi nổi tiếng: “Thiền định đã khiến đời tôi đổi khác”, chị nói. “Vào cuối ngày, những câu chuyện
phức tạp ở phim trường chẳng còn ý nghĩa gì với tôi nữa”. Rất nhiều người Mỹ nổi tiếng đã ngồi thiền như: Goldie Hawn, với thiền phòng đầy ảnh Đạt Lai Lạt Ma và mẹ Teresa; hay Bill Ford, ông chủ hãng Ford Motors; cả Hillary Clinton cũng ngồi thiền; rồi vợ chồng nhà Al Gore. “Cả hai chúng tôi đều tin tưởng vào cầu nguyện và đặc biệt làthiền định”, Al Gore, cựu phó tổng thống Mỹ đã nói.

 

Hình minh họa : internet

Tham khảo : Trích mục 19 – Sách Bí Ẩn Nhân Loại – Minh Anh soạn – Nhà Xuất ản Từ Điển Bách Khoa

Kỷ Nguyên Sáng Tạo liên quan gì với châu Á và Đạo Phật?


Motivation Mondays: A QUESTION of BALANCE - How do we create it in our lives?

Lĩnh vực sáng tạo ở Mỹ chiếm 30% tổng số người lao động (nhiều hơn lĩnh vực sản xuất) và tạo ra 2 nghìn tỷ đôla thu nhập (gần bằng lĩnh vực sản xuất và dịch vụ công lại). Giai tầng sáng tạo (Creative Class) bao gồm giới khoa học, kỹ sư, văn nghệ sỹ, diễn viên, nhà thiết kế, kiến trúc sư, nhà ứng dụng (Adopter), nhà tư tưởng, nhà báo, những người mang tính sáng tạo trong y tế, luật pháp, kinh doanh, công nghệ cao, vv.

Theo Gs. Richard Florida (Carnegie Mellon, Mỹ), Sự Sáng Tạo của Con Người là nguồn kinh tế tối thượng (ultimate economic resource). Ông đã làm nhiều người (và chính mình) sửng sốt khi phát hiện các mối tương quan giữa tính Sáng Tạo với Văn Hóa, Tâm-Sinh Lý, Quan Điểm…của con người. Theo Gs Florida, ba yếu tố đem lại sự Sáng Tạo. Đó là Công Nghệ (Technology), Nhân Tài (Talent) và Lòng Khoan Dung (Tolerance) – 3 chữ T. Ông phát hiện mối tương quan thuận giữa Sáng Tạo với sự Đa Văn Hóa (Melting Pot Index), Tính Văn-Nghệ-Sỹ (Bohemian Index) và cộng đồng những người đồng tính (Gay Index). Những phát hiện của ông đóng góp nhiều, thậm chí đảo ngược quan  điểm trong việc hoạch định các vùng, miền sáng tạo. Singapore đã áp dụng các phát hiện này để có các biện pháp phát triển đất nước dựa trên Đổi Mới-Sáng Tạo (Innovation).

Bán Cầu Não Phải và tính Sáng Tạo

Kỷ Nguyên Thông Tin (Information Age) với ưu thế của Bán Cầu Não Trái (BCNT) đang dần lắng xuống, nhường bước cho Kỷ Nguyên Sáng Tạo (Creative Age) của Bán Cầu Não Phải (BCNP) chuyên cho sự Thấu Cảm và khả năng Phát Minh.

Bán Cầu Não Trái => Suy Nghĩ => Tri Thức Bán Cầu Não Phải => Quán Tưởng => Sáng Tạo
– Mang tính tuần tự (sequential)

– Nặng về nghĩa “đen” (literal)

 

– Thiên về chức năng (functional)

– Nệ câu chữ (textual), “hình”

– Nặng về phân tích (analytic)

– Logic, Tri Thức (Knowledge), Ý Thức (Consciousness)

– Thiên về tạo ra Tri Thức, dễ coi Tri Thức là Mục Đích; Nhận biết bản thể qua Tri Thức

– Tiệm cận bản thể bằng lý trí và gián tiếp qua các trung gian, khái niệm…

– Tạo ra cái Ảo (Virtuality), qua Mô Phỏng để biết bản thể

– Tiệm cận; không bao giờ nhất thể hóa với bản thể

 

– Liên quan nhiều tới Nghiên cứu (tạo ra Lý Thuyết)

– Một cách đồng thời (simultaneous) – Thiên về nghĩa “bóng” (metaphorical)

– Thiên về thẩm mỹ (aesthetic)

– Nắm ngữ cảnh (contextual), “thần”

– Thiên về tổng hợp (synthetic)

– Phi logic, Thấu Cảm (Empathy), Vô Thức (Sub-consciousness)

– Vượt qua, phá bỏ Tri Thức, coi Tri Thức là Phương Tiện; hướng tới đồng hóa với bản thể

– Cảm nhận bản thể trực tiếp qua giác quan, không qua trung gian, khái niệm…

– Phá cái Ảo, Phá Chấp để nhập vào bản thể

– Tiệm cận (Tiệm Ngộ), có thể nhất thể hóa với bản thể (Đốn Ngộ) => gần với Phát Minh, Khám Phá

– Liên quan nhiều tới Ứng Dụng (tạo ra Bản Thể), Sáng Tạo-Đổi Mới (Innovation), Phát Minh (Inventiveness), Phám Phá (Discovery)

BCNT dần mang lại Ánh Sáng của Trí Tuệ, nhưng luôn là Ảo. BCNP là sự Mờ Tối, Hỗn Độn của cõi Vô Thức, nhưng lại chứa đựng sự Thông Tuệ tối thượng vì đó chính là Thiên Nhiên, là Bản Thể. Vì vậy, các phát minh, khám phá, ứng dụng, sáng tạo – những điều luôn gắn với bản thể – luôn xuất phát từ BCNP. Nhận ra sự (có vẻ như) phi lý này, Lão Tử gọi đây là sự Mờ Tối của Thông Tuệ.

Hoạt động của BCNP (giác quan, sự thấu cảm, khả năng quán cảm, quán tưởng) không chỉ là bẩm sinh và có giới hạn mà luyện tập được, vô hạn, thậm chí có thể đưa người ta đến những tầng thức tưởng như siêu hình (meta-physic), siêu nhiên. Như vậy, để có Tri Thức (tức là có một sự mô phỏng gần đúng sự vật trong tư tưởng), cần Học (Learning) dựa trên các logic. Còn để sáng tạo (tức là áp dụng Tri Thức vào thực tế), người ta cần Hành, cần “Chơi” (Play) theo một nghĩa nào đó để cảm nhận, quán tưởng phi logic các bản thể. Hiện nay, người ta hướng trẻ em vào các hoạt động thể thao, nghệ thuật, giao lưu…hơn là vào học tập hàn lâm. Chỉ số Tình Cảm (EQ) liên quan nhiều hơn đến một cuộc sống, sự nghiệp lành mạnh, cân đối so với Chỉ số Thông Minh (IQ).

Nhìn nhận sự hạn chế, thậm chí bất lực, của Tri Thức và các biện pháp, công cụ của nó trong việc nhận biết bản thể, cổ nhân nói “Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận lời, lời bất tận ý”“Đạo khả đạo phi Thường Đạo; Danh khả danh phi Thường Danh” (Chân Lý khi đã được nêu ra thì không còn là Đạo trường tồn, bất biến nữa; Sự thể khi đã có tên gọi thì tên gọi đó không phản ánh đúng sự thể đó nữa). (Sách không hết ngôn từ, ngôn từ không hết lời lẽ, lời lẽ không hết ý tứ). BCNP không dùng ngôn ngữ, lý luận, cũng đúng như Đạo Phật coi Bản Thể là “bất khả tư nghì” (không thể nghị bàn được). Hơn 2 ngàn năm trước, Lão Tử đã có một tuyên ngôn cương cường, bất hủ, thách thức Tri Thức hàn lâm dựa trên logic và ngày nay còn chân giá trị:

Trước kỷ nguyên sáng tạo, BCNT, Ý Thức, luôn điều khiển, chỉ lối cho BCNP. Trong kỷ nguyên Sáng Tạo, người ta nhận ra rằng BCNP, Sự Thấu Cảm, mới dẫn dắt, quán xuyến chúng ta trọn vẹn nhất.

Ba yếu tố gây sự bùng nổ của Tính Sáng Tạo  

Kỷ Nguyên Sáng Tạo xuất hiện nhờ sự hội tụ của 3 yếu tố: Sự Dư Thừa (Abundance), Châu Á (Asia) và Tự Động Hóa (Automation) – 3 chữ A.

Thứ nhất, sự “Dư Thừa” về hàng hóa của nền đại công nghiệp làm xuất hiện nhu cầu về Tính Khác Biệt. Sự Khác Biệt chỉ có được nhờ sự Sáng Tạo.

Thứ hai, Châu Á hội nhập đem lại 2 yếu tố quan trọng. Một, đó là nơi làm thuê khoán ngoài (out-sourcing) nhiều nhất để các nước phát triển chuyên chú hơn vào sáng tạo. Thứ nữa, châu Á đem lại một phương pháp sáng tạo khác hẳn, thậm chí trái ngược với phương Tây. Phương pháp này, đặc trưng là cách Quán Cảm bản thể của Đạo Phật, tương đồng một cách kinh ngạc với phương pháp luận sáng tạo hiện đại mà phương Tây đang đi sâu nghiên cứu và áp dụng.

Thứ ba, Đông Tây hợp tác được nhờ Công Nghệ, thiết bị…được biểu trưng bằng “Tự Động Hóa”.

Sự kết hợp của phương Tây nhiều Tri, ít Ngộ với phương Đông nhiều Ngộ, thiếu Tri đem lại sức Sáng Tạo chưa từng có cho Nhân Loại. BCNP chuyên về sự Thấu Cảm, Quán Tưởng bản thể như một Nhất Thể (không phân tích) một cách đồng thời, không qua trung gian, với toàn bộ ngoại cảnh, thậm chí kể cả thời gian. Đây cũng là điều Phật Pháp hướng tới từ hàng ngàn năm nay.

Sự Khác Biệt

Kỷ nguyên Sáng Tạo là của những người áp dụng Tri Thức vào thế giới thực. Lúc này, tri thức logic, trong một chừng mực nào đó, lại là rào cản con người đến với thực tế, đến với sáng tạo, đặc biệt ở những nước thụ động tiếp nhận tri thức. Các công ty công nghệ, sáng tạo Mỹ cần ngày càng nhiều Thạc sỹ Mỹ Thuật (Master Of Fine-Arts, MFA) thay vì Thạc sỹ Quản Trị Kinh Doanh (Master Of Business Administration, MBA). Nhiều trường đại học đã đưa các môn mỹ thuật, nghệ thuật vào khoa kinh doanh hoặc hướng sinh viên lấy hai bằng về kinh doanh và mỹ thuật (double degree).  Ắt hẳn các nhà vật lý lý thuyết đã chân nhận điều này ngay từ nửa đầu thế kỷ 20 khi Niels Bohr nói “Chúng ta phải hiểu rất rõ rằng, khi đến với những nguyên tử, chỉ có thể dùng được ngôn ngữ của thi ca”.

Trong Kỷ nguyên Sáng Tạo, người ta ít nệ vào lý lẽ (Argument), mà thuyết phục qua kể chuyện (story telling); Không quan sát sự vật qua lần lượt phân tích lý, hóa tính…như nghe những bản Độc Tấu riêng lẻ của các nhạc cụ khác nhau (Solo, Focus) mà thưởng thức một Hòa Tấu (Symphony) của tất cả các nhạc cụ; Không hành động chỉ với Ý Thức (Seriousness) mà trải nghiệm sự cuộc chơi của Vô Thức (Play) với tất cả các giác quan.

Trong Kỷ nguyên Sáng Tạo, không phải Trí-Thức, mà “Cảm”-Thức mới là người mang lại giá trị gia tăng cao cho xã hội. Tính Sáng Tạo ít phụ thuộc vào Học Vấn mà vào Cách Sống. Trí Thức không còn ở bậc thang cao trong xã hội mà là Giai Tầng Sáng Tạo bao gồm rất nhiều các ngành nghề, cách sống, bản ngã, văn hóa, sắc tộc…khác nhau trên thế giới. Nếu các nước đang phát triển biết khai thác tốt khả năng sáng tạo của mình, bản đồ phân bố Tính Sáng Tạo của thế giới sẽ hoàn toàn khác so với ngày nay. Theo Gs. Florida, Kỷ nguyên Sáng Tạo là một cuộc chơi hoàn toàn rộng mở…(The Creative Age is a wide-open game…). Con người ngày càng tự do hơn, thoát khỏi các ràng buộc vật chất, các ước lệ hữu hạn thông qua việc nhất thể hóa với Thiên Nhiên.

 

Tham khao: http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/ky-nguyen-sang-tao-lien-quan-gi-voi-chau-a-va-dao-phat-2333

Tâm lượng rộng lớn


Duc Phat

“Khi đã nếm trải hương vị của bầu trời, bạn sẽ vĩnh viễn ngước nhìn lên”. Hãy cảm nhận thật kỹ câu nói này của Leonardo da Vinci, mở rộng mọi giác quan để cảm nhận sự kết nối vô hình giữa bản thể của bạn với vũ trụ vô tận, có thể bạn sẽ mơ hồ nhận thấy một rung động kỳ lạ trong tâm khảm.

tuong-Phat-nam-2
Rung động kỳ lạ đó có nguồn gốc từ bản năng có trong mọi cá thể, khát vọng chinh phục vị thế trong không gian, từng được người viết đề cập trong bài Vị thế và không gian (I): Luận về cội nguồn nghệ thuật1; và Vị thế và không gian (II): Luận về cội nguồn tôn giáo và khoa học2. Trong bài viết lần này, tôi sẽ phác thảo một bức tranh có tính hệ thống hơn, trước hết chỉ ra mối liên hệ giữa bản năng chinh phục vị thế trong không gian với trí tuệ Bát Nhã, và xa hơn là một ý thức hướng tới điều mà Einstein gọi là Đạo của vũ trụ cũng như ý nghĩa thực tiễn của nó trong đời sống, không chỉ trong tôn giáo mà cả khoa học, nghệ thuật, và rộng hơn nữa.

Trí tuệ Bát Nhã

Dưới cái nhìn của nhà Phật, tâm người có thể chia thành hai phần: phần nổi là những dục vọng; phần chìm là Phật tính. Phật tính ai cũng có nhưng không dễ nhận biết vì thường bị dục vọng che mờ. Vì vậy, một cách logic, con đường tu hành trong Phật giáo có mục đích giúp con người tìm thấy Phật tính của mình, bằng cách gạn đục khơi trong, yêu cầu người tu hành kiểm soát các dục vọng, không để chúng làm chủ thân – tâm mình. Tuy nhiên, trở ngại mấu chốt trên con đường này là không ít người trong chúng ta không có định hình cụ thể và rõ ràng về Phật tính. Chúng ta thường nghe về đức Phật đại từ, đại bi, những khái niệm nghiêng về sắc thái siêu phàm, một biểu tượng để ngưỡng vọng hơn là cái đích gần gũi, cụ thể, phù hợp để mọi người có thể phấn đấu hướng tới. Điều đó dẫn tới sự thiếu định hướng của người tu hành trong quá trình kiểm soát dục vọng. Một cách dễ hiểu, khi ta không có mục tiêu và định hướng rõ ràng, thì việc kiểm soát dục vọng, một đối tượng đầy sức mạnh bản năng và tưởng chừng bắt rễ sâu trong từng tế bào, là điều vô cùng gian nan, và người ta mặc định rằng chỉ có những bậc chân tu ý chí sắt đá mới được coi là phù hợp cho việc tu hành. Mặt khác, cũng không ít người quan niệm sai lệch, đánh đồng Phật tính với sự vắng lặng, dẫn tới nỗ lực triệt bỏ dục vọng một cách máy móc, hoặc là thái độ chấp vào chủ nghĩa hư vô.

Từ khoảng thế kỷ thứ 7, Lục tổ Huệ Năng đã chỉ ra một cách tiếp cận về tu hành có tính khoa học, trái ngược với phương thức triệt bỏ dục vọng theo quán tính máy móc. Tập Pháp Bảo Đàn Kinh ghi lại những chỉ dẫn về tu hành, có cấu trúc chia thành mười phẩm, thì ngay từ phẩm thứ hai đã chỉ ra đâu là mục tiêu tối hậu mà người tu hành cần hướng tới: trí tuệ Bát Nhã. Trí tuệ Bát Nhã có thể hiểu tóm lược là “tâm lượng rộng lớn như hư không”. Đó là sự biểu hiện trực quan nhất của Phật tính với sự tương phản sâu sắc với những dục vọng của chúng sinh.

Chúng ta thường mưu sinh trong những không gian hẹp – không gian ở đây hiểu theo nghĩa trừu tượng, không nhất thiết là không gian vật lý – gắn với những mối làm ăn, những quan hệ xã hội, những biến hóa được/mất. Bản năng chinh phục không gian khiến chúng ta say mê theo đuổi, đắm chìm trong những không gian ấy, kèm theo đó là vô tận những dục vọng không ngừng sinh sôi và phát triển. Ta không có ý thức, hoặc không coi trọng thực tế rằng đó chỉ là những không gian hẹp so với thế giới rộng lớn bên ngoài chúng. Đồng thời, ta cũng không nhận ra rằng thế giới nội tâm của mình thực chất có thể phong phú, phức tạp, và sâu thẳm hơn những điều bấy lâu nay mình hằng vướng bận.

Việc nhận biết về trí tuệ Bát Nhã, hay “tâm lượng rộng lớn như hư không” là một sự thức tỉnh. Sự thức tỉnh đó không chỉ có trong Phật giáo, cũng không chỉ giới hạn trong các tôn giáo, mà có thể trên mọi lĩnh vực, trong đó điển hình là khoa học và nghệ thuật. Những bậc vĩ nhân khi đi đủ xa trên hành trình khám phá trong từng lĩnh vực hẹp của mình đều nhận thấy khát vọng chinh phục, hòa cái tôi riêng lẻ vào một không gian tối hậu cuối cùng.

Điều đó thể hiện rõ khi Einstein viết về Đạo của vũ trụ trong cuốn Thế giới như tôi thấy của ông: “Một cá nhân cảm thấy sự phù phiếm trong những  ham muốn và mục đích của con người, [tương phản với] sự hùng vĩ cùng trật tự huyền diệu hiển hiện trong thiên nhiên cũng như trong thế giới nội tâm. Sự tồn tại của cá nhân đối với anh ta trở nên như một thứ tù ngục và anh ta muốn trải nghiệm tất cả vũ trụ như một chỉnh thể thống nhất đầy ý nghĩa.3

Khi “tâm lượng rộng lớn như hư không” thì tất cả những không gian khác mà lâu nay chúng ta vẫn đắm đuối chợt lộ rõ tầm vóc khiêm tốn của chúng. Ta chợt nhận ra rằng trong những không gian hẹp người ta có thể đạt được sự thỏa mãn tạm thời, nhưng ta sẽ sớm trở nên thất lạc, chán nản nếu không tìm thấy sự gắn kết với thế giới bên ngoài chúng. Chỉ khi tâm mình hòa thành một thể thống nhất với không gian rộng lớn như hư không thì mới đạt tới sự viên mãn chân chính. Câu nói của Leonardo da Vinci, người họa sỹ kiêm sáng chế gia thiên tài, cũng như suy nghiệm của Einstein trên đây, đều có hàm ý này.

Một vài ý nghĩa thực tiễn 

Như vậy, “tâm lượng rộng lớn như hư không” là một chỉ dấu giúp chúng ta định vị mình, từ đó chỉ ra phương hướng đúng đắn, tuy không quá cụ thể nhưng khá trực quan, trên con đường của mình. Dù là ai, ở đâu, trong hoàn cảnh nào, ta đều có thể dừng lại tự hỏi: liệu tâm lượng mình có đang nhỏ hẹp hay không, có đang mê chấp trong một ảo vọng hay không, liệu tâm ta có thể rộng rãi và khoáng đạt hơn một chút hay không. Và khi trái tim cùng tâm trí ta đã được điều tiết để mở rộng hơn một chút như vậy, một thời gian sau ta lại lặp lại cùng một quá trình đó, để tâm lượng mình lại tiếp tục mở rộng thêm một chút. Đó là một tiến trình lâu dài, có thể là vô tận, nhưng có định hướng rất rõ ràng, phù hợp với sự tu hành nhập thế của tất cả mọi người.

Cũng với tinh thần như vậy, chúng ta có một căn cứ định vị để đánh giá các giá trị trong xã hội, để biết đâu là cái chân chính, đâu là hư ngụy. Ta sẽ không dễ bị dao động ảnh hưởng bởi những xu thế sùng bái của đám đông. Cái thiện và cái đẹp chân chính vốn ẩn chứa sẵn trong mỗi con người, cụ thể là trong “tâm lượng rộng lớn như hư không”; mọi sự tinh tế, huyền diệu đều hàm chứa trong đó. Khi ta lắng nghe một bản nhạc và xúc động thì cái đẹp đó không phải từ bên ngoài thâm nhập vào trong ta, mà thực chất đó là sự gợi ý, đánh thức cái đẹp sẵn có trong ta tỉnh dậy. Bởi vậy, những giá trị chân chính phải là những gì đánh thức cái đẹp, cái thiện tiềm ẩn sẵn trong ta, khiến tâm lượng ta mở rộng hơn, về gần hơn với “tâm lượng rộng lớn như hư không”.

Ý nghĩa thực tiễn cuối cùng chính là cách chúng ta giáo dục thế hệ tương lai. Hãy đặt câu hỏi rằng một đứa trẻ sinh ra vốn đã sẵn có “tâm lượng rộng lớn như hư không”, vậy điều gì đã làm nó quên mất điều ấy? Phải chăng lỗi do chính chúng ta, những người nuôi dạy chúng? Và nếu như vậy ta phải làm gì để đứa trẻ nhớ lại bản ngã lớn lao của nó? Đó là những câu hỏi không dễ trả lời đầy đủ, nhưng để ngắn gọn, ta có thể nói rằng: cần một tâm lượng rộng lớn để vun trồng, chăm sóc đúng nghĩa một tâm lượng rộng lớn khác.
———
1 http://tiasang.com.vn/-van-hoa/phan-1-luan-ve-coi-nguon-nghe-thuat-4530
2 http://tiasang.com.vn/-van-hoa/phan-ii-luan-ve-coi-nguon-ton-giao-va-khoa-hoc-4536
3 Nguyên văn: “The individual feels the futility of human desires and aims and the sublimity and marvelous order which reveal themselves both in nature and in the world of thought. Individual existence impresses him as a sort of prison and he wants to experience the universe as a single significant whole.”

 

Phạm Trần Lê

http://tiasang.com.vn/-van-hoa/Tam-luong-rong-lon-10798

Albert Einstein và đạo Phật


tuong-Phat-nam

Gần đây có nhiều độc giả thắc mắc về mối liên hệ giữa nhà khoa học thiên tài Albert Einstein (1879-1955) và Đạo Phật như thế nào? Vì họ thấy đây đó có nhiều trích dẫn lời phát biểu của ông về Đạo Phật. Bài viết sau đây sẽ đề cập đến mối liên hệ ấy.

Dù chưa đầy đủ, nhưng hy vọng rằng nó sẽ là mấu chốt để chúng ta phăng tìm những tư liệu chi tiết về sau:

Ông Albert Einstein, sinh ngày 14 tháng 03 năm 1879 tại thành phố Ulm, Đức quốc, trong một gia đình làm nghề thủ công và tiểu thương. Bố là một người giỏi về hóa học và mẹ là người có khiếu về âm nhạc. Năm 1894, gia đình ông di cư sang sống tại Ý. Ông được bố gởi đi học ở Thụy Sĩ và đã tốt nghiệp tiến sĩ triết học tại Đại học Zurich. Sau khi ra trường, ông được mời dạy toán và vật lý tại một trường bách khoa ở Thụy Sĩ, ngoài việc dạy học, ông dành hết thời gian còn lại để nghiên cứu vật lý học và ông còn làm việc tại văn phòng thẩm tra cấp bằng sáng chế ở Berne, Thụy Sĩ. Năm 1905, ông gởi đăng bài “Lý thuyết tương đối hẹp” dài 5 trang trên tờ Physics. Bài báo nhanh chóng được chú ý và nó là tiếng nổ lớn của ngành khoa học về không gian và thời gian, ông đã phá vỡ các khái niệm tuyệt đối về không gian và thời gian của nhà vật lý học và toán học vĩ đại, Issaac Newton (1642-1727). Lập tức tên tuổi của ông được nhiều người biết tới và được xem là một khoa học gia nổi tiếng nhất vào thời điểm ấy.

Năm 1911, Ông là giáo sư vật lý ở Prague. Năm 1913, ông được mời làm giám đốc Học Viện Vật Lý Hoàng Đế Wilhelm tại Berlin. Đến năm 1921, ông được trao giải thưởng Nobel về Vật lý học qua đề án nghiên cứu “Lý Thuyết Tương đối” (The Theory of Relativity). Trong thế chiến thứ nhất (1914-1918), ông từng bị tống giam vì tội “chống chiến tranh và ủng hộ hòa bình”. Sau khi Adolf Hitler (1889-1945) trở thành quốc trưởng của Đức, ông ra sức chống lại chủ nghĩa phát xít và rời bỏ nước Đức sang sống tại Hoa Kỳ.

Từ năm 1933 đến năm 1945, ông là giáo sư toán và lý tại Viện Cao học Princeton ở bang New Jersey. Phát xuất từ lòng căm thù chủ nghĩa phát xít mà ông đã giúp cho Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt (1882-1945) chế tạo bom nguyên tử và cuối cùng bị xem là “cha đẻ” của thứ vũ khí giết người này. Đây cũng là lý do mà về sau năm 1950, ông thành lập Viện Kiểm Soát Nguyên tử Quốc tế tại Hoa Kỳ.

Ba thập niên cuối đời mình, ông dành thời gian để nghiên cứu về “Lý thuyết thống nhất giữa lực hấp dẫn và hiện tượng điện quang” (The Theory of unify gravitation and eletro-magnetism).

Mặc dù bận rộn nghiên cứu và giảng dạy khoa học, nhưng ông Einstein vẫn dành thời gian nhất định để nghiên cứu triết học và tôn giáo, đặc biệt trong đó có Đạo Phật. Theo tài liệu “The World As I See It” (Trần thế khi tôi nhìn thấy nó, nhà xuất bản Philosophical Library, New York, 1949) và quyển “Ideas and Opinions” (Những Ý Kiến và Những Quan Điểm, nhà xuất bản Crown, NY, 1945) là hai tuyển tập những bài báo, bài tham luận về tôn giáo và khoa học mà ông Einstein viết từ đầu những năm ba mươi. Đáng chú ý trong tập này là các bài như “Religion and Science” (Tôn giáo và Khoa học), viết từ 1930; bài “Science, Philosophy & Religion, A Sumposium” (Khoa học, Triết học và Tôn giáo, một buổi hội thảo) viết năm 1941; bài “Religion and Science: Irreconcilable?” (Tôn giáo và Khoa học: không thể hòa giải được sao?) viết vào năm 1948.

Theo các tài liệu trên thì chính A. Einstein tự xem mình là một người thuộc về tôn giáo. Tôn giáo của ông được người ta biết qua lý thuyết khoa học của ông. Ông bác bỏ sự thần thánh hóa trong tôn giáo, ông quan tâm đến đời sống con người ở hiện tại và ngay cả sau khi chết. Trong các buổi hội thảo về triết học và tôn giáo, có lúc ông trích dẫn lời của Chúa, rồi có khi ông dẫn lời trong kinh Phật. Quan điểm của ông về tôn giáo chưa bao giờ có hệ thống và nhất quán. Tuy nhiên, với trí tuệ sắc bén và lòng ngưỡng mộ của ông đối với các tôn giáo đã giúp cho ông hiểu đúng và chính xác về các tôn giáo mà ông để tâm nghiên cứu. Ông vẫn thường nhắc nhở các nhà khoa học nên học hỏi ở các tôn giáo để bổ sung cho những khiếm khuyết của khoa học. Ông nói: “Khoa học mà thiếu tôn giáo là khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng” (Science without religion is lame. Reigion without science is blind).

Cũng theo các tài liệu trên cho thấy, ông đã nghiên cứu Đạo Phật qua các sách báo của các học giả Phật học của người Âu Mỹ viết, đáng kể là triết gia người Đức Schopenhauer Arthur (1788-1860), tiến sĩ người Đức Paul Carus (1852-1919), viện sĩ hàn lâm người Nga Vasily Vasaliyey (1818-1900)… là những nhà Phật học nổi danh ở phương Tây. Nhờ nghiên cứu như vậy mà A. Einstein đã nhìn thấy Đạo Phật như là một triết lý phương Đông cực kỳ sống động và triết lý ấy đã đi vào cuộc đời bằng chân lý thực chứng của mình, ngỏ hầu cắt ngang sự chậm tiến, lạc hậu, mê tín, cuồng tín và kém văn minh của thời đại. Đạo Phật đã đem lại cho con người một cái nhìn mới, một lối sống mới, một sự hài hòa mới, sống với nhau như ánh sáng trong không gian, chan hòa với nhau như nước với sữa. Chính vì thấy rõ cái độc đáo đó mà ông Einstein đã phát biểu về Đạo Phật như sau : “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó” (The religion of the future will be a cosmic religion. It would transcend a person God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sence, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description). Đồng thời, một lần khác ông cũng khẳng định rằng: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học” (If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific finding. Buddhism need no surrender its view to science, becauseit embrances science as well as goes beyond science). (Cả hai câu trên được trích từ Collected famous quotes from Albert Einstein. http://rescomp.stanford.edu/~ cheshire/ Einstein quotes.htm).

Dù những lý thuyết khoa học của ông rất phức tạp và khó hiểu, nhưng tấm lòng nhân đạo và mến chuộng hòa bình của ông đã khiến cho mọi người cảm thấy gần gũi với ông. Ông đã cống hiến tất cả trí tuệ và sức lực của mình đối với sự phát triển khoa học của nhân loại. Ông làm việc không biết mệt mỏi cho đến ngày qua đời. Ông mất vào lúc 1giờ 25 phút rạng sáng ngày 19 tháng 04 năm 1955 tại Princeton, Hoa Kỳ, hưởng thọ 76 tuổi. Ngày nay, đối với mọi tín đồ Phật Giáo trên khắp năm châu đều thành kính khi nhắc đến tên tuổi của ông, người đã từng góp phần khẳng định lại giá trị vĩnh cửu đối với Giáo lý của Đạo Phật.

 

Lê Văn Phước

http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/245/0/3049/Albert_Einstein_va_dao_Phat

 

Chuyện đời của một kỹ sư phần mềm Ấn Độ – Cuộc sống chỉ có vậy thôi sao?


Dragging your office to the office?

Thực hiện giấc mơ của hầu hết các bậc phụ huynh tại Ấn Độ, tôi đã tốt nghiệp đại học với mảnh bằng kỹ sư máy tính và xin được vào làm việc tại một công ty phần mềm có trụ sở tại Mỹ, mảnh đất của những con người dũng cảm và có rất nhiều cơ hội. Khi tôi đặt chân lên đất Mỹ, đó cũng là lúc giấc mơ trở thành sự thật.

Cuối cùng thì tôi cũng đã đến được nơi mà mình muốn. Tôi quyết định là mình sẽ làm việc ở Mỹ trong vòng khoảng 5 năm, và trong thời gian đó tôi sẽ kiếm đủ tiền để quay trở về sống tại quê nhà Ấn Độ.

FatherAndSon

Nhưng một câu hỏi luôn dằn vặt tôi mỗi đêm là “Tất cả cuộc sống chỉ có vậy thôi sao?

Bố tôi là một công chức nhà nước và sau khi ông nghỉ hưu, tài sản duy nhất ông có thể kiếm được là một căn hộ khá tốt với chỉ một phòng ngủ.

Tôi muốn làm một điều gì đó nhiều hơn ông. Sau một thời gian, tôi bắt đầu cảm thấy rất nhớ nhà và cảm thấy cô đơn. Tôi thường gọi điện về nhà để trò chuyện với bố mẹ tôi mỗi tuần bằng cách sử dụng các thẻ điện thoại gọi quốc tế giá rẻ. Hai năm trôi qua, cũng là 2 năm tôi luôn phải gặm bánh Burger tại các cửa hàng McDonald’s hoặc bánh pizza và nghe nhạc disco, và trong 2 năm đó tôi thường xuyên theo dõi tỷ giá tiền tệ và thường cảm thấy hạnh phúc khi thấy trị giá đồng Rupee (đồng tiền của Ấn Độ) giảm xuống so với đồng đô-la. (Vì điều này khiến những đồng đô-la mà tôi tích cóp sẽ có giá trị hơn khi tôi quay về Ấn Độ.)

Cuối cùng tôi quyết định mình nên lập gia đình. Tôi nói với cha mẹ mình rằng tôi chỉ có 10 ngày trong dịp nghỉ phép và mọi thứ phải hoàn thành nội trong vòng 10 ngày ngắn ngủi đó. Tôi đặt vé máy bay trên một chuyến bay thuộc loại giá rẻ nhất. Vui mừng và thực sự thích thú là những cảm xúc đan xen khi tôi nghĩ đến việc quay về gặp lại gia đình và các bạn bè của mình. Tôi băn khoăn liệu mình có bỏ sót bất kỳ ai mà tôi nên gặp lại và nói chuyện hay không. Sau khi về đến nhà, tôi dành ra một tuần để xem một lượt các bức hình của tất cả các cô gái mà bố mẹ tôi đã nhờ người mai mối, và khi thời gian còn lại rất ít thì tôi đã lựa chọn được cho mình một “ứng cử viên” để làm vợ.

Ông bà sui gia vô cùng sửng sốt khi tôi nói với họ rằng đám cưới sẽ phải tổ chức nội trong vòng từ 2 đến 3 ngày, vì tôi sẽ không có thêm kỳ nghỉ nào nữa. Sau khi tổ chức lễ cưới xong, đó là thời điểm để quay trở lại Mỹ, sau khi đưa một số tiền cho bố mẹ tôi, và nhờ những người hàng xóm chăm sóc họ, vợ chồng tôi lên đường quay trở lại Mỹ.

Khoảng hai tháng đầu, vợ tôi cũng thấy thích thú với lối sống ở Mỹ, sau đó cô ấy bắt đầu cảm thấy cô đơn. Số lần gọi điện về Ấn Độ của cô ấy tăng dần từ 2 lần/tuần lên 3 lần/tuần. Số tiền chúng tôi dành dụm được bắt đầu vơi dần. Hai năm sau đó thì chúng tôi bắt đầu có con. Hai đứa bé rất dễ thương, một trai và một gái, đó là món quà mà ơn trên đã ban tặng cho chúng tôi. Mỗi lần mà tôi gọi điện về nói chuyện với bố mẹ mình, họ thường hỏi tôi khi nào thì quay về Ấn Độ để ông bà có thể nhìn thấy mặt các cháu của mình.

Năm nào tôi cũng suy nghĩ đắn đo để có thể thu xếp một chuyến quay về thăm Ấn Độ. Nhưng một phần vì lý do công việc, một phần khác vì lý do về điều kiện tài chính đã không cho phép chúng tôi làm điều đó. Nhiều năm trôi qua, việc quay về thăm Ấn Độ là một giấc mộng quá xa vời. Rồi một ngày kia tôi đột ngột nhận được tin rằng cha mẹ tôi đang bị bệnh rất nặng. Tôi đã cố gắng hết sức nhưng không thể có được kỳ nghỉ phép nào để có thể quay về Ấn Độ. Tin tiếp theo mà tôi nhận được là cha mẹ tôi đã qua đời và không có một ai thân thích để thực hiện những nghi lễ cuối cùng đưa ông bà về nơi chín suối. Tôi đã hoàn toàn suy sụp. Bố mẹ tôi đã qua đời mà thậm chí họ còn chưa được gặp mặt những đứa cháu của mình.

Sau đó một vài năm, mặc dù hai đứa con tôi không thích nhưng tôi và vợ vẫn quyết định quay trở về Ấn Độ để sinh sống. Tôi bắt đầu tìm kiếm để mua một ngôi nhà phù hợp với số tiền mà mình có, nhưng tôi đã thực sự choáng váng vì số tiền mà mình dành dụm được thì quá ít mà giá nhà đất ở Ấn Độ thì đã tăng một cách chóng mặt trong những năm vừa qua. Vì vậy tôi đành phải quay trở lại Mỹ.

Vợ tôi từ chối quay lại Mỹ cùng với tôi, còn 2 đứa con lại không muốn ở lại Ấn Độ. Vì vậy tôi cùng 2 con quay lại Mỹ cùng lời hứa với vợ mình là tôi sẽ quay về Ấn Độ sau 2 năm nữa khi tình hình kinh tế khá hơn.

Thời gian dần trôi qua, con gái tôi quyết định kết hôn với một người đàn ông Mỹ, và con trai tôi cũng cảm thấy hạnh phúc khi sống tại đây. Tôi quyết định rằng mọi thứ đã ổn và không còn vương vấn điều gì, vì vậy tôi sẽ quay về Ấn Độ. Tôi cũng vừa tiết kiệm đủ tiền để có thể mua một căn hộ có 2 phòng ngủ khá tốt ở một khu vực mới xây dựng của địa phương.

Bây giờ tôi đã 60 tuổi và chỉ dành thời gian ra khỏi căn hộ để đi loanh quanh viếng thăm những thánh đường Hồi giáo gần nhà. Người vợ thủy chung của tôi cũng đã rời bỏ tôi để đi về nơi chín suối.

Thỉnh thoảng tôi cũng tự hỏi mình rằng, liệu đây là tất cả những gì tôi có ư? Bố tôi, thậm chí chỉ sống tại Ấn Độ cũng đã có căn hộ của riêng ông, và tôi cũng không có gì hơn vậy.

Thật cay đắng, tôi nhận ra mình đã mất cả bố mẹ và hai đứa con để đổi lấy THÊM MỘT PHÒNG NGỦ.

Nhìn ra ngoài từ cửa sổ, tôi nhìn thấy rất nhiều trẻ em đang nhảy các điệu nhảy hip-hop theo những hình ảnh trên truyền hình. Cái TV truyền hình cáp chết tiệt đó đã đầu độc thế hệ trẻ của chúng ta và tạo ra một lũ trẻ đánh mất cả giá trị của chúng và bản sắc văn hóa dân tộc. Thỉnh thoảng tôi cũng nhận được thư từ 2 đứa con để hỏi thăm về sức khỏe của cha mình. Vâng, điều an ủi lớn nhất là ít ra chúng vẫn nhớ còn có tôi tồn tại trên cõi đời này.

Bây giờ có lẽ sau khi tôi chết đi, tôi sẽ lại phải nhờ những người hàng xóm thực hiện những nghi lễ rửa tội cuối cùng dành cho mình, Chúa sẽ phù hộ cho họ. Nhưng một câu hỏi luôn dằn vặt tôi mỗi đêm là “Tất cả cuộc sống chỉ có vậy thôi sao?

Tôi vẫn đang tìm kiếm cho mình câu trả lời… !!!

 

Ký tên:

Một lập trình viên Ấn Độ đã từng sống tại Mỹ.

 

Bài viết được dịch từ Sulekha.com

My BJJ Journal

My own experience in training BJJ

Kung Fu Christian

Bay Cao và Vươn Xa

mattkprovideo

Business Explainer Videos

Autism and Expectations

De-Mystifying Autism

What should I read next?

Let's talk about good reads!

MEGAmalist

Music ⦁ Musings ⦁ Meanders ⦁ Morsels

The Well-Appointed Desk

For the love of pens, paper, office supplies and a beautiful place to work

Microsoft Decoded

Breaking down Microsoft code and products and helping you make sense of it.

News and Headlines, Keeping you informed on RoboeAmerican.Com

NEWS AND HEADLINES IS A ROUNDUP OF TOP NEWS AND HEADLINES OF THE DAY. Plus News Feeds. NO FAKE NEWS, NO MISLEADING HEADLINES. Also, FREE Internet SAFETY and Security TOOLS, FREE WEBSITE CHECKER’S, REFERENCE DESK. PLUS HOW – TO SITES, to help you get the most out of your tech.

MoMoHitsTheSpot!

Time Attack Motoring

laflaneure

stroll with no destination in mind

Argo City Comics

The Violent Blue blog***Comics, Horror and Pop Culture***Updates Tuesday through Friday (and occasionally at random)

Mentorphile

Mentoring entrepreneurs

Inhabiting the Anthropocene

How we live changes everything

Unbound Wallflowers

A BETTER YOU BY 100 NEW LITTLE THINGS

Michigan Quarterly Review

Bay Cao và Vươn Xa

What David Read

Our father David reads a lot, so we post his reviews of notable books

%d bloggers like this: