Tập Thiền mọi lúc, mọi nơi, không phải lúc nào Thiền cũng phải tĩnh, hãy tập và cảm nhận.


6 kỹ thuật độc đáo giúp bạn hành thiền mà không cần ngồi yên một chỗ

Đây chắc chắn là giải pháp sáng tạo và hữu hiệu nhất dành cho những người đam mê tập hành thiền nhưng không có đủ thời gian.

Một trong những thách thức lớn nhất của những người tập thiền, đó là làm sao để luyện tập đều đặn mỗi ngày. Hầu hết, cuộc sống của mọi người đều rất bận rộn, đến thời gian tắm rửa còn chẳng có, nói gì đến việc ngồi một chỗ yên tĩnh để hành thiền.

Tuy nhiên, tập thiền trong những ngày bận rộn không phải điều gì đó quá bất khả thi. Bạn hoàn toàn có thể kết hợp thiền định vào trong những hoạt động thường ngày của mình. Hãy thử làm theo các bước dưới đây trong 1 tuần, bạn sẽ thấy mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn.

Bạn phải làm gì?

Đồng hồ đếm giờ tắt không có nghĩa là bạn ngừng việc tập thiền. Thông thường, khi bạn tập thiền xong, chỉ mất vài phút là bạn lại cảm thấy căng thẳng và bế tắc, như thể mọi lợi ích khi tập thiền đều bị xóa sạch. Thực ra, bạn không nên coi thiền định là một khoảng thời gian nghỉ ngơi tạm thời, mà là một quá trình chuyển đổi để làm phong phú thêm cho cuộc sống của chính bạn và những người xung quanh. Bạn cần phải kết hợp thói quen tập thiền vào trong những hoạt động thường ngày của mình.

6 kỹ thuật kết hợp thiền vào cuộc sống thường ngày

Bằng cách chia nhỏ thời gian tập thiền trong ngày, bạn có thể duy trì được lợi ích của thiền trong suốt cả ngày. Bằng cách áp dụng một vài kỹ thuật dưới đây, bạn sẽ dễ dàng kết hợp thiền định vào trong sinh hoạt thường ngày của mình để bình tĩnh và tập trung hơn.

Hãy hành thiền ở nhiều môi trường đa dạng khác nhau vì điều này giúp bạn kiểm soát được tâm trí mình. Bạn sẽ không bị ảnh hưởng bởi những dòng cảm xúc bất chợt và tập trung tốt hơn vào những điều mình định làm.

Thiền khi làm việc nhà

 Bất cứ công việc nhà mang tính chất lặp đi lặp lại cũng có thể biến thành bài tập thiền nếu bổ sung thêm yếu tố tập trung. Bạn có thể đếm nhịp thở của mình trong khi dọn tủ, gấp quần áo, lau cửa sổ,… Bất cứ việc nhà nào không cần phải suy nghĩ để đưa ra quyết định đều rất phù hợp cho việc thiền.

Thiền khi đi lại

Khi đi bộ, hay liên kết từng nhịp thở với từng bước chân. Phương pháp thiền đi này đã từng được thiền sư Thích Nhất Hạnh giới thiệu, trong đó người tập sẽ hít vào thở ra theo từng bước chân. Kỹ thuật thiền khi đi bộ này mang lại lợi ích rất hiệu quả. Nếu bạn không có đủ thời gian hay địa điểm phù hợp để đi bộ, bạn có thể tập khi đi trong hành lang, đi đến bãi đỗ xe, hoặc trong cửa hàng. Hãy nhớ cứ 2-3 nhịp lại thở đều 1 lần.

Thiền khi tập thể dục

Biến việc tập thể dục thành bài tập thiền bằng cách dồn năng lượng tinh thần của bạn vào cơ thể. Tưởng tượng lực đẩy và lực kéo trong từng cơ bắp của bạn. Cảm nhận cách cơ thể dần dần điều chỉnh theo từng chuyển động. Bạn sẽ cảm thấy ngạc nhiên trước trạng thái cân bằng mà mình đạt được. Để tăng cường hiệu quả, bạn có thể thử những bài tập mang thiên hướng tập trung vào hơi thở như thái cực quyền hay yoga.

Thiền bằng cách thở 2 nhịp

Chỉ cần thở 2 nhịp đơn giản là đủ đưa bạn vào trạng thái thiền vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày. Hãy hít ra thở vào thật sâu, khoảng 2 nhịp, trước khi gọi điện, trả lời email, hay khởi động xe. Đây là một kỹ thuật rất hay để kết hợp thiền vào trong cuộc sống hàng ngày, nhất là khi bạn cảm thấy bận rộn, căng thẳng và cần tới nó nhất.

Thiền bằng âm thanh

Hãy chọn một loại âm thanh đặc biệt và hít vào thở ra 2 lần mỗi khi bạn nghe thấy âm thanh ấy. Bình thường, các vị thiền sư thường thực hiện kỹ thuật này mỗi khi nghe thấy tiếng gió hoặc tiếng chuông chùa. Hãy lựa chọn cho mình một âm thanh mà bạn thường nghe thấy xung quanh mình. Chẳng hạn, bạn có thể để cho đầu óc thư giãn trong 5 giây bất cứ khi nào nghe thấy tiếng điện thoại của ai đó.

Thiền khi di chuyển, thay đổi môi trường

Bạn có thể tập thiền ngay cả khi đang di chuyển hay thay đổi môi trường. Ví dụ, việc di chuyển từ nhà đến công ty mỗi sáng cũng chính là một cách chuyển đổi từ trạng thái cá nhân sang trạng thái làm việc chuyên nghiệp. Ăn trưa cũng là một hoạt động chuyển đổi môi trường. Thông thường, các thiền sư sẽ dừng lại một lúc mỗi khi bước qua ngưỡng cửa hoặc đi từ phòng này sang phòng khác.

Hãy chọn ra một vài hoàn cảnh mà bạn phải thay đổi môi trường trong cuộc sống hàng ngày (ngồi vào xe hơi, đi bộ đến chỗ làm, mở cửa trước), sau đó dừng lại để thiền nhanh trong 5 giây trước khi bước vào môi trường mới. Thậm chí, việc mở một chương trình máy tính hay kiểm tra email cũng được coi là một thời cơ tốt để thiền.

Chú ý:

Bạn không nên thay thế việc hành thiền hàng ngày bằng những kỹ thuật này. Việc ngồi yên và tập trung trong khi thiền vẫn rất quan trọng. Bạn chỉ nên áp dụng các kỹ thuật trên trong cuộc sống hàng ngày để bổ trợ và làm tăng hiệu quả cho thói quen tập thiền chính.

Ban đầu, hãy lựa chọn những phương pháp mà bạn có thể tự làm khi ở một mình. Bạn sẽ khó mà tập thở 2 nhịp khi đang nói chuyện với người khác, hay bị người khác nhìn chằm chằm chằm. Bạn có thể tập thiền tại một nơi riêng tư như xe hơi. Khi đang dùng máy tính hoặc khi đang giặt quần áo cũng là thời điểm thích hợp để tập thiền.

Ngọc Hà

Theo Trí thức trẻ/Verywellmind

Bài viết liên quan đến việc tập Thiền:

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/2015/12/16/steve-jobs-thien/

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/2019/01/23/tap-thien-chay-bo/

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/tag/giai-ma-nhung-bi-mat-cua-thien-dinh/

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/2018/10/22/nhan-ngay-phu-nu-viet-nam-20-10-2018-dang-bai-phong-van-chi-tran-lan-huong/

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/2018/06/20/30-cau-noi-bat-hu-cua-thien-su-thich-nhat-hanh/

Mỗi hơi thở, mỗi bước đi của chúng ta có thể lấp đầy bởi bình an, hạnh phúc và sự thanh thản.

Bốn tâm vô lượng


Chúng ta thường nghe quen tai và nói quen miệng bốn tiếng “từ bi hỷ xả”. Nhưng chính vì “quen” quá mà chúng ta không để ý phân tách ý nghĩa sâu xa của nó. Bốn đức tánh ấy có một sự tương quan mật thiết và bổ túc cho nhau, thiếu một không được.

Ðứng về phương diện tuyệt đối, hay chơn như môn, thì tâm của chúng sinh hay tâm của Phật cũng vẫn là một, không có rộng hẹp, thấp cao, sai khác, ngăn cách. 

Nhưng đứng về phương diện tương đối hay sinh diệt môn, thì tâm có muôn hình vạn trạng, tùy theo chủng tánh của chúng sinh mà có cao thấp, rộng hẹp không đồng. Hễ nghĩ đến tham, sân, si, mạn v.v… thì tâm trở thành nhỏ hẹp, lớn bé, ngàn sai, muôn khác,cũng như cùng một thứ bột mà do người thợ làm bánh, khéo hay vụng mà có bánh ngon, bánh dở, bánh tốt, bánh xấu, bánh lạt, bánh mặn v.v…

Cho nên Tôn Cảnh Lục có chép: ” Tâm tạo chư Phật, tâm tạo chúng sinh, tâm tạo thiên đường, tâm tạo địa ngục. Tâm vọng động thì ngàn sự sai biệt tranh khởi, tâm bình thì thế giới thản nhiên, tâm phàm thì ba món độc trói buộc, tâm thánh thì sáu món thần thông tự tại, tâm không thì nhứt đạo thanh tịnh, tâm hữu thì vạn cảnh tung hoành. Tự mình đạp mây mà uống nước cam lồ, chẳng có ai cho mình. Nằm trong lửa hừng mà uống máu mủ cũng tự mình gây nê, không phải trời sanh ra, cũng không phải do đất mà có “. 

Xem thế thì cũng đủ biết tâm là động lực chính để làm cho ta sướng hay khổ, vui hay buồn, trầm luân hay giải thoát. Vậy muốn thoát khỏi khổ sanh tử luân hồi, muốn được quả vị thánh nhân, Bồ Tát, chúng ta cần trau dồi cho được một tâm vô cùng rộng lớn, một vô lượng tâm.

I. Ðịnh nghĩa 

Vô lượng là gì?
Vô lượng nghĩa là nhiều, rộng lớn, không thể lường tính được. Tâm vô lượng là tâm vô cùng rộng lớn thoát ra khỏi sự ràng buộc của các thứ phiền não đê hèn của phàm phu, phá vỡ được các thứ quan niệm chấp trước hẹp hòi của Nhị thừa, là tâm có một vùng thương yêu rộng lớn có thể bao trùm đến vô lượng chúng sinh, và tìm phương cứu cho tất cả.

Vô lượng tâm cũng có nghĩa là “Ðẳng tâm”, cái tâm bình đẳng, phổ biến; bình đẳng, vì tâm này chỉ tự nhiên, không phân biệt so đo thấp cao, hơn kém; phổ biến, bởi nó trang trải mọi nơi chẳng khu biệt, giới hạn. Và dĩ nhiên, nhân nào quả nấy: do thi hành bình đẳng, phổ lợi cho vô lượng chúng sinh, nên chi tâm này có công năng dẫn sinh vô lượng phước đức, làm cho sự kiện căn bản để cảm thành vô lượng quả báo tốt đẹp, ấy là quả vị Bồ tát và Phật đà.

Hơn nữa, tâm này không những làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh, dẫn sinh vô lượng phước đức, và tạo thành vô lượng quả vị tốt đẹp trong một thế giới và trong một đời, mà còn lan rộng ra đến vô lượng thế giới trong vô lượng kiếp sau này, và tạo thành vô lượng chư Phật. Tóm lại, chữ vô lượng ở đây hàm nhiều nghĩa, vô lượng nhân lành, vô lượng quả đẹp, vô lượng chúng sinh, vô lượng thế giới, vô lượng đời kiếp, vô lượng chư Phật và Bồ Tát. 

II. Thành phần và hành tướng của bốn món tâm vô lượng  

Tâm vô lượng gồm có bốn phần là: bi vô lượng, từ vô lượng, hỷ vô lượng và xả vô lượng.

1. Bi vô lượng.

Bi là lòng thường xót rộng lớn trước những nỗi đau khổ của chúng sinh và quyết tâm làm cho dứt trừ những đau khổ ấy. Nhưng chúng ta đã học trong khóa thứ ba nói về Tứ đế, cái khổ của chúng sinh thật là mênh mông, rộng lớn không thể nói hết. Nó bao trùm cả nhân lẫn quả, cả thời gian lẫn không gian, cả phàm lẫn thánh, thật đúng là vô lượng khổ. 

Khổ nằm trong nhân. Trong các kinh điển thường có câu: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả”. Chúng sinh vì không sáng suốt cho nên chỉ khi nào quả khổ hiện ra mới lo sợ, chứ trong khi đang gây nhân thì lại không nhận thấy, mà vẫn cứ thản nhiên như không. Họ đang sống trong cảnh khổ mà họ không biết, nhiều khi lại là cho vui.

Họ hoan hô tán thán và khuyến khích nhau gây khổ mà cứ tưởng là vui, như những đứa trẻ quẹt diêm quăng lên mái nhà lá, rồi vỗ tay reo mừng với nhau. Vì thiếu sáng suốt cho nên đôi khi họ gây khổ để cứu khổ, chẳng khác gì làm cho đỡ khát bằng cách uống nước mặn. 

Khổ nằm trong quả. Ðã gây nhân xấu, thì tất phải chịu quả khổ, đó là lẽ tất nhiên. Có ai trồng khoai mà được đậu bao giờ? Thế mà người đời ít ai chịu công nhận như thế. Người ta oán trời trách đất, rên khóc thảm thiết, làm cho cõi đời đã đen tối lại càng đen tối thêm, cuộc sống đã khổ sở lại càng khổ sở thêm. 

Khổ sở bao trùm cả thời gian. Từ vô thỉ đến nay, cái khổ chưa bao giờ dứt, mà cứ chồng thêm lên mãi. Nó gây nhân rồi lại kết quả, kết quả rồi lại gây nhân, cứ thế tiếp tục mãi trong một vòng luẩn quẩn, như bánh xe lăn tròn trên đường thiên lý, không bao giờ dừng nghỉ. 

Khổ bao trùm cả không gian. Cái khổ không có phương sở và quốc độ; ở đâu có vô minh thì ở đó có khổ! Mà vô minh thì như một tấm màn vô tận, bao trùm không chỉ một thế giới khác nữa. Khoảng không gian mênh mông vô tận như thế nào, thì nỗi khổ đau cũng mênh mông vô tận như thế ấy.

Khổ chi phối cả phàm lẫn thánh. Chúng sinh ở địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đã đành là khổ vô cùng, loài người vì say đắm dục lạc, và tham sân si chi phối, nên cũng quay cuồng lặn hụp trong biển khổ; còn chư thiên mặc dù không khổ như người, nhưng cũng không tránh được cái khổ vì ngũ suy tướng hiện. 

Cho đến các hàng thánh như Thanh Văn, Duyên giác, vì còn mê pháp, trụ trước Niết Bàn, nên cũng không tránh khỏi nỗi khổ biến dịch sanh tử. Xem thế đủ biết nõi khổ thật là lớn lao vô lượng. Có được một lòng thương xót lớn lao vô lượng cân xứng với nỗi đau khổ vô lượng và có một chi nguyện cứu độ tất cả thoát khỏi nỗi đau khổ vô lượng, ấy là tâm Bi vô lượng. 

Các vị Bồ Tát nhờ có lòng đại bi nên đã phát tâm bồ đề rộng lớn, thệ nguyện độ khắp tất cả. Các Ngài nhận thấy mình có sứ mạng vào trong sanh tử để hóa độ chúng sinh, nên không chấp trệ ở Niết Bàn. Sứ mạng chính của các Ngài là gần gũi chúng sanh để: 

Làm cho chúng sanh nhận được mặt thật của cõi đời, rõ thế nào là tà là chánh, là khổ là vui. 

Làm cho chúng sanh nhận rõ được thân phận của mình mà thôi làm các điều ác, chừa các điều tội lỗi.

Xem như thế đủ biết lòng đại bi chính là động lực chánh để đi đến quả vi Bồ tát và Phật. Trong đại hội Hoa Nghiêm đức Bồ tát Phổ Hiền cũng tự nhận và nói như thế này: “Nhơn vì chúng sanh mà khởi lòng đại bi. Nhơn lòng đại bi mà phát tâm bồ đề. Nhơn phát tâm bồ đề tiến thành ngôi chánh giác”. 

Câu nói của Ngài Phổ Hiền đã rõ ràng, không còn nghi ngờ gì nữa. Phật đã dạy: “Hạt giống Bồ đề, không thể gieo trên hư không, chỉ trồng trên đất chúng sinh mà thôi”. Vậy, chúng ta là Phật tử, muốn tu bồ tát hạnh, tất phải mở rộng lòng Bi, thương xót tất cả, không phân chia nhân, ngã, bỉ, thử, và phải phát nguyện độ khắp tất cả, nghĩa là phải tu luyện cho có được một lòng Bi vô lượng.

2. Từ vô lượng.

Từ là mến thương và vì mến thương mà gây tạo cái vui cho người. Từ vô lượng là lòng mến thương vô cùng rộng lớn, đối với toàn thể chúng sanh, và gây tạo cho chúng sanh cái vui chân thật. 

Vui của thế gian sở dĩ gọi là giả tạm, vì cái vui ấy không bền, cái vui ấy còn phiền não chi phối: khi tham, sân, si, mạn được thỏa mãn thì vui, nhưng có bao giờ những thứ dục vọng ấy có thể thỏa mãn được hoàn toàn và lâu bền đâu? 

Còn vui xuất thế gian là cái vui chân thật, vì nó lâu bền, thoát ra ngoài vòng phiền não của tham, sân, si, mạn; nó không bị dục vọng chi phối. Cái vui này không ồn ào, sôi nổi nhưng vĩnh viễn nhẹ nhàng, vì là cái vui của cảnh giới giải thoát siêu phàm. 

Muốn có được cái vui này, thì trước tiên phải dứt trừ cho hết các khổ do phiền não gây ra. Nếu không ngăn chặn được tham,sân, si hoành hành, thì chỉ có thể có được mọt cái vui nhất thời giả dối. 

Bởi thế, các vị Bồ Tát muốn ban vui cho chúng sanh, thì trước tiên phải có lòng từ bi vô lượng như đã nói trên, để luôn luôn nhắc nhở chúng sanh đừng gây tội dìu dắt chúng sanh tránh xa những hố hầm nguy hiểm. 

Qua các giai đoạn đầu tiên ấy rồi, các Ngài mới hướng dẫn chúng sanh đi lên con đường quang minh chánh đại, con đường sáng để tiến đến địa vị giải thoát mà hưởng cái vui vĩnh viễn. Nói một cách rõ ràng hơn là lòng Từ phải đi theo lòng Bi: Bi để chỉ nguyên nhân của đau khổ và khuyên bảo chúng sanh đừng gây nhân khổ; Từ để chỉ rõ phương pháp diệt khổ và được vui. 

Tỷ dụ Bồ Tát muốn cho chúng sanh hưởng cảnh Niết Bàn, thì trước hết các Ngài chỉ cho biết thế nào là khổ (khổ đế) và đâu là nhơn của khổ (tập đế), sau mới chỉ cho thấy cái vui Niết Bàn như thế nào (diệt đế). Nếu chúng sanh y theo lời dạy của các Ngài mà thi hành, thì cái vui Niết Bàn sẽ xuất hiện. Như thế, động lực dạy cho chúng sanh biết khổ đế và tập đế là Bi, còn động lực dạy cho chúng sanh biết diệt và đạo đế là Từ. 

Nhưng nỗi khổ của chúng sanh đã là vô lượng, lòng Bi đã là vô lượng, thì lòng Từ cũng phải như thế. Muốn thành tựu tâm Từ này, Bồ Tát phải dùng đủ phương tiện để làm lợi lạc cho chúng sanh. Tựu trung có hai điểm quan trọng sau đây mà Bồ Tát không thể bỏ qua trong khi hóa độ chúng sanh là: Tùy cơ và tùy thời.

Tùy cơ: Nghĩa là quan sát trình độ căn bản của chúng sanh như thế nào rồi tùy theo đó mà dạy bảo. Tâm bệnh của chúng sanh vô lượng, nên thuốc pháp của Bồ Tát cũng vô lượng. Nhưng chính vì bệnh vô lượng mà thuốc cũng vô lượng nên cho thuốc đúng với bệnh là một điều mà chỉ có các vi lương y đại tài như Hoa Ðà, Biển Thước mới làm được. 

Các vị bồ tát sở dĩ hóa độ được nhiều chúng sanh là nhờ, ngoài trí huệ sáng suốt, còn có một tâm Từ vô lượng, không quản khó khăn, không ngaị gian nguy, một lòng kiên nhẫn vô biên như lòng kiên nhẫn của người mẹ đối với người con, quyết tâm tác thành cho con nên người mới thôi. Nếu không có được trí huệ, chí kiên nhẫn và nhất là lòng từ bi vô lượng như các vị bồ tát thì kho tránh khỏi cái nạn thối chuyển vì trần sa hoặc. 

Dưới đây là một đoạn văn chương trong Kinh Hoa Nghiêm có thể chứng minh một cách hùng hồn lòng Từ vô lượng của đức Phổ hiền: 

“…Hằng thuận chúng sanh là như thế nào? Nghĩa là có bao nhiêu chúng sanh ở cõi nước mười phương trong cả pháp giới, hư không giới…tôi đều tùy thuận mà chuyển mọi thứ thừa sự, mọi cách cúng dường, như kình cha mẹ, như phụng sự sư trưởng và A La Hán cho đến bực như lai đều đồng không khác.
 
Với kẻ bịnh khổ thì làm lương y cho họ, với kẻ lạc đường, chỉ lối thẳng cho họ, với kẻ trong đêm tối, làm cho họ được sáng lên và với kẻ nghèo cùng, khiến cho họ được gặp của…Bồ Tát làm lợi ích bình đẳng với tất cả chúng sanh như thế là vì bồ tát nhận thấy rằng tùy thuận chúng sanh tức là tùy thuận cúng dường chư Phật nên tôn trọng thừa sự chúng sanh tức là tôn trọng thừa sự Như lai..”.


Tùy thời. Tức là thích ứng với thời đại với giai đoạn mà hóa độ chúng sanh. Thời gian xoay vần cuộc thế biến chuyển mỗi khi một khác. Thời tiết có khi mưa, khi nắng, thay đổi theo bốn mùa, thì lòng người cũng có khi thích cái này khi ưa cái khác. Nếu phương pháp hóa độ không biến chuyển, không thay đổi để cho thích nghi với hoàn cảnh, với giai đoạn thì phương pháp dù hay ho bao nhiêu, cũng chẳng thu được kết quả gì tốt đẹp. Bồ Tát hiểu rõ như thế, nên khi dạy chúng sanh cũng phải theo thời thế, biết khi nào là tượng pháp, khi nào mạt pháp để cho giáo pháp được thích hợp với căn cơ. 

Tóm lại, muốn hóa độ chúng sanh một cách có hiệu qủa thì Bồ Tát bao giờ cũng không quên hai điều chính là tùy cơ và tùy thời. Kinh “Tâm Ðịa Quán” cũng có dạy: 

” Các đức Phật chuyển pháp luân, vẫn tùy cơ mà nói pháp, bao giờ cũng tránh bốn điều sai lạc; một là nói không phải chỗ; hai là nói không phải thời; ba là nói không phải là căn cơ; bốn là nói không phải pháp”

Bởi những lẽ trên nên Bồ Tát trong lúc hóa độ khi thì hiện thân, khi thì ẩn thân lúc làm thuận hạnh, lúc lại nghịch hạnh, khi dùng oai dũng, lúc lại từ hòa. Công hạnh của bồ tát sai khác nhiều đến vô lượng, nhưng chỉ phát sinh từ một ý duy nhất là tạo cái vui chân thật cho chúng sanh. 

Nên nhớ “tạo cái vui chân thật” ở đây, không có nghĩa là tạo ra cảnh giới thiên đàng hay cảnh giới cực lạc để cho những chúng sanh thân yêu của mình vào hưởng, như người ta ban phép lạ, mà chỉ có nghĩa là tạo cho chúng sanh cái mầm an vui chân thật bằng cách thức tỉnh dắt dẫn chúng sinh tránh các điều dữ làm các điều lành một cách tích cực mạnh mẽ, cho đến khi cái mầm vui, các hành động lành ấy mà kết quả vui mới thôi. 

Ðấy, lòng Từ vô lượng là thế. Như trên đã nói Từ phải đi theo với Bi. Nếu chỉ có Bi không, thì đại nguyện của Bồ tát chưa thành, vì mới chỉ cứu hkổ, chứ chưa ban vui. Chúng ta là Phật tử, muốn tu hạnh Bồ Tát phải luyện tập cho lòng Từ mở rộng, mở rộng mãi cho đến vô lượng vô biên. 

3. Hỷ vô lượng.

Hỷ là gì? Nói cho đúng là tùy hỷ, nghĩa là “vui theo”. “Vui theo” có nhiều cách: Phóng tâm vui theo những cảnh trần: nào sắc, nào thanh, nào hương, nào vị, nào xúc, nào pháp… để mặc cho nó làm chủ, không biết phản giác, không biết tỉnh ngộ mà dẹp trừ những hiện hành phiền não, ấy là vui theo dục vọng, theo thói quen phóng túng của lòng phàm. Vui theo ác nghiệp, như khi thấy một người sát sanh, uống rượu, trộm cướp… đáng lẽ ta nên khuyên can mà lại không, còn bằng lòng theo họ đi vào con đường ác. Sự vui theo ở đây có nghĩa là khuyến khích đồng lỏa với kẻ ác vậy. 

Vui theo những việc nhân từ phước thiện, như khi thấy người đem của ra bố thí, lập nhà thương, ta tán thành, giúp đỡ vui theo với công việc của họ. Sự vui theo này là một bước tiến đi đến con đường thiện nghiệp. Tuy thế, ta nên phân biệt hai trường hợp tốt sẽ được nhiều phước báo, còn nếu không vì lòng thiện, nhưng vì thấy người làm thiện được người ta ca tụng, danh tiếng vang lừng mà mình cùng hùa theo tán thành, giúp đỡ để được tiếng khen lây, thì không khéo chỉ gây thêm ngã ái ngã mạn. 

Khác với những lối vui trên, là những lối vui tầm thường của thế gian, hàng Nhị thừa chỉ vui theo cảnh giới Niết Bàn tịch tịnh. Thứ vui theo này, tuy không có tánh cách trụy lạc ác độc, nhưng theo chánh giáo, thì cũng còn hẹp hòi, thiếu lòng Từ bi rộng rãi và chưa phải đúng nghĩa “hỷ” vô lượng tâm. Ðức Phật còn quở đó là cái vui “Khôi thân diệt trí” hay “thu tịch Niết Bàn”.

Chỉ có sự “vui theo” sau đây của Bồ Tát mới đúng với nghĩa tâm Hỷ vô lượng. Trong khi thực hành phương tiện Từ bi để độ sinh và sau khi công hạnh này được kết quả, nhận thấy chúng sinh hết khổ, hưởng vui, tâm của Bồ Tát tự nhiên cũng vui theo. Trong luận Ðại Thừa Trang nghiêm Ngài Trần Na Bồ Tát dạy rằng: “Sự vui này còn nhiều gấp bội sự vui của chúng sinh được hưởng”. Bồ tát còn xác nhận rằng: “Nếu làm chúng sinh được vui, tức làm cho tất cả chư Phật được vui mừng”. Ðó là lời nói của đức Phổ Hiền. 

Nên nhớ cái “Hỷ” của bồ tát có những đặc điểm sau đây: Chẳng những không làm cho chúng sinh mê lầm mà còn giác ngộ cái mê và được giải thoát. Không còn bị buộc trong vòng vui tự đắc làm tăng trưởng ngã mạn, chấp trước ở thế gian, mà trái lại, làm cho chúng sinh xuất thế. 

Thoát ra khỏi phạm vi tư lợi mà phổ biến và bình đẳng đối với tất cả chúng sinh. Tóm lại, sự vui ở đây bắt nguồn từ lòng Từ bi mà phát ra. Lòng Từ bi rộng lớn bao nhiêu thì cái “hỷ” này cũng rộng lớn như thế. 

Chúng ta là Phật tử, tu hạnh Bồ tát, chúng ta phải tập cho được cái vui trong sạch, giải thoát của các vị bồ tát, chứ đừng quay cuồng theo cái vui nhiễm ô ích kỷ, hẹp hòi của phàm phu hay hàng Nhị thừa. 

4. Xả vô lượng.

Xả là cái gì? Xả là bỏ, không chấp không kể. 

Thói thường, khi chúng ta làm điều gì, nhất là khi được kết quả tốt, thì ta hay tự hào, đắc chí đôi khi ngạo nghễ khó chịu. Sự bất bình, cãi vã xung đột giữa bạn bè thân thuộc hay giữa nhóm này và nhóm khác cũng do tánh chấp trước, tự cho là quan trọng ấy. Nguyên nhân của tánh nầy là do sự chấp ngã, chấp pháp mà ra. 

Phàm phu thì vừa thấy có mình làm (chấp ngã) vừa thấy có công việc kết quả mình đạt được (chấp pháp) nên cứ bị trói buộc trong cái giới hạn phân chia nhân ngã, bỉ thử và do đó, không bao giờ thoát được cảnh giới phàm phu. 

Còn hàng Nhị thừa tuy đã xả được chấp ngã, nhưng chưa xả được chấp pháp. Sau khi nhờ tu tập, các Ngài thoát ly được tam giới chứng được quả Hữu dư y Niết Bàn, các Ngài coi như đó là phần thưởng xứng đáng của bao công phu tu tập và yên trí nơi cảnh giới sở đắc ấy. Do đó, hàng Nhị thừa vẫn còn bị biến dịch sanh tử. 

Chỉ có các vị Bồ tát là những bậc chứng được pháp không, nên đã ly khai quan niệm pháp chấp. Khi các Ngài ra công cứu khổ cho chúng sinh, thì đó là một sự cảm ứng tự nhiên, giữa các Ngài với chúng sinh, các Ngài dùng trí hoàn toàn vô phân biệt để được bình đẳng phổ biến theo đồng thể đại bi. 

Chúng sinh có hưởng được vui chăng, Bồ tát không thấy mình là kẻ ân nhân chủ động. Trái lại, các Ngài còn thấy chúng sinh là ân nhân của mình trên bước đường lợi tha tiến đến công hạnh viên mãn. Bởi thế, lòng Từ, lòng Bi của Bồ tát thoát khỏi vòng ái kiến và trụ trước, túc là xả vậy. Ðến như lòng “Hỷ” cũng thế, Bồ tát vui lòng từ bi, thấy chúng sinh được vui chứ không phải lối vui tự đắc, vui vì thàh thật tán thán công đức chung cùng chư Phật, chư Bồ tát và chúng sinh, chứ không phải vui vì dắm miếng riêng tư. Cho nên tâm tùy hỷ đây cũng hoàn toàn giải thoát, nghĩa là cũng thanh tịnh trên tinh thần “Xả”

Như vậy, Xả là một tâm lượng quảng đại cao cả, ở đó, không kiến lập một tướng nào. Kẻ gần người xa đeù bình đẳng, kẻ trí người ngu vẫn như nhau, mình và người không khác; làm tất cả mà thấy như không làm gì cả; nói mà thấy mình có nói gì cả, chứng mà không thấy mình có chứng và quả gì được.

Cho nên trong kinh Tú thập nhị chương có chép “Niệm mà không chấp nơi niệm mới là niệm, hành mà không chấp nơi hành là hành, nói mà không chấp nơi nói mới là nói, tu mà không chấp nơi tu mới là tu. Lý hội nghĩa ấy là gần đạo, mê mờ không rõ là xa đạo”.

Làm như thế tức là Xả: Xả hết tất cả mới thật là Bồ tát. Nếu còn chấp một tướng gì, dù nhỏ nhặt bao nhiêu cũng chưa phải là Bồ tát. Hãy nghe trong kinh Kim Cang Phật dạy ông Tu Bồ Ðề. “Này ông Tu Bồ Ðề, nếu có vị Bồ Tát còn tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sinh, tướng thọ giả, tức chẳng phải là Bồ Tát”. 

Ý nghĩa chữ Xả đã rõ ràng. Bây giờ chúng ta chỉ còn cố gắng tu tập dần dần cho được cái tâm xả ấy. Thành tựu được cái Xả một cách hoàn toàn cái Xả vô lượng tức là chứng quả Bồ đề. 

III. Sự đối trị của bốn món tâm vô lượng  

Bốn món tâm vô lượng là bốn trạng thái của Tâm Bồ Tát, nhưng đó cũng là bốn pháp tu của những Phật tử tu hạnh Bồ tát. 

Trong mỗi con người đều có hai xu hướng: xu hướng thiện và xu hướng ác. Hai xu hướng này cứ xung đột nhau luôn: hễ thiện thắng thì ác lùi, hễ ác thắng thì thiện lùi. 

Khi lòng giận hừng hẩy, thì tâm Bi bị lấn. 
Khi lòng sân bừng dậy, thì tâm Từ bị che khuất. 
Khi ưu não dẫy đầy, thì tâm Hỷ không phát hiện. 
Khi lòng ái dục còn nặng nề, thì tâm Xả không sanh. 


Trái lại, khi tâm Bi lớn mạnh, thì lòng Hận phải yếu mòn. 
Khi tâm từ lan rộng, thì lòng sân phải lùi. 
Khi tâm hỷ bừng lên, thì lòng ưu não phải dẹp xuống. 
Khi tâm xả đủ đầy, thì lòng ái dục phải dập tắt.

Sự chiến đấu với phiền não cũng như sự chiến đấu với giặc cướp, phải tiếp tục mãi cho đến khi toàn thắng mới dừng lại. Nếu chúng ta mới chiến thắng vài ba trận đã vội thỏa mãn và dừng nghỉ, thì giặp cướp sẽ tai phát và hoành hành trở lại. 

Cũng thế, trong trận chiến đấu của Từ, Bi, Hỷ, Xả chống sân, hận, ưu, dục chúng ta phải tiếp tục thi hành cho đến toàn thắng, nghĩa là bành trướng các đức từ, bi, hỷ, xả cho đến vô cùng tận để sân, hận, ưu, dục hoàn toàn bị tiêu diệt mới thôi. Một khi bóng tối đang còn, là vì ánh sáng chưa mạnh, muốn bóng tối hoàn toàn tiêu tan, thì ánh sáng phải đủ sức chiếu soi cùng khắp. Khi từ bi, hỷ xả, đã trở thành vô lượng thì phiền não sẽ không còn và hành giả đạt đến quả vị Bồ tát. Ðó là ý nghĩa “phiền não tức là Bồ đề” mà Ngài Bồ tát Trần Na đã dạy trong Luận Ðại Thừa Trang Nghiêm. 

IV. Kết luận

Chúng ta thường nghe quen tai và nói quen miệng bốn tiếng “từ bi hỷ xả”. Nhưng chính vì “quen” quá mà chúng ta không để ý phân tách ý nghĩa sâu xa của nó. Bốn đức tánh ấy có một sự tương quan mật thiết và bổ túc cho nhau, thiếu một không được. 

Vì thấy chúng sinh vô cùng khổ sở, nên thương xót chúng sinh. Vì thương xót chúng sinh nên ra tay cứu chúng sinh khỏi khổ (Bi). Cứu chúng sinh khỏi khổ cũng chưa phải làm xong nhiệm vụ của tình thương, nên cần phải tiếp tục làm cho chúng sinh được vui (Từ). Khi chúng sinh hết khổ được vui, mình mới vui được (Hỷ).

Nhưng nếu cái vui này mà còn vướng ngã mạn, tự đắc vì tự cho mình đã thành tựu những công hạnh lớn lao, thì cái vui ấy trở thành ái dục, dơ bẩn nặng nề, kéo hành giả xuống hàng phàm phu. Vậy cái vui ấy cần phải là một thứ vui trong sạch, hoàn toàn xa lìa các thứ chấp trước như nhân, ngã, bỉ, thử, chúng sinh, Bồ tát...(Xả).

Ðó là về phần phẩm, còn nói về phần lượng thì bốn đức tánh này cần phải rộng lớn vô cùng, hay nói theo danh từ thường dùng, là phải vô lượng. Có vô lượng mới đủ sức cứu độ chúng sinh cũng nhiều vô lượng. Có vô lượng mới lấn át tất cả những phiền não và không cho chúng có đất sống để tái phát và nhiễu loạn. 

Ðó là hành tướng và ý nghĩa của bốn món Tâm vô lượng, hay của bốn đức: Ðại từ, Ðại bi, Ðại hỷ, Ðại xả, mà chúng ta thường tán thán mỗi khi niệm các danh hiệu Bồ tát hay Phật. 

Phải công nhận rằng có được bốn món Tâm vô lượng không phải là dễ, mặc dù bốn đức ấy đã nằm sẵn trong bản tánh thanh tịnh của chúng sinh. Nhưng cũng đừng thấy khó mà lại chùn chân, lùi bước. Có công việc gì được thành công lớn lao, rực rỡ mà dễ dàng đâu? 

Yếu tố quan trọng giúp cho sự thành công là sự quyết tâm và lòng kiên nhẫn. Người tu hành cũng như kẻ trèo núi. Ðừng thấy núi cao mà nản chí, sờn lòng. Trước tiên phải lập chí quyết trèo lên trên cho đến chót núi, rồi sau đó tuần tự kiên nhẫn bước từng bước một, đừng hấp tấp và cũng đừng trễ nải thì một ngày kia thế nào cũng đặt chân lên được chót núi cao. 

Người tu hành cũng vậy, hãy phát bốn lời thệ nguyện lớn, rồi cứ tuần tự, kiên nhẫn, mà tu tập theo những pháp môn Phật đã chế cho đến khi thành tựu mới thôi.

Hòa thượng Thích Thiện Hoa

http://vuonhoaphatgiao.com

Đối chiếu khoa học và Phật giáo


Xưa nay đã có rất nhiều sách báo đối chiếu hay so sánh khoa học và Phật giáo. Người ta so sánh hai môn học rất khác biệt này và thấy chúng có nhiều điểm tương đồng quan trọng, tuy nhiên cũng có những khác biệt rất lớn. Trong bài này, chúng  tôi có mục đích muốn tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt đó. Vì đề tài này đã được bàn luận rất nhiều rồi, nên ở đây chúng tôi không đi quá sâu vào chi tiết mà chỉ cố gắng làm rõ những điểm tương đồng và dị biệt đó dưới cái nhìn tổng quan.

A. Những điểm tương đồng giữa Khoa học và Phật giáo


1. Cấu trúc của vật chất và Thuyết Thập nhị Nhân duyên của Phật giáo.

Khoa học ngày nay đã hiểu biết khá nhiều về thế giới vật chất mà đa số tuyệt đối các nhà khoa học cho là khách quan ở ngoài ý thức (quan điểm duy vật). Người ta biết rằng vật chất không phải là một thể đồng nhất, mà nó được cấu trúc từ những phần tử rất nhỏ gọi là nguyên tử. Khoa học thế kỷ 20 còn thâm nhập vào bên trong của nguyên tử để tìm hiểu những hạt cơ bản tạo ra vật chất, vì những hạt này ở mức độ nhỏ hơn, thấp hơn nguyên tử nên người ta gọi chúng là những hạt hạ nguyên tử (subatomic particles)  và thấy rằng trung tâm nguyên tử là một hạt nhân được cấu tạo bằng hai loại hạt : proton và neutron.

Bên ngoài hạt nhân có những hạt electron chuyển động rất nhanh chung quanh tạo thành một khối hình cầu mà vỏ là electron và nhân là proton và neutron. Có những nguyên tử đơn giản nhất chỉ có một hạt proton và một hạt neutron, đó là hydrogen, nguyên tố chính tạo thành nước. Nguyên tử Helium thì có hai proton, hai neutron và hai eletron.

Trong hậu bán thế kỷ 20, người ta còn thâm nhập sâu hơn nữa vào cấu trúc của hạt proton và hạt neutron và thấy rằng chúng được cấu tạo bằng hai loại hạt quark : quark up và quark down

Như vậy chỉ với 3 loại hạt : quark up, quark down và electron, đã tạo ra tuyệt đại đa số vật chất trên quả địa cầu của chúng ta. Các sinh vật cũng hình thành từ những hạt này mà thôi, tiến hóa từ chất vô cơ đến chất hữu cơ, rồi chất sống và cuối cùng là con người vô cùng phức tạp và kỳ diệu.

Thuyết Thập nhị Nhân duyên của Phật giáo cũng mô tả thế giới vật chất và thế giới sinh vật bằng cấu trúc trùng trùng duyên khởi của nhân duyên mà yếu tố căn bản là vô minh và yếu tố cuối cùng trong chuổi 12 nhân duyên là Lão tử (già chết- Xem bài Thập nhị nhân duyên). Khoa học (KH) và Phật giáo (PG) giống nhau ở chỗ mô tả thế giới là cấu trúc, cấu trúc chính là bản chất của thế giới, đó là sự tương tác lẫn nhau của đủ loại cấu trúc, khác nhau về hình tướng nhưng đồng nhau về bản chất. Nhưng cấu trúc bằng vật liệu gì thì chúng ta sẽ trở lại ở phần dị biệt.


2. Sự biến đổi, tuổi thọ hữu hạn của vạn hữu và Tính chất vô thường của vạn vật.

Khoa học đã chứng minh là tất cả mọi vật từ một hạt cơ bản hạ nguyên tử cho đến vũ trụ bao la đều có tuổi thọ hữu hạn, mọi sự vật đều luôn luôn biến đổi, luôn luôn chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác, lâu hay mau tùy vật nhưng biến đổi là bản chất của mọi vật. PG cũng nêu tính chất vô thường của vạn vật, mọi vật đều luôn biến đổi qua 4 trạng thái là : thành (hình thành), trụ (tồn tại và lớn lên), hoại (hao mòn và huỷ hoại), và diệt (mất đi) và không gì có thể thoát khỏi qui luật này. Tính chất vô thường hay bản chất sinh diệt là điểm đặc trưng của thế giới chúng ta đang sống.

3. Đa vũ trụ theo KH và Tam thiên đại thiên thế giới theo diễn tả của PG

Khoa học với các phương tiện quan sát và thám hiểm không gian hiện đại, biết rằng vũ trụ rất rộng lớn, bán kính có thể đến 14 tỷ quang niên. Trong vũ trụ có vô số thiên hà, mỗi thiên hà có hàng tỉ mặt trời với hệ hành tinh của nó tương tự như dải ngân hà và thái dương hệ của chúng ta. Những năm gần đây Khoa học cũng khám phá ra nhiều hành tinh hơi giống giống trái đất của chúng ta, tuy nhiên Khoa học chưa tìm thấy tín hiệu của một nền văn minh khác ngoài trái đất. Có rất nhiều tin tức chưa được kiểm chứng về những vật thể bay không xác định (UFO Unidentified Flying Objects) mà người ta ngờ là của những nền văn minh khác ngoài địa cầu. Tuy nhiên chưa có một trường hợp nào được xác định rõ ràng. Kinh điển PG thì đề cập đến Tam giới là Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới. Chỉ riêng Dục giới thôi đã rộng lớn hơn vũ trụ mà chúng ta quan niệm vì ngoài cõi vật chất, Dục giới còn bao gồm cõi trời Lục Dục thiên mà các giác quan của chúng ta không thể tiếp xúc được. Như vậy Tam giới của PG vô cùng rộng lớn được diễn tả bằng thuật ngữ “Tam thiên Đại thiên thế giới”, tức là 1000 lũy thừa 3 (10003) Đại thiên thế giới, mỗi Đại thiên thế giới có 1000 Trung thiên thế giới, mỗi Trung thiên thế giới có 1000 Tiểu thiên thế giới, mỗi Tiểu thiên thế giới là 1000 thế giới nhỏ, một thế giới nhỏ là tương đương cõi thế gian của chúng ta. Nếu dùng toán học để tính ra số lượng thế giới nhỏ thì như sau : 10003 x 1000 (Đại thiên) x 1000 (Trung thiên) x 1000 (Tiểu thiên) = một tỉ tỉ (1018) thế giới nhỏ (tương tự thế gian). Thật ra đây chỉ là con số tượng trưng có ý nghĩa là rất lớn, đến mức vô lượng vô biên.

Như vậy ta thấy PG đã đưa ra quan niệm đa vũ trụ, các vũ trụ chồng chất lên nhau mà phần lớn là vô hình đối với các giác quan của chúng ta, các cõi trời Lục Dục thiên thuộc Dục giới, các cõi trời thuộc Sắc giới, các cõi trời thuộc Vô Sắc giới đều hoàn toàn vô hình đối với chúng ta nên tuyệt đại đa số con người không thể thấy được các cõi giới đó. Không thấy không cảm nhận được, con người bèn cho rằng không có. Cũng giống như chung quanh ta có rất nhiều sóng vô tuyến, sóng điện từ, sóng cực vi mà ta không thể cảm nhận trực tiếp được.

Chỉ khi có các thiết bị như radio, tivi, smartphone, hoặc những người có đặc dị công năng, mới thấy có âm thanh, hình ảnh, tín hiệu, thế giới vong linh cõi âm…Đa vũ trụ cũng được các nhà khoa học hàng đầu thế giới hiện nay mô tả. Stephen Hawking (nhà vật lý người Anh, hiện mang chức danh Giáo sư Lucasian tức giáo sư Toán học của Đại học Cambridge, chỉ những nhà khoa học xuất sắc như Isaac Newton hay Paul Dirac mới có chức danh này) và Neil Turok (sinh năm 1958 tại Johanesburg South Africa, Giáo sư Vật Lý của Đại học Princeton, Giám đốc Viện Perimeter về Vật Lý lý thuyết), hai người nói trong một định đề (postulate) : “The quantum world is one of virtual particles continually fluctuating in and out of existence, even in a vacuum, of superstrings vibrating and twisting in ten or eleven dimensions, most of which are ‘rolled up’ and invisible, of a reality in which gravitation, spacetime and matter are or were merged in one ‘instanton” (Thế giới lượng tử là thế giới của các hạt ảo không ngừng dao động qua lại giữa hiện hữu và cả hư không, của siêu dây rung động và biến dạng trong 10 hoặc 11 chiều kích_ mà phần lớn những chiều kích ấy bị cuốn lên và vô hình_của một thực tại trong đó lực hấp dẫn, thời không, và vật chất, được hoặc đã được kết hợp lại trong ‘hiện tiền’).

Cái mà chúng ta thấy và cảm nhận được trong “hiện tiền” chỉ là một phần rất nhỏ của đa vũ trụ vô lượng vô biên mà PG từ lâu đã diễn tả trong thuật ngữ “Tam thiên Đại thiên thế giới”

4. Thuyết tương đối của Einstein và Tam giới duy tâm của PG

Thuyết tương đối của Einstein tập trung ở 3 điểm quan trọng : không gian, thời gian và khối lượng vật chất là tương đối. Tương đối có nghĩa là không tồn tại độc lập, là phụ thuộc vào một cái khác, hay phụ thuộc lẫn nhau. Tương đối cũng có nghĩa là có thể co dãn, có thể thay đổi. Thuyết tương đối ngày nay đã được kiểm chứng.

-Khoảng cách không gian tương đối. Một mặt trời có đường kính một triệu km, khi cháy hết nhiên liệu, có thể co rút lại chỉ còn vài km, trở thành lỗ đen. Như vậy khoảng cách không gian cấu tạo bằng vật chất có thể thay đổi. Điều đó có nghĩa là khoảng cách bằng đường bộ tính theo đường thẳng từ Sài Gòn đến Hà Nội là 712 dặm (miles) hay 1146 km có thể thay đổi. Khoảng cách không gian chân không (không có vật chất đất đá, không khí) từ Sài Gòn đến Hà Nội cũng không có thật. Hiện tượng rối lượng tử (quantum entanglement) đã chứng minh rằng một photon không mất chút thời gian nào để truyền tín hiệu qua lại giữa hai nơi cách nhau 18km (tại Thụy Sĩ). Hiện tượng rối lượng tử thật sự đã làm cho Einstein bối rối vì nó trái với định đề của ông đưa ra, rằng ánh sáng là tốc độ cao nhất của vật chất. Vậy tại sao photon có thể truyền tín hiệu đi nhanh hơn ánh sáng. Ông không thể lý giải được và gọi đó là tác động ma quái từ xa (spooky action at a distance). Eintein qua đời năm 1955, không kịp nhìn thấy thí nghiệm tại Thụy Sĩ, nếu nói tín hiệu truyền đi từ hạt photon này sang hạt photon kia thì nó phải đi nhanh hơn gấp hàng triệu lần tốc độ ánh sáng. Điều đó không đúng mà phải hiểu khác đi là khoảng cách không gian không có thật.

– Thời gian tương đối. Thí nghiệm đầu tiên chứng minh thời gian co giãn thực hiện năm 1938. Các nhà khoa học Mỹ sử dụng hiệu ứng Doppler (hiện tượng sắc thái âm thanh của một vật – chẳng hạn tiếng còi tàu – thay đổi khi đến gần hoặc đi xa tai người nghe) để làm dụng cụ đo. Nhưng lúc ấy mức độ chính xác của công cụ đo lường  còn hạn chế nên thí nghiệm chưa có sức thuyết phục cao. Năm 2005 người ta làm thí nghiệm với máy gia tốc, họ phát đi 2 chùm nguyên tử chạy theo hình một cái bánh rán – thể hiện cho chiếc đồng hồ đang chuyển động của Einstein. Sau đó, họ đo thời gian của các chùm nguyên tử này bằng máy đo phổ laser có độ chính xác cao. Khi so sánh với thế giới thực bên ngoài, họ nhận thấy thời gian di chuyển của các nguyên tử quả thực chậm hơn bình thường. “Chúng tôi đã có thể xác nhận hiệu ứng này chính xác chưa từng có”, trưởng nhóm nghiên cứu Gerald Gwinner từ Đại học Manitoba ở Winnipeg, Canada, nói. “Và trong sự nhất trí tuyệt đối”, ông bổ sung. Thí nghiệm này đã chứng minh thời gian chạy nhanh lên hoặc chậm đi phụ thuộc vào tốc độ di chuyển của một vật so với vật khác.

– Khối lượng tương đối. Theo Walter Kaufmann, vào năm 1901 ông là người đầu tiên xác nhận  khối lượng điện từ phụ thuộc vào vận tốc. Khối lượng điện từ là khối lượng gắn liền với sự chuyển động của electron trong nguyên tử. Khi một vật di chuyển nhanh đáng kể (tức gần với vận tốc ánh sáng) thì khối lượng của các electron cũng tăng lên rõ rệt. Điều đó chứng tỏ khối lượng cơ học của vật thể là không cố định, không có thực thể, chỉ có khối lượng điện từ biểu kiến (apparent) mà thôi, hay nói cách khác, khối lượng của mọi vật thể đều có nguồn gốc điện từ. Trên địa cầu, khi một vật đứng yên, nó vẫn có khối lượng bởi vì thực ra địa cầu chuyển động, thái dương hệ chuyển động, dải ngân hà chuyển động, do đó không có vật gì thật sự đứng yên. Vì vậy mọi vật đều có khối lượng. Nguồn gốc của khối lượng là năng lượng đã làm cho electron chuyển động. Năng lượng đó được tích lũy trong hạt nhân nguyên tử. Vì vậy giữa khối lượng và năng lượng có sự tương đương, được thể hiện trong công thức nổi tiếng của Einstein :

E (năng lượng) = M (khối lượng) x C2  (vận tốc ánh sáng)

Khối lượng tương đối được chứng minh rõ ràng trong các máy gia tốc hạt, khi các electron tự do di chuyển với tốc độ bằng 99,9999875 phần trăm tốc đô ánh sáng. Lúc đó khối lượng electron tăng  gấp 2000 lần so với khối lượng bình thường của electron.

Giữa khối lượng và năng lượng có sự liên hệ chặt chẽ qua công thức trên, nên nếu khối lượng là tương đối, nghĩa là có thể thay đổi, thì năng lượng cũng thế, có thể thay đổi, năng lượng có thể biến thành khối lượng vật chất. PG nói rằng Tâm cũng là một dạng năng lượng, chẳng những vậy, Tâm còn là một năng lượng vô hạn. Nếu làm chủ được Tâm thì cả vũ trụ này chỉ là món đồ chơi của Tâm làm ra. Đó chính là ý nghĩa của câu Tam giới duy Tâm.  Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, dẫn đến một hệ quả hết sức ngạc nhiên, đó là số lượng cũng tương đối, nghĩa là có thể thay đổi. Số lượng là số đếm dựa trên vật thể tức là các hình tướng khác nhau của vật chất. Mà vật chất là tương đối dù xét theo khối lượng hay năng lượng, nên số lượng cũng là tương đối, nó không có thực chất, chỉ là quan niệm, là tâm thức mà thôi. Hiện tượng rối lượng tử (quantum entanglement) là một thực nghiệm chứng minh rõ ràng và chắc chắn số lượng là không có thực. Một photon có thể xuất hiện đồng thời ở hai hoặc nhiều vị trí khác nhau, khi photon tại một vị trí bị tác động, thì photon tại các vị trí kia bị tác động y hệt, tức thời, bất kể khoảng cách là bao xa. Vậy ta không thể nói là chỉ có một photon, cũng không thể nói là có nhiều photon khác nhau. Không thể xác định được, xác định nào cũng không đúng.

Chính ở đây Khoa học đã gặp Phật giáo vì trong Kinh Kim Cang có câu “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm-應無所住而生其心” (Không có chỗ trụ thì xuất hiện cái tâm ấy). Tất cả đều chỉ là cái Tâm ấy thôi, khắp không gian, khắp thời gian, không thể xác định được là ở đâu, lúc nào. Nó bất nhị, không thể nói là thật hay giả, có hay không. Thuyết tương đối đã đến gần với nhận thức PG, những cái mà con người cho là có thật, khách quan, ở ngoài ý thức, PG đều nói là không có thật. Khi con người bước vào thế giới lượng tử, họ mới thấy, mới hiểu tất cả đều là tương đối, không có cái gì là thực thể độc lập tồn tại, kể cả những cái từ bao đời nay họ vẫn tin tưởng là có thật như không gian, thời gian, vật chất, số lượng.

Nói về số lượng, tưởng cũng nên nhắc tới nhà toán học David Hilbert và chương trình của ông : Xây dựng một hệ thống siêu-toán-học (meta-mathematics) – một hệ thống toán học tuyệt đối siêu hình, tuyệt đối thoát ly khỏi thế giới hiện thực, cho phép XÁC ĐỊNH tính trắng/đen, đúng/sai của bất kỳ một mệnh đề toán học nào và chứng minh tính phi mâu thuẫn của toàn bộ toán học.

Để cho dễ hiểu, xin nói một cách đơn sơ, Hilbert muốn thoát ly khỏi thế giới hiện thực bằng cách thay thế đẳng thức :

1 con cừu + 2 con cừu = 3 con cừu Thành đẳng thức thuần túy toán học  1+2= 3 không còn dính dáng gì tới vật chất nữa.

Nhưng ông không ngờ rằng đẳng thức  1+2=3 là bất toàn, nghĩa là không phải lúc nào cũng đúng, bởi vì về bản chất số lượng là không có thật, đó chỉ là ý niệm mà thôi, ý niệm đó phải gắn với hiện thực mới có ý nghĩa.  Trong hiện tượng rối lượng tử, ta có thể thành lập đẳng thức :

1 photon + 2 photon = 1 photon  [trong đẳng thức, vế đầu mang ý nghĩa thực chứng (positivism), vế sau mang ý nghĩa bản thể học (ontology) nhiều photon xuất hiện tại nhiều vị trí khác nhau, thực tế chỉ là 1 photon]

Phật giáo nói hàng tỷ tỷ chúng sinh trong tam giới chỉ là ảo ảnh của một Phật tính bất nhị mà thôi.

Chính nhà toán học Kurt Gödel đã công bố Định lý bất toàn (Theorem of Incompleteness)  vào năm 1931, chỉ ra rằng giấc mộng của Hilbert chỉ là ảo tưởng vì dù cho lô gích của toán học chặt chẽ thế nào, vẫn có mâu thuẫn, chính vì có mâu thuẫn nên giá trị của toán học cũng chỉ là hữu hạn, có tính cách tùy tiện trong một phạm vi nào đó thôi. Kinh điển Thiên Chúa giáo cũng có kể chuyện, trong một buổi giảng đạo bên hồ Galilea, có năm ngàn đàn ông tham dự, chưa kể đàn bà và trẻ con, họ đói, nhưng người thân cận của Chúa Jesus chỉ có 5 cái bánh và 2 con cá, Jesus đã bẻ bánh chia cho tất cả những người tham dự buổi giảng đều được ăn no bụng. Nhiều người cho rằng những câu chuyện như trên chỉ là truyền thuyết hoang đường, ít ai biết rằng chúng cũng có cơ sở khoa học. Đó là số lượng hay khối lượng tương đối, nhiều hay ít chỉ là tâm thức chứ không phải thực thể, nên 5 cái bánh chia cho 10 ngàn người, mỗi người một cái, ăn đủ no, đẳng thức toán học của Hilbert đã thành vô dụng. Nếu chúng ta cho rằng câu chuyện trên chỉ là hoang đường, không có thật, vậy thì nói sao về hiện tượng rối lượng tử, một photon có thể xuất hiện đồng thời tại nhiều vị trí khác nhau, chẳng phải một tức là nhiều đó sao ? Đây không phải là giả tưởng, đây là hiện thực, chúng ta cũng có thể thực nghiệm việc tương tự trên internet, ta chỉ có một tấm hình nhưng ta có thể gởi cho vô số người, ai cũng biết điều này có thể làm được trên máy vi tính nối mạng.  


B. Những điểm dị biệt giữa Khoa học và Phật giáo  

Tuy có một số điểm tương đồng, nhưng giữa KH và PG cũng có nhiều dị biệt. Dị biệt là do KH đang trong quá trình mò mẫm để hiểu thế giới, còn kinh điển PG liễu nghĩa được thuyết giảng bởi những người đã tự mình chứng được cái chân lý tột cùng mà kinh gọi là trí tuệ Bát nhã, Chánh biến tri, hay phiên âm từ Phạn ngữ là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề 阿耨多羅三藐三菩提 dịch nghĩa là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (sanskrit : Anuttara-samyak-sambodhi,  tánh biết chân thật, bình đẳng không có gì cao hơn). Dưới đây xin liệt kê một số điểm dị biệt quan trọng.

1. Đối tượng: Đối tượng của khoa học tự nhiên là thế giới vật chất, khách quan, ở ngoài ý thức ; từ vũ trụ mênh mông sau Big Bang đến thế giới vi mô hạ nguyên tử ; từ thế giới không có sự sống đến thế giới sinh vật. Đối tượng của khoa học xã hội là là những gì quan hệ tới con người như Xã hội học, Chính trị, Luật học, Văn học, Triết học, Nghệ thuật, Âm nhạc… KH muốn tìm ra các chân lý tương đối như định luật (tự nhiên), qui luật (xã hội), các hằng số tự nhiên như số pi, vận tốc ánh sáng, hằng số Planck…để phục vụ cho sự tiện ích của con người và để xã hội phát triển.

Đối tượng của Phật giáo là chúng sinh đang chịu khổ trong sinh tử luân hồi, đang sống mê muội, vô minh. PG muốn cứu độ tất cả chúng sinh muôn loài thoát khỏi đau khổ, mặc dù biết rằng đau khổ đó chỉ là ảo tưởng chứ không phải thật, nhưng vì chúng sinh chấp là thật nên phải chịu đau khổ. Chẳng hạn con người chấp cái ta là có thật (chấp ngã) do đó cũng chấp cái của ta (ngã sở ) là có thật, ví dụ thân bệnh cũng khổ, cái gì của ta như tài sản, tài nguyên bị đe dọa mất mát thì sinh lòng lo âu, quyết tâm đem cả thân mạng ra bảo vệ, dẫn đến chiến tranh đau khổ. Tóm lại PG chỉ quan tâm đến cái tâm lý chủ quan của chúng sinh, mà thuật ngữ PG gọi là chấp trước tưởng. PG muốn chúng sinh, chủ yếu là con người, buông bỏ chấp trước tưởng mà kiến tánh, tức ngộ được bản chất chân thật của mình. Bản chất đó là bản lai diện mục của chúng sinh, còn gọi Phật tánh, hay Trời (Nho giáo) hoặc Thượng đế (Thiên Chúa giáo).

Phật giáo biết là thế giới khách quan không có thực, chỉ có thế giới chủ quan do tâm tạo, do đó Phật giáo không có kiến lập chân lý. Đức Phật trước khi nhập diệt đã nói rõ : « Trong 49 năm qua, ta chưa có nói một chữ » 84.000 pháp môn chỉ là phương tiện giả lập để đối trị với các loại căn tánh khác nhau của chúng sinh, đó chỉ là thuốc giả để trị bệnh giả. Kinh Hoa Nghiêm nói : « Chúng sinh là Phật đã thành » Nghĩa là tất cả chúng sinh đều là Phật, hiện tại cũng là Phật, chỉ vì ham vui, mê chấp những cảnh giới ảo tưởng, lâu ngày tạo thành thói quen, quên mất mình là Phật, tưởng mình là chúng sinh khác với Phật. Đó là bệnh giả, Phật phải dùng thuốc giả để trị. Hết bệnh rồi, thuốc giả phải bỏ.

Tóm lại Khoa học tìm kiếm chân lý tương đối trong thế giới mà khoa học gia cho là khách quan. Phật giáo phủ nhận thế giới khách quan, không kiến lập chân lý (thực chất là không có chân lý) chỉ muốn chúng sinh thoát khỏi mê lầm và khổ vì sinh tử luân hồi.

2. Phương pháp. Khoa học sử dụng tư duy của bộ não, suy luận lô gích, dùng phương pháp so sánh để nhận biết. Càng ngày Khoa học càng phát triển các thiết bị đo lường, các phương pháp tính toán chính xác, các phương trình toán học để từ những cái đã biết, suy luận ra cái chưa biết. Khoa học rất chú trọng về định lượng, do đó phương trình toán học không thể thiếu trong nghiên cứu khoa học. Cho đến ngày nay, Khoa học đã có những bước tiến khổng lồ, chế tạo được vô số công cụ, thiết bị để phục vụ tiện nghi cho mọi nhu cầu vật chất và tinh thần của con người.

Phật giáo chỉ chú trọng phương pháp quán tưởng để phá bỏ tri kiến vô minh, đạt tới sự thấu hiểu cực kỳ sâu xa mà suy luận của bộ não không thể đạt tới. Phương pháp đó gọi là thiền định, hành giả có thể đạt tới những cảnh giới như Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, hoặc cao hơn nữa như Phi tưởng phi phi tưởng xứ, hay cao nhất là Không vô biên xứ. Đến cảnh giới này thì mọi chấp trước về không gian, thời gian, số lượng đều bị phá bỏ, tâm thức vô trụ, tư duy ngừng nghỉ.

Ngoài quán tưởng, Phật giáo Thiền tông còn dùng phương pháp khác là tham công án và về sau là tham thoại đầu. Đây là phương pháp tối thượng thừa của Thiền. Công án là một tình huống bất chợt mà người đã ngộ, tạo ra cho người chưa ngộ để có thể phát khởi nghi tình. Nghi tình là tâm thức hoài nghi, ở đây không dùng tới tri kiến và suy luận, mà chỉ duy trì sự hoài nghi kéo dài, miên mật cho đến một lúc nào đó thì bùng nổ, tức là kiến tánh. Thoại đầu không phải là câu thoại mà là  cảnh giới trước khi có câu thoại, gọi là vô thủy vô minh. Để tới cảnh giới đó, dùng một câu thoại đề khởi liên tục để phát sinh nghi tình và duy trì nghi tình cho miên mật càng lâu càng tốt. Câu thoại là một câu nào đó rất khó hiểu làm cho hành giả sinh nghi, nhưng không tìm cách giải đáp mà chỉ kéo dài nghi tình mà thôi. Chẳng hạn câu thoại “Bản lai diện mục trước khi cha mẹ chưa sinh là gì ?-父母未生前如何是本來面目?”.

Tóm lại, Khoa học phát triển tư duy, hướng ra thế giới vật chất bên ngoài, chú trọng định lượng. Còn Phật giáo tìm cách chấm dứt tư duy, chấm dứt tận ngọn nguồn sâu thẳm của nó là 18 giới (lục căn, lục trần, lục thức) bởi vì tư duy là sở tri chướng che khuất Phật tánh, khi đã dừng được tư duy thì Phật tánh tự hiện.

3. Cứu cánh. Cứu cánh của Khoa học là tri thức, càng nhiều tri thức càng tốt, tri thức càng rộng lớn, chuẩn xác thì càng tốt. Tri thức đó được ứng dụng để sản xuất lương thực thực phẩm, chế tạo quần áo, vật dụng sinh hoạt như nhà cửa, đường sá, xe cộ, máy bay, tàu thủy, máy vi tính, điện thoại di động…khiến cho đời sống con người ngày càng tiện nghi, đầy đủ.

Cứu cánh của Phật giáo là Giác ngộ, thoát khỏi mọi lo âu sợ hãi, thoát khỏi sinh tử luân hồi, đạt tới sinh tử tự do, làm chủ tâm lực, điều này cũng có nghĩa là làm chủ cả tam giới vì tam giới là do tâm tạo. Hành giả đạo Phật không còn thiết tha mê lầm với cái ta giả nữa, mà trở về với cái bản tâm chân thật, đó là Tâm như hư không vô sở hữu. Tất cả mọi chúng sinh đều cùng chung một Tâm ấy cả, nó chẳng phải một mà cũng chẳng phải nhiều nên PG gọi bằng thuật ngữ Tâm bất nhị.

4. Sự Hạn chế. Khoa học mặc dù làm được sự nghiệp vĩ đại nhưng vẫn còn nhiều hạn chế :

–  Khoa học không thể làm chủ được thiên tai, Khoa học không đủ khả năng chế ngự động đất, sóng thần, bão lụt, núi lửa. Lý giải của Khoa học về thiên tai như động đất, núi lửa, dông bão…là không tới nơi tới chốn, nên không bao giờ chế ngự được chúng. Lúc Huệ Năng tới chùa Pháp Tánh vào năm 676 (nay là chùa Quang Hiếu 光孝寺 ở Quảng Châu) gặp hai ông tăng tranh luận không dứt về việc gió động hay phướn động, ngài nói rằng “chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, tâm của các ông tự động” Khoa học thì giải thích là gió làm phướn động, quá hợp lý phải không,  nhưng từ đâu có gió ? không khí nhiệt độ ư, nếu cứ tiếp tục hỏi tới mãi, vật chất từ đâu mà có ? Khoa học sẽ bế tắc không giải thích được nữa, lúc bấy giờ chúng ta mới có thể hiểu ý nghĩa câu nói của Huệ Năng. Tâm lực mới đích thực là nguồn gốc chuyển động của electron. Vậy nếu làm chủ được tâm thì làm chủ được thiên tai, làm chủ được vũ trụ.

–  Khoa học không thể mang lại hòa bình cho thế giới.  Khoa học không thể giúp con người sống hòa bình thân thiện hơn trên thế giới. Tại sao ? Bởi vì khoa học dựa trên một cơ sở sai lầm về nhận thức cơ bản, khoa học vẫn cho rằng thế giới ngoại cảnh là có thật, con người là có thật, mỗi người có cái ta (bản ngã) và nhiều thứ khác thuộc về ta (sở hữu của ta, gọi tắt là ngã sở). Có những cái thuộc lãnh vực vật chất như giang sơn lãnh thổ, lãnh hải, tài nguyên. Có những cái thuộc lãnh vực tinh thần như lịch sử, văn hóa, tôn giáo. Những cái ngã sở đó là đầu mối tranh chấp, xung đột như : tranh chấp về lãnh thổ, lãnh hải, xung khắc về văn hóa, tôn giáo, xung đột về quyền lợi, từ đó dẫn tới chiến tranh. Những tranh chấp về lãnh thổ không thể giải quyết một cách hòa bình được, vì ai cũng cho lãnh thổ là thiêng liêng, quyết không thể nhượng bộ, nên cuối cùng chỉ có thể giải quyết bằng vũ lực. Những xung khắc về niềm tin tôn giáo cũng rất dễ dẫn tới chiến tranh, ví dụ trong lịch sử đã có ít nhất 7 lần người Công giáo La Mã tổ chức Thập tự chinh (Crusade) chống lại người Hồi giáo. Ngay trong nội bộ Ki Tô giáo, người Thiên Chúa giáo cũng có chiến tranh với người theo Tân giáo hay còn gọi là Tin Lành (Protestantism – Evangelicalism). Xung đột giữa người theo Ấn Độ giáo và Hồi giáo cũng rất trầm trọng. Người Hồi giáo đã tấn công tiêu diệt Phật giáo trong thế kỷ 12, 13 khiến Phật giáo bị diệt vong ngay tại quê hương của nó là Ấn Độ. Trong những cuộc chiến tranh, xung đột như thế, khoa học bất lực không thể giúp được gì, nếu không muốn nói khoa học lại càng làm cho chiến tranh tàn khốc hơn với vũ khí ngày càng tối tân, vũ khí hủy diệt hàng loạt…

–  Khoa học dù cho có tiến bộ, vẫn không thể giải quyết được những nỗi khổ cơ bản trong đời sống con người, đó là sinh, lão, bệnh, tử. Khoa học chỉ có thể tạm thời xoa dịu được phần nào thôi. Con người hay nói tổng quát hơn là chúng sinh khi chết đi lại tái sinh trong một kiếp sống khác, sinh ra, già đi, bệnh hoạn cả tinh thần và thể chất, rồi cuối cùng chết đi, đó là vòng tròn luân hồi khép kín mà khoa học không thể nào phá vỡ được.

Tóm lại khoa học dù có những tiến bộ ngoạn mục, thần kỳ, tưởng có thể cướp quyền tạo hóa, nhưng thật ra vẫn không thể giải quyết  nhiều vấn đề rất cơ bản của con người, lý do là Khoa học vẫn còn nhiều vướng mắc (chấp pháp, cho rằng thế giới là có thật) và chấp ngã (cho rằng cái ta có thật) và suốt đời con người chạy theo danh vọng, tiền tài, tính dục, rồi đến tổ quốc, dân tộc, văn hóa, tôn giáo…và nhiều ảo vọng khác.

Chính vì Khoa học có những hạn chế như vậy nên Phật giáo mới còn lý do tồn tại. Như trên đã nói, Phật giáo chỉ là một thứ thuốc giả để trị bệnh giả của chúng sinh. Nói là giả, vì thuốc và bệnh chỉ có trong tâm thức, trong tưởng tượng của con người, chứ bản chất thực sự của thế giới là Không, không có gì cả. Trong bài kệ nổi tiếng của Huệ Năng, có nói :

Bản lai vô nhất vật  本 來 無 一 物  Xưa nay không một vật Hà xứ nhạ trần ai    何 處 惹 塵 埃  Bụi trần bám vào đâu ?

Phật giáo luôn luôn phá chấp, phá cái tâm chấp ngã (cho cái ta là có thật), phá cái tâm chấp pháp (cho vũ trụ là có thật). Kinh Kim Cang nói : Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm (Không có chỗ trụ thì xuất hiện cái tâm đó) Cái tâm đó chính là Phật tánh bất nhị, hoàn toàn không có chút gì hạn chế. Không bị hạn chế bởi không gian, thời gian, số lượng, năng lượng. Không có bắt đầu, không có kết thúc, không có quá khứ, hiện tại, vị lai gì cả. Tâm đó đích thực là sức mạnh tạo ra Tam giới, trong đó có vũ trụ của chúng ta, một cõi giới ảo cao cấp hơn thế giới ảo của tin học hàng ngàn vạn lần . Vũ trụ chính là cái dụng của Tâm bất nhị. Vô minh lại chính là điều kiện cần thiết để phát sinh vũ trụ. Vũ trụ vạn vật cần hai cái vô minh để hiện hữu : Một là vô thủy vô minh (Thiền gọi là thoại đầu), đó chính là cấu trúc ảo của vật chất mà Immanuel Kant gọi là Das Ding an Sich (vật tự thể) và cho là bất khả tri. Hai là nhất niệm vô minh tức là tâm niệm, ý thức thông thường của chúng ta (Phật giáo gọi là thế lưu bố tưởng). Nhất niệm vô minh được thành lập khi cấu trúc ảo của vật chất hình thành được các cấu trúc ảo kỳ diệu là lục căn, trong đó xuất sắc nhất là bộ não của sinh vật, tuyệt đỉnh là bộ não của con người. Lục căn phối hợp với lục trần sinh ra lục thức. 18 giới chính là bộ máy ảo hóa kỳ diệu có thể biến cái vô thủy vô minh vốn không có gì là thực cả, thành ra vũ trụ vạn vật.

Khoa học khi đi sâu vào thế giới hạ nguyên tử, thế giới lượng tử, mới bật ngữa, hiểu rằng vật chất không có gì là thật cả, ý thức mới chính là căn bản của thực tại. Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính) phát biểu : “Nothing would be real unless consciousness exists, that all real things are constituents of consciousness – which is a complete reversal of materialism”  (Không có cái gì là thật trừ phi ý thức hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu thành từ ý thức- điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật).

Sự thật này khiến cho Vật lý học hiện đại lâm vào khủng hoảng. Các khoa học gia hàng đầu thế giới hiện nay, hiểu rằng toàn bộ lâu đài tri thức của nhân loại là xây trên cát.

Truyền Bình

https://phatgiao.org.vn

Công nghệ và Tôn giáo: cùng nhau phát triển


Công nghệ và tôn giáo

Tôn giáo đang ở đâu và sẽ như thế nào trong thời đại 4.0? Đó là một câu hỏi, một thách thức lớn mà các nhà hoạt động tôn giáo nhất định phải quan tâm. Và việc ứng dụng công nghệ vào cơ sở tôn giáo phải chăng là cần thiết để tôn giáo gần gũi hơn với con người?

Hãy điểm qua một vài ví dụ tại các cơ sở Phật giáo.

Màn hình LCD và nến sạc LED

Tại chùa Bayan Lepas (Penang, Malaysia), nhà chùa không còn phát cho phật tử những mảnh giấy để ghi tên người quá cố và nguyện ước của họ trong các buổi cầu nguyện nữa. Thay vào đó, các màn hình LCD 50 inch được treo ở hai vách của phòng cầu nguyện sẽ hiển thị tên tuổi của người mất và chuyển sang tên người khác sau mỗi 3 giây.

Tên của người quá cố được thiết kế lồng trong hình hoa sen bay về phía lòng bàn tay của Đức Phật, như hàm ý rằng linh hồn của họ được Đức Phật đón nhận, độ trì. Chùa cũng cung cấp cho tín đồ cả nến sạc LED vì nó không chỉ thân thiện với môi trường mà còn giúp phòng cháy.

Máy xin xăm

Tại chùa Bà Thiên Hậu (Kualar Lumpur, Malaysia), người muốn xin xăm không phải tốn công lắc lon như trước mà chỉ cần cầm cả bó xăm bao gồm các thẻ xăm nhựa có in số bỏ vào một chiếc lon lớn, ngay lập tức một thẻ xăm sẽ tự động nảy lên. Người xin xăm đến hộc tủ có số xăm tương ứng, mở ra là lấy được giấy giải xăm bao gồm ba thứ tiếng Mã Lai – Hoa – Anh.

Còn ở miếu Văn Võ (Đài Trung, Đài Loan), người xin xăm chỉ cần bỏ xu 10 đài tệ vào khe của tủ kính đặt ở tay phải của pho tượng Khổng Tử, nhạc trỗi lên, “nàng tiên” robot trong tủ đi vào trong, vài giây sau bưng ra khay đựng lá xăm được cuộn tròn và thả ra một khe khác. Người xin xăm cũng có thể lấy xăm bằng cách bấm vào màn hình cảm ứng ở một chiếc máy khác trong điện thờ này.

Nhà sư robot

Tại chùa Long Tuyền (Bắc Kinh, Trung Quốc), nhà sư robot tên Xian’er đã thu hút hàng ngàn lượt phật tử đến tham quan ngôi chùa có tuổi đời trên 500 năm này. Nhà sư chỉ cao 60 cen ti mét, mũm mĩm, ngộ nghĩnh như nhân vật hoạt hình, có thể đọc kinh Phật và trả lời mỗi lần 20 câu hỏi cho những ai viết câu hỏi lên tấm bảng điện tử trước ngực anh ta. Với những câu hỏi ngoài khả năng, Xian’er sẽ nói “Không biết” hoặc “Để tôi hỏi lại sư phụ đã”.

Chùa Kodaiji 400 năm tuổi ở Kyoto đã ra mắt robot android tên Mind Mindar đứng trên bệ cao 195 cen-ti-mét, nặng 60 ki lô gam, được làm bằng silicon và nhôm, mô phỏng hình tượng nữ thần của lòng thương xót Kannon nổi tiếng trong văn hóa Phật giáo Nhật Bản.

Mindar trung tính về giới tính, biết tụng kinh, cúi đầu, đánh trống và rung chuông. Ngoại hình của Mindar được giữ ở mức gần giống như một robot trần trụi, có thể thấy rõ dây nhợ ở phần thân. Một camera được cấy vào mắt trái của Mindar để lấy nét đối tượng, giúp nó linh hoạt hơn trong giao tiếp bằng mắt. Mindar còn có thể trả lời các câu hỏi bằng tiếng Nhật và nhà chùa sẽ chiếu phụ đề tiếng Anh và tiếng Trung lên tường.

Thuyết giảng bằng ánh sáng công nghệ

Trước tình trạng người trẻ tham dự các buổi nói chuyện Phật giáo giảm sút dần, nhà sư Gyosen Asakura, trụ trì chùa Asakura (Fukui, Nhật Bản) đã phát minh ra hoio – công nghệ hợp nhất hình ảnh, kinh điển Phật giáo truyền thống với ánh sáng điện tử rực rỡ, bắt mắt – để thể hiện những hình ảnh về cuộc sống của linh hồn sau khi chết ở cõi Cực Lạc trong các buổi thuyết giảng.

Nghĩa trang kỹ thuật số

Bên cạnh khuôn viên nghĩa trang truyền thống, chùa Koukoko-ji (Tokyo, Nhật Bản) đã thiết lập nghĩa trang kỹ thuật số Ruriden trong một ngôi nhà nhỏ với hơn 2.000 pho tượng pha lê được chiếu sáng bằng đèn LED tông màu xanh lam. Mỗi pho tượng đại diện cho một người đã mất (hoặc sẽ mất). Hài cốt của người quá cố được đặt trong một hộp lưu trữ nằm ngay phía sau bức tượng Phật. Khi thân nhân của người mất quẹt thẻ từ vào hệ thống truy cập của Ruriden, tượng Phật của thân nhân họ sẽ phát ra một ánh sáng màu khác để họ định vị dễ dàng hơn. Nhiều công dân Nhật đã tìm hiểu và đăng ký cho mình “một suất” tại Ruriden.

Các nước châu Á là vậy, còn Việt Nam thì sao?

Hiện nay, kỹ thuật thạch táng tro cốt người chết đã được đưa vào nhiều nhà thờ, chùa ở các thành phố lớn. Ép cốt thạch táng là công nghệ lấy tro cốt người mất từ hũ cốt truyền thống (hình búp sen, tròn, bầu dục…) ra, ép tro cốt đó thành dạng khối rắn chắc như đá granit, sau đó chuyển vào hũ vuông. Hình ảnh và thông tin người mất được khắc chìm vào khối pha lê được gắn ngay bên trên hũ thạch táng. Công nghệ này tạo cảm giác thẩm mỹ, trang nhã, thân thiện, tiết kiệm diện tích cho nhà để cốt, từ đó đáp ứng được nguyện vọng gửi tro cốt ngày càng nhiều của cư dân sống tại các đô thị.

Ngoài ra, các cơ sở tôn giáo ở Việt Nam và nước ngoài hiện nay đều có trang web riêng hoặc Facebook như một kênh thông tin trực tuyến chính thức. Nhiều trang web được đầu tư công phu, có pháp thoại trực tuyến, tư vấn trực tuyến, thông báo các khóa tu học và vô số kinh, sách tôn giáo của nhiều tác giả trong và ngoài nước, ngôn ngữ đa dạng, bản dịch phong phú dưới nhiều định dạng khác nhau, rất thuận tiện cho người đọc sử dụng.

Cuối năm 2018 và đầu năm 2019, báo chí ở TPHCM đồng loạt đưa tin về máy xin xăm tự động ở chùa Vạn Phật (quận 5, TPHCM) và cho biết người dân rất hứng thú đến chùa để tìm hiểu và “dùng thử” chiếc máy này. Thật ra, đây chính là mẫu máy đã có ở miếu Văn Võ (Đài Loan) từ trước đó vài năm đã mô tả ở phần trên bài viết.

Vài thông tin như trên cho thấy các cơ sở tôn giáo đã bắt kịp xu hướng của thời đại, mang lại cảm giác hiện đại, tiện ích và gần gũi cho tín đồ. Không chỉ có vậy, việc ứng dụng công nghệ ở cơ sở tôn giáo còn góp phần bảo vệ môi trường. Trước khi sử dụng màn hình LCD và nến LED, chùa Bayan Lepas phải đốt khoảng 1.000 mẩu giấy khổ A4 sau các buổi cầu nguyện.

Tương tự, khi diện tích đất không mở rộng và ngày càng đắt đỏ mà số lượng người mất ngày càng tăng thì nghĩa trang kỹ thuật số là một cách thiết thực để bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên đất. Người thân của người mất cũng không phải mất phí bảo dưỡng mộ và đôi khi trở thành “nạn nhân” của các vấn nạn tại nghĩa trang truyền thống.

Việc sử dụng công nghệ trong tôn giáo cũng là nỗ lực để tương thích với con người hôm nay – vốn đã thân thiết quá mức với điện thoại thông minh, máy tính bảng và vô số vật chất kỹ thuật khác. Khi giới thiệu robot Xian’er vào năm 2015, chùa Long Tuyền tuyên bố rằng họ hy vọng việc sử dụng công nghệ tiên tiến sẽ giúp việc truyền bá Phật giáo thuận lợi hơn. Robot này truyền tải thông điệp: tôn giáo và khoa học không mâu thuẫn, hoàn toàn có thể song hành với nhau. Xian’er còn có tác dụng thu hút một thế hệ trẻ hiểu biết công nghệ cao của Trung Quốc đến với đạo Phật.

Nhưng điều đáng băn khoăn là: tôn giáo vốn coi trọng những triết lý và hành động sâu sắc, tinh tấn từ bản ngã con người. Do đó, nếu chúng ta đến với tôn giáo chỉ vì tò mò và niềm vui thích thụ hưởng những công nghệ mới mẻ thì liệu có quá màu mè và hời hợt?

Trong tác phẩm Đạo Phật ngày nay (phần Hiện đại hóa), Thích Nhất Hạnh cho rằng “Mỗi lần xã hội biến thiên với những cơ cấu sinh hoạt của nó là mỗi lần đạo Phật phải chuyển mình vươn tới những hình thái sinh hoạt mới để thực hiện những nguyên lý linh động của mình. Sau mỗi lần lột xác như thế, đạo Phật biến thành trẻ trung và lấy ngay lại được phong độ và khí lực của thời nguyên thủy”. Bậc chân sư cũng rất sâu sắc khi nhận định: vấn đề đặt ra cho đạo Phật là vấn đề hiện đại hóa (actualisation) mà không phải là vấn đề tân thời hóa (modernisation).

Ý tưởng của Thích Nhất Hạnh có thể là câu trả lời thỏa đáng cho nỗi băn khoăn có nên ứng dụng công nghệ vào tôn giáo không. Quả vậy, những yếu tố công nghệ hấp dẫn là phương tiện để con người hân hoan hơn khi bước vào ngôi nhà tôn giáo, còn tìm ra những giáo lý kỳ diệu và sâu xa thì muôn đời phụ thuộc vào tự lực của cá nhân. 

Diễm Trang – TBKTSG

Những câu nói hay làm thay đổi cuộc đời bạn


Những câu nói hay về cuộc sống làm thay đổi cuộc đời bạn

Cuộc sống này luôn công bằng, không cho không ai điều gì và cũng không vô tình lấy đi của ai bất cứ điều gì mà không có sự bù đắp, trả giá. Đừng cảm thấy mình mất tất cả hay có tất cả mà không suy nghĩ cho những người xung quanh. Sẽ đến một lúc nào đó, bạn phải bật khóc, nhưng không vì một lý do nào cả. Đó là lúc bạn nhận ra mình đã đánh mất quá nhiều thứ và không bao giờ lấy lại được chúng nữa.

Những câu nói hay về cuộc sống, gia đình, cha mẹ, tình yêu và tình bạn, chứa đựng bên trong là biết bao ý nghĩa, triết lý về cuộc sống, bạn chỉ mất vài phút để đọc và cảm nhận nhưng có thể chúng sẽ làm thay đổi cuộc đời bạn, giúp bạn nhận ra chân lý cuộc đời, mang đến cho bạn những cái nhìn tích cực về cuộc sống và sống hạnh phúc, an lạc hơn.

1. Sai lầm lớn nhất đời người là dùng sức khỏe để đánh đổi lấy những vật ngoài thân. Bi ai lớn nhất đời người là dùng sinh mệnh để đổi lấy phiền não và lãng phí lớn nhất đời người là dùng tính mạng để giải quyết rắc rối do bản thân mình tạo ra!

2. Dù rất chua chát nhưng sự thật là, nhà ở có sửa to, rộng hơn thế nào đi nữa cũng chỉ là nơi ở tạm thời. Cái quách sành mới là nhà ở vĩnh hằng của tất cả chúng ta. Thế nên, nhà rộng chẳng bằng tâm rộng, tấm lòng rộng mở, bề ngoài an yên không bằng cõi lòng an yên.

3. Nỗi đau lớn nhất đời người là con cái muốn báo hiếu nhưng cha mẹ không còn nữa! Bi kịch lớn nhất đời người là nhà chưa giàu người đã ra đi và đáng thương nhất đời người là vào lúc chiều tà mới ngộ ra mình đáng ra nên làm những gì!

4. Khi tâm linh có xu hướng bình tĩnh lại, tinh thần càng trở nên vĩnh hằng! Giảm, nén dục vọng xuống thấp một chút, đẩy lý tính lên cao, tôi, bạn và chúng ta sẽ cảm nhận thấy: Bình an là phúc, thanh sảng, mới mẻ là lộc và lòng thanh tịnh không chút dục vọng là thọ!

5. Người kiếm cớ, vin vào những lý do không có thời gian rèn luyện cơ thể sớm muộn sẽ phải bỏ thời gian ra để đi chữa bệnh!

6. Vui vẻ là phương thuốc kỳ diệu giúp con người trường thọ, nỗ lực chăm chỉ là linh đan giúp sức khỏe bền bỉ dẻo dai. Vận động là sự đầu tư cho sức khỏe, trường thọ là sự báo đáp sau những ngày tháng chúng ta bỏ ra để rèn luyện thân thể.

7. Tiền bạc khó mua được sức khỏe nhưng sức khỏe sẽ được tăng cường hơn nhờ tiền bạc; tiền bạc khó mua được hạnh phúc nhưng muốn có hạnh phúc, buộc phải có sức khỏe.

Hạnh phúc của đời người không nằm ở danh lợi mà xuất phát từ sức khỏe, cơ thể khỏe mạnh không quyết định bởi tiền bạc mà quyết định bởi sự vận động của mỗi con người!

8. Ăn uống quý ở chỗ biết kiêng khem, đọc sách quý ở chỗ biết chọn cái hay để đọc, luyện tập quý ở chỗ duy trì bền lâu;

9. Cả ngày ăn yến tiệc chẳng bằng ăn một bữa cơm đạm bạc thật ngon!

10. Nụ cười, không cần đầu tư vốn liếng nhưng nó có thể tạo ra của cái. Tán dương, biết khen cái đẹp không cần dùng đến tiền mà vẫn tạo ra sức mạnh ngàn cân. Chia sẻ không mất chi phí nhưng có thể nhân niềm vui lên gấp nhiều lần!

11. Niềm vui luôn đi cùng những người khoan dung, của cải luôn sánh vai cùng những người biết giữ chữ tín, trí tuệ luôn song hành cùng những người cao thượng, sức hấp dẫn luôn xuất hiện bên người hài hước và sức khỏe luôn đến với những người vui vẻ, mở rộng trái tim.

12. Sự nghiệp không cần kinh thiên động địa, có thành tựu là được; tiền bạc không cần thừa thãi, dùng cả đời không hết, đủ tiêu là được; bạn bè không cần lúc nào cũng như hình với bóng, nhớ, nghĩ về nhau là được; con cái không cần nhiều hoặc ít, hiếu thuận là được; tuổi thọ không cần quá một trăm, sống khỏe mỗi ngày là được!

13. Chẳng có một người bạn nào có thể quan trọng hơn sức khỏe, cũng chẳng có một kẻ địch nào đáng sợ hơn bệnh tật. Thay vì đau khổ gặm nhấm nỗi đau do bệnh tật gây ra, hãy đứng dậy vận động để cuộc đời thêm nhiều màu sắc.

14. Có gì cũng được trừ có bệnh, không có gì cũng được trừ không có tiền, thiếu gì cũng được trừ thiếu sức khỏe. Sức khỏe không phải là tất cả nhưng không có sức khỏe sẽ chẳng có thứ gì!

15. Quan lớn không bằng trí lớn, trí lớn không bằng lương cao, lương cao không bằng thọ lâu, thọ lâu không bằng vui vẻ, không sợ đãi ngộ thấp, chỉ sợ mệnh đoản, không sợ kiếm được ít tiền, chỉ sợ ra đi quá sớm!

16. Cái gì cũng có thể không tốt nhưng tâm trạng không thể không tốt; cái gì cũng có thể thiếu nhưng tự tin thì không thế thiếu; cái gì cũng có thể không cần nhưng vui vẻ thì bắt buộc phải cần; cái gì cũng có thể quên nhưng việc rèn luyện sức khỏe không được phép quên.

17. Đối xử tốt với bản thân, hạnh phúc không gì so sánh được. Đối xử tốt với người khác, vui vẻ không gì so sánh được; đối xử tốt với sinh mệnh, sẽ khỏe mạnh không gì so sánh được.

18. Có ba thứ cần lãng quên: Lãng quên tuổi tác, lãng quên quá khứ và lãng quên ân oán.

19. Có bốn thứ cần có: Bất luận bạn mạnh yếu ra sao, nhất định cần phải có người yêu mình thực sự, có bạn bè tri kỷ, có sự nghiệp phát triển từng ngày và có một mái nhà ấm áp, tràn ngập yêu thương.

20. Có 6 thứ không nên: Không nên đói mới ăn, không nên khát mới uống, không nên buồn ngủ mới đi ngủ, không nên mệt mới nghỉ, không nên bệnh mới đi khám, không nên để già rồi mới hối hận!

21. Không cầu là quý, ít bệnh là thọ, đủ dùng là giàu, không dục vọng là phúc và cảm kích là hỉ.

22. Nếu không có sức khỏe, trí tuệ, văn hóa, năng lực khó mà bộc lộ ra ngoài và trí thức cũng chẳng có cơ hội để dùng đến.

23. Đời người không nằm ở việc sống lâu hay ngắn mà nằm ở việc giác ngộ sớm hay muộn; Sinh mệnh không dùng để đính chính người khác đúng hay sai mà dùng để thực hiện một cuộc sống nhiều màu sắc của chính bản thân chúng ta.

24. Người bị oán hận không đau khổ, người oán hận người khác lại chịu thương tổn nghiêm trọng. Thế nên, tuyệt đối không nên hận người để rồi tự hại mình.

25. Nếu có người lăng mạ nguyền rủa bạn, không nhất thiết phải quay đầu lại xem người đó là ai. Hãy thử nghĩ sâu sắc một chút mà xem, giả sử một con chó điên cắn bạn một cái, lẽ nào bạn cũng cần phải hạ mình cúi thấp sát đất chỉ để cắn trả lại nó một cái?

26. Không tranh luận với kẻ ngốc, nếu không sẽ không thể biết rõ ai là kẻ ngốc.

27. Học lực là một tấm huy chương đồng, năng lực là tấm huy chương bạc, nhân duyên, các mối quan hệ xã hội của con người là huy chương vàng và tư duy đứng trên tất cả những tấm huy chương nói trên.

28. Người thành công không thắng ở điểm xuất phát mà thắng ở những bước ngoặt.

29. Tiền có hai loại: Khi tiêu hết, đó là tiền, là tài sản. Không tiêu hết, đó là “giấy”, là di sản.

30. Bộc lộ sự nóng nảy ra ngoài, đó gọi là bản năng. Kìm nén sự nóng nảy vào bên trong, đó gọi là bản lĩnh.

31. Cuộc sống không có tình yêu giống như một hoang mạc. Khi bạn tặng hoa hồng cho người khác, tay bạn tự khắc cũng sẽ thơm. Cần lĩnh hội được rằng “yêu người khác thực ra là yêu chính mình”. Hãy để tình yêu giống như ánh nắng buổi chiều sưởi ấm trái tim mỗi con người.

32. Xinh gái, đẹp trai nhưng bản thân không biết, đó chính là khí chất. Có tiền, tài hoa nhưng người khác không biết, đó chính là tu dưỡng.

33. Duyên phận là một cuốn sách, nếu lật giở mà không để tâm sẽ bị lướt qua, đọc quá chăm chú sẽ khiến người ta rơi nước mắt.

34. Hãy cảm ơn người nói cho bạn biết khuyết điểm của bạn, chỉ có người nói cho bạn khuyết điểm của bạn một cách chân thành mới là người đối tốt với bạn.

35. Đừng nói dối vì nói một câu dối gian lại phải bịa đặt ra mười câu gian dối khác để bù đắp. Bạn có cần phải khổ như vậy?

36. Trả thù không thể hóa giải thù hận, chỉ có khoan dung, tha thứ mới có thể làm được việc đó. Hãy cố gắng để cuộc sống của chính mình được thanh thản.

37. Những cái không đạt được, bạn sẽ luôn cho rằng nó đẹp đẽ, chính vì bạn hiểu nó quá ít, bạn không có thời gian ở chung với nó. Nhưng rồi một ngày nào đó khi bạn hiểu sâu sắc, bạn sẽ phát hiện nó vốn không đẹp như trong tưởng tượng của bạn.

38. Thời gian một đi không trở lại, sinh mệnh con người thì quá ngắn ngủi
Khi về già, ta nhận ra sự thật rõ ràng rằng một ngày trôi qua sẽ mãi mãi không quay trở lại, vì vậy ngay từ bây giờ, hãy sống vui vẻ mỗi ngày, để mỗi ngày trở nên ý nghĩa hơn.

39. Thời gian và trải nghiệm sẽ làm lành những nỗi đau
Bạn cần hiểu rằng một chuyện buồn trong cuộc sống dù có đau đớn đến mức nào rồi đến một ngày nó sẽ chỉ là một phần rất nhỏ bé so với cả quá khứ của bạn và nó cũng không nghiêm trọng đến mức như bạn nghĩ bây giờ.

40. Phía sau một cuộc đời tươi đẹp là không ít những đau khổ.
Bạn là con người nên không thể hoàn hảo. Dù bị tổn thương nhưng bạn vẫn sống sót. Hãy nghĩ về một đặc ân quý giá là bạn vẫn được sống, được thở, được suy nghĩ, được tận hưởng và được theo đuổi những gì bạn yêu thích. Đôi khi có những nỗi buồn trên đường đời nhưng vẫn còn rất nhiều niềm vui. Chúng ta vẫn phải tiếp tục tiến về phía trước ngay cả khi chúng ta đang tổn thương, vì chúng ta không bao giờ biết điều gì đang đợi chờ mình.

41. Bạn là người quan trọng nhất với chính mình.
Hạnh phúc là khi bạn cảm thấy hài lòng với bạn thân mà không cần sự đồng tình từ ai đó. Bạn phải đối xử tốt với chính bản thân mình trước khi muốn có mối quan hệ tốt với những người khác. Bạn phải tự thấy bản thân mình có giá trị thì mới có thể tự tin trong mắt người khác.

42. Hành động của một người nói lên sự thật.
Trong cuộc đời mình, bạn sẽ gặp nhiều người. Họ có thể nói những lời tốt đẹp nhưng cuối cùng chỉ có hành động của họ mới nói lên họ là ai. Vì thế hãy chú ý tới những gì mà người ta làm. Hành động của họ sẽ nói với bạn mọi thứ bạn cần biết.

43. Hạnh phúc hay niềm vui không tự nhiên mà có
Không có gì nằm gọn trong lòng bàn tay. Hạnh phúc sẽ không đến gõ cửa tìm bạn, niềm vui cũng không tự nhiên mà có. Hạnh phúc phải nỗ lực mới có thể đạt được, niềm vui luôn phải tìm kiếm không ngừng. Hạnh phúc và niềm vui phải dùng trái tim để cảm nhận, có cảm nhận được hay không còn phụ thuộc vào chính bản thân bạn.

44. Tiền bạc nhiều đến đâu thì chết cũng coi như hết
Đừng quá coi trọng tiền bạc, càng không nên quá chi li tính toán, tiền chỉ như vật ngoài thân, sống có giàu sang phú quý đến đâu thì chết cũng không mang theo được. Nếu có ai đó cần sự giúp đỡ của bạn, hết lòng giúp đỡ họ cũng chính là một niềm vui, nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui tại sao lại không làm chứ? Tiêu tiền giúp bạn hiểu được tiền có thể kiếm được thì cũng có thể tiêu đi, hãy dùng nó để giúp đỡ bản thân và người khác.

45. Sức khỏe mãi mãi là của bạn
Tiền bạc, con cái, quyền lực chỉ là nhất thời, vinh quang là của quá khứ, còn sức khỏe sẽ mãi là của bạn.

46. Cha mẹ và con cái hoàn toàn không giống nhau.
Tình yêu của cha mẹ giành cho con cái là vô hạn, còn tình yêu của con cái giành cho bố mẹ chỉ là cái gì đó hữu hạn mà thôi:
– Con cái bị bệnh cha mẹ hết mình chăm sóc, cha mẹ bệnh con cái hỏi thăm qua loa và coi thế là đã đủ.
– Con cái tiêu tiền của cha mẹ đó là lẽ đương nhiên, cha mẹ tiêu tiền của con cái không dễ dàng như vậy.
– Nhà của cha mẹ là nhà của con cái, còn nhà của con cái thì không còn là nhà của cha mẹ nữa.
Không giống nhau chính là như vậy, hiểu rằng vì con cái làm tất cả đó không chỉ là nghĩa vụ mà đó còn là niềm vui, không cầu báo đáp, nếu mong muốn sự báo đáp của con cái thì chỉ chuốc lấy muộn phiền.

47. Những hi sinh của ngày hôm nay sẽ được đền đáp vào ngày mai.
Khi nói đến chuyện làm việc chăm chỉ để đạt được một ước muốn nào đó như: tốt nghiệp đại học, gây dựng sự nghiệp hay đạt được một thành tựu nào đó đòi hỏi thời gian và sự quyết tâm, tôi muốn hỏi bạn một điều: “Bạn có sẵn sàng sống một cuộc đời khác với mọi người hay không?”.

48. Cuộc sống của bạn không phải từ lúc bạn sinh ra cho tới khi bạn qua đời.
Cuộc sống của bạn chính là ngay lúc bạn đang thở cho tới hơi thở tiếp theo. Hiện tại – ngay ở đây và ngay lúc này – chính là cuộc sống của bạn. Vì thế, hãy tận hưởng từng khoảnh khắc bằng sự tử tế và bình an, đừng sợ hãi hay hối tiếc.

49. Luôn có một tâm thái vui vẻ
Cuộc sông luôn công bằng, biết đủ thì luôn hạnh phúc, làm việc tốt, lấy việc giúp đỡ người khác làm niềm vui, bối dưỡng các sở thích của bản thân, bạn sẽ một cuốc sống nhiều màu sắc hơn. Dùng tâm thái bình tĩnh đối mặt với mọi điều,chỉ như vậy bạn mới luôn vui vẻ, khỏe mạnh.

50. Đơn giản, bình thường mới là thật
Quyền cao chức trọng thì được hưởng lộc, nhưng thường dân lại chiếm số đông hơn. Số ít chưa chắc đã hạnh phúc, “số đông” vì thế không cần phải tự ti.
Con người vốn không phân cao thấp sang hèn, chỉ cần phấn đấu hết mình vì sự nghiệp cũng coi như là đã có cống hiến, hơn nữa bước qua tuổi trung niên chẳng phải cũng gần về với thiên nhiên rồi sao? Ai cũng giống nhau cả. “Thực ra làm quan cao không bằng nhiều tiền, nhiều tiền không bằng sống lâu, sống lâu không bằng vui vẻ, vui vẻ không bằng hạnh phúc.”.

51. Quá khứ đã là lịch sử. Tương lai là một phép màu nhiệm. Còn hiện tại là một món quà của cuộc sống, chính vì thế mà chúng ta gọi đó là một tặng phẩm quý giá.

52. Một người tình nguyện vì bạn mà theo đuổi mọi thứ chưa hẳn đã thật lòng yêu bạn, bởi vì thứ mà người đó theo đuổi được không hẳn thuộc về bạn.
Một người mà tình nguyện vì bạn mà từ bỏ tất cả mới là người thật tâm yêu bạn, bởi vì những thứ mà người đó ta vứt bỏ đều là những thứ thiết thực nhất gắn liền với cuộc đời người đó.

53. Có lẽ cần phải trải qua tuổi thanh xuân mới có thể hiểu được tuổi xuân là khoảng thời gian ta sống ích kỷ biết chừng nào. Có lúc nghĩ, sở dĩ tình yêu cần phải đi một vòng tròn lớn như vậy, phải trả một cái giá quá đắt như thế, là bởi vì nó đến không đúng thời điểm. Khi có được tình yêu, chúng ta thiếu đi trí tuệ. Đợi đến khi có đủ trí tuệ, chúng ta đã không còn sức lực để yêu một tình yêu thuần khiết nữa.

54. Cuộc sống không phải là phim ảnh, không có nhiều đến thế… những lần không hẹn mà gặp.

55. Hạnh phúc không phải là có tất cả những gì bạn muốn, mà là trân trọng những gì bạn đang có.
Chân lý cuộc sống

56. Bất kỳ một sự đả kích nào cũng không nên trở thành cái cớ cho bạn sa ngã. Bạn không thể thay đổi thế giới nhưng bạn có thể thay đổi bản thân mình. Việc cần làm là chọn lựa một con đường đúng đắn và kiên trì bước tiếp.

57. Thế giới bạn không bước vào được thì đừng cố chen vào, làm khó người khác, lỡ dở mình, hà tất chứ?

58. Đôi khi, không cẩn thận biết một số chuyện, mới phát hiện ra rằng những điều bản thân để tâm lại nực cười đến thế.

59. Ai không giả dối, ai không dễ thay đổi, không ai là ai của ai hết. Hà tất phải coi một số người, một số chuyện quan trọng đến thế.

60. Tình yêu, tình bạn, không phải là cả đời không cãi nhau, mà là cãi nhau rồi vẫn có thể bên nhau cả đời.

61. “Tin rằng bạn có thể làm một điều gì đó đồng nghĩa với việc bạn đã đi được nửa đường đến đó” – Theodore Roosevelt

62. Không có hoàn cảnh nào tuyệt vọng, chỉ có người tuyệt vọng vì hoàn cảnh.

63. Đi ngược lại với đám đông có nghĩa là bạn cực kì thông minh hoặc cực kì ngu dốt.

64. Khi tất cả những cái khác đã mất đi thì tương lai vẫn còn.

65. Để tâm nên mới nghĩ ngợi linh tinh, không để tâm, đến nghĩ cũng chẳng buồn nghĩ!

66. Không nghe không hỏi không nhất định là đã quên, song chắc chắn là đã xa cách. Cả hai trầm lặng quá lâu, đến chủ động cũng cần có dũng khí.

67. Đừng nên dùng những lời tuyệt tình để làm tổn thương đến người mà bạn yêu vào lúc tâm tình tồi tệ nhất.

68. Có những lúc, không có lần sau, không có cơ hội bắt đầu lại. Có những lúc, bỏ lỡ hiện tại, vĩnh viễn không còn cơ hội nữa.

69. Hãy dùng thái độ cam tâm tình nguyện để sống một cuộc sống an ổn.

70. Tất thảy mọi vấn đề đều là vấn đề của bản thân.

71. Đôi khi, rõ ràng chúng ta đã tha thứ cho người ta, song lại không thể thực lòng vui vẻ, đó là bởi vì, chúng ta quên tha thứ cho bản thân mình.

72. Có sinh sẽ có tử, song chỉ cần bạn vẫn đang có mặt trên đời này, thì phải sống bằng cách tốt nhất. Có thể không có tình yêu, không có đồ hàng hiệu, song không thể không vui vẻ.

73. Họ tốt đến đâu không quan trọng, bởi những thứ đó thuộc về họ.Họ tốt với bạn thế nào mới quan trọng, bởi những thứ đó thuộc về bạn.

74. Thứ không cần, có tốt đến đâu cũng là rác.

75. Nếu bạn không mù, thì đừng dùng tai để hiểu tôi.

76. Sự lợi hại thực sự không phải là bạn quen biết bao nhiêu người, mà là vào lúc bạn gặp hoạn nạn, có bao nhiêu người quen biết bạn.

77. Những chuyện không cần giải thích kia, vào giây phút bạn nói ra, bạn đã thua.

78. Những phiền não trong cuộc đời được gói gọn trong 12 chữ: Không buông được, nghĩ không thông, nhìn không thấu, quên không nổi!

79. Hãy nói một tiếng xin lỗi với bản thân mình, bởi những năm qua đã không học cách yêu lấy mình!

80. Đừng gắng sức suy đoán cách nghĩ của người khác, nếu bạn không phán đoán chính xác bằng trí huệ và kinh nghiệm thì mắc phải nhầm lẫn là lẽ thường tình.
81. Công thức để có một gia đình hạnh phúc
“Yêu thương, tôn trọng nhau, biết cách quan tâm và chia sẻ, thấu hiểu và bao dung” = “Gia đình hạnh phúc”.

82. Khi con người ta vẫn còn trên đời, tưởng rằng còn nhiều thời gian, nhiều cơ hội. Thực ra cuộc đời là phép trừ, gặp nhau một lần, ít đi một lần.

83. Người ta nghĩ sao về bạn, không có liên quan gì đến bạn. Bạn sống thế nào, cũng không có liên quan gì đến người ta.

84. Thể diện rốt cuộc bao nhiêu tiền một cân? Tại sao chúng ta phải để tâm đến cách nhìn của người khác.

85. Có một ngày bạn sẽ hiểu, lương thiện khó hơn thông minh nhiều. Thông minh là một loại tài năng thiên phú, còn lương thiện lại là một sự lựa chọn.

86. Trong cuộc sống, giai đoạn khó khăn nhất không phải là không ai hiểu bạn, mà là… bạn không hiểu chính mình.

87. Cuộc đời này thật ngắn ngủi, đừng dành… dù chỉ một phút cho những người, những việc khiến bạn buồn.

88. Thực ra, con người luôn ngược đời, người yêu bạn chiều chuộng bạn thì bạn không thèm. Người lạnh lùng, ơ hờ với bạn thì bạn lại theo đuổi mãi không thôi. Cuối cùng, người bị tổn thương đầy mình là chính bản thân bạn.

89. Thực ra những người hay cười, lại luôn cần người khác yêu thương.

90. Thước đo của cuộc đời không phải là thời gian mà là sự cống hiến.

91. Dũng cảm không phải là không sợ, mà là sợ nhưng vẫn làm.
92. Mỗi người đều có cách sống của riêng mình, chúng ta không cần phải ngưỡng mộ cuộc sống của người khác. Có người ngoài mặt tươi cười rạng rỡ nhưng ẩn trong đó là bao giọt nước mắt, lại có người nhìn có vẻ cơ cực nhưng kỳ thực họ lại đang trải qua một cuộc sống rất thoải mái.

93. Người thông minh là người có thể che dấu đi sự thông minh của mình.

94. Nhiều thứ chúng ta mong mỏi có được có giá đắt. Nhưng sự thật là, những gì thực sự khiến chúng ta hài lòng lại hoàn toàn miễn phí – đó là tình yêu, là tiếng cười và là những giây phút miệt mài theo đuổi đam mê của mình.

95. Đừng xem trọng bề ngoài vì nó có thể đánh lừa bạn. Đừng xem trọng sự giàu sang vì nó có thể mất dần. Hãy đến với người biết làm bạn cười, vì chỉ có nụ cười mới biến ngày buồn thành vui.

96. Đời này, chỉ có chính bạn mới hiểu bạn nhất. Không phải mẹ bạn, không phải người yêu bạn, không phải bạn thân bạn, không phải thầy bói… mà là bạn. Vậy nên hãy tỉnh táo trước khổ đau và nhẹ nhàng trước sung sướng. Sướng khổ là do tâm mình thôi.

97. Một lời bất cẩn có thể gây bất hòa. Một lời độc ác có thể làm hỏng cả cuộc đời. Một lời đúng lúc có thể làm giảm căng thẳng. Một lời yêu thương có thể đem lại hạnh phúc.

98. Luôn đặt mình vào vị trí của người khác. Nếu trong vị trí đó, bạn thấy đau, có lẽ người kia cũng sẽ cảm thấy như vậy.

99. Đừng hạ thấp giá trị bản thân bằng cách so sánh mình với những người khác. Đó là vì mỗi chúng ta là những con người hoàn toàn khác nhau, chúng ta là những cá nhân độc lập với những tài năng riêng biệt.

100. Chớ để cuộc sống trôi tuột qua kẽ tay vì mãi đắm mình trong quá khứ hoặc mơ mộng ảo tưởng về tương lai. Hãy tận hưởng cuộc sống trong từng khoảnh khắc, bạn sẽ cảm thấy từng ngày trôi qua thật trọn vẹn.

101. Bạn bè bạn sẽ không cần bạn phải giải thích gì cả, còn với kẻ thù thì dù bạn có giải thích bao nhiêu họ cũng chẳng tin đâu. Hãy cứ làm những gì mà thâm tâm bạn biết là đúng.

102. Đừng trốn tránh trách nhiệm giải quyết vấn đề, hãy nhìn thẳng vào khó khăn và cố gắng đi qua

Mọi người đều biết, để làm được điều này quả thực là không hề dễ dàng. Thật khó để mỗi khi gặp khó khăn lại có thể dùng tâm thái bình thản, tĩnh tại để đối diện với nó. Nhưng thực sự là khi gặp khó khăn, chỉ có bình tĩnh đối diện với nó thì mới giải quết được vấn đề, còn trốn tránh nó thì chỉ làm lãng phí thêm thời gian và sự lo lắng cho bản thân mà thôi!

103. Đừng cố trở thành một người không phải là mình

Có một điều mà con người luôn phạm phải đó là luôn nhìn người khác rồi ngưỡng mộ và mong muốn bản thân mình trở thành người ta. Một người xinh đẹp, thông minh, trẻ trung, thành đạt hơn mình… nhưng có một sự thật là họ không phải là mình. Hãy đừng luôn ao ước trở thành người khác, hãy là chính bản thân mình và cố gắng hết sức mình để trở thành một người tốt, lương thiện, thật thà, bao dung người khác. Khi ấy bạn cũng trở thành người “đáng ngưỡng mộ” trong mắt người khác!

104. Đừng tự lừa dối bản thân

Đừng huyễn hoặc để lừa gạt bản thân mình, hãy dùng con mắt chuẩn xác để nhìn nhận bản thân mình. Người luôn tự lừa dối bản thân mình sẽ khó nhận ra được khả năng và vị trí của mình ở đâu . Muốn gặp được những cơ hội tốt, hãy bắt đầu từ việc chân thành đối đãi với chính bản thân mình.

105. Đừng lãng phí thời gian vào nhầm người

Đời người rất ngắn ngủi, cho nên đừng đem những ngày tháng quý giá của mình lãng phí vào nhầm người. Nếu như người khác cần bạn, họ sẽ dành cho bạn một khoảng không gian. Nhiều lúc, chúng ta không cần phải “giãy giụa” trong đau khổ mà thay vào đó hãy chọn cách “buông bỏ”. Hãy nhớ kỹ, bạn bè tốt là người luôn xuất hiện bên bạn những lúc bạn cần. Những người mà khi con ở vào thời điểm huy hoàng mới đến kết giao thì đó chưa chắc là bạn chân chính.

106. Đừng mải sống trong quá khứ

Nếu một người cứ mãi đắm mình trong “bóng ma” quá khứ thì người đó sẽ không có cách nào bắt đầu một cuộc đời mới!

107. Đừng mãi trách cứ sai lầm của bản thân

Bạn có thể yêu quý nhầm người hay cũng có thể khóc vì những sự việc không đáng nhưng có một điểm là hãy biết tha thứ cho bản thân mình, đừng mãi nhìn vào sai lầm của bản thân để rồi trách cứ mình. Bởi vì những sai lầm ấy, ít nhất nó cũng giúp bạn biết tránh khi lần sau gặp lại, từ đó giúp bạn trưởng thành hơn. Hãy nhớ rằng, mỗi một sai lầm hôm nay sẽ là kinh nghiệm trong tương lai giúp bạn hoàn thiện bản thân mình, thay vì mãi trách cứ bản thân, chi bằng hãy sửa chữa nó.

108. Đừng sợ phạm sai lầm mà không dám làm gì

Trong cuộc đời, để đạt được thành công, hỏi có mấy người là không từng trải qua sai lầm? Đến một lúc nào đó, bạn sẽ nhận ra rằng, đôi khi điều khiến bản thân hối hận “mãi không thôi” không phải làm một việc sai lầm, mà là không dám làm nó.

109. Đừng chuyên “thu hoạch” hạnh phúc từ người khác

Nếu như bạn luôn cảm thấy không thỏa mãn về chính bản thân mình thì đứng ở góc độ lâu dài mà xét, cho dù bạn ở chung với ai đi nữa, bạn cũng sẽ cảm thấy không vui vẻ. Cho nên, trước khi ở chung với người khác, bạn cần tự làm cho bản thân mình trở nên tốt đẹp. Người ta nói rằng, có yêu bản thân mình mới yêu được mọi người xung quanh!

110. Đừng đáp ứng hết nhu cầu của bản thân

Trong cuộc sống này, những thứ mà chúng ta ngày đêm mong muốn là vô cùng nhiều bởi vì dục vọng của con người gần như là vô tận. Tuy nhiên, những thứ mà thực sự khiến chúng ta thỏa mãn đôi khi lại rất ít và rất đơn giản như nụ cười, sự cho đi… Hãy tu tâm dưỡng thân để biết nhu cầu nào là cần thiết và nhu cầu nào là nên buông bỏ.

111. Đừng quá cố chấp để tranh luận

Có rất nhiều người không nhận thức được rằng mình cũng có sai phạm, mà luôn hy vọng mình vĩnh viễn đúng. Thực tình là đã không biết rằng, điều này là rất nguy hiểm trong các mối quan hệ với người khác. Ngoài ra nó còn đem lại cho chúng ta và cả người khác áp lực và sự thống khổ lớn. Vì vậy, lúc mà bạn muốn vùi đầu mình vào để tranh luận đúng sai, hãy hỏi lại mình xem làm như vậy có thực sự tốt không? Nó thực sự đem lại lợi ích cho cả mình và người khác sao?

112. Người giàu có không phải là người có nhiều mà là người cho nhiều.

113. Trưởng thành không phải là khi ta nói về những điều lớn lao mà là khi ta hiểu được những điều nhỏ bé.

114. Thành công không phải là chưa từng thất bại mà là biết đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã.

115. Tình yêu lớn không phải là yêu nhiều người mà là yêu một người đến hết cuộc đời.

116. Cơm nên ăn từng miếng, việc nên làm từng phần. Không có việc gì là một lần giải quyết xong, mà bất cứ điều gì cũng cần một quá trình trải thảm. Đừng cả ngày mải mê theo đuổi ngược xuôi, mà hãy sống thật ung dung tự tại.

117. Đừng quá bình thản mà bước chân chậm rãi. Bởi vào những thời điểm then chốt, bạn vẫn cần cho bản thân tỏa sáng, để những ngày tháng bình lặng thêm điểm nhấn sắc màu.

118. Bất kể sự tình nào cũng có tính hai mặt, đôi khi không quan trọng đúng sai. Điều bạn cho là sai nhưng có thể người khác nhìn nhận là đúng; điều bạn nỗ lực đạt được rất có thể là những gì người khác muốn buông tay.

119. Ngồi nơi sang trọng cùng những người khách lạ, chẳng thà ở nhà tranh đối ẩm thưởng trà với tri âm.

120. Xa cách tình thân là nỗi đau cắt da cắt thịt. Lãnh đạm một chút, bao dung một chút sẽ làm tâm bạn rộng mở hơn, hòa ái hơn, cũng ấm áp hơn.

121. Con cái với cha mẹ không thể là “Sống thì con chẳng cho ăn, chết thì xôi thịt làm văn tế ruồi”. Trong hàng trăm cái thiện thì chữ Hiếu làm đầu, thiện đãi với cha mẹ cũng là thiện đãi với chính mình.

Kỳ thực, cha mẹ không cần tiền bạc hay vật chất, chỉ cần một lời hỏi thăm, một thái độ cung kính, hay được cùng cháu con hoài niệm về ký ức ngày xưa đã là quá đủ rồi.

122. Địa vị hay danh vọng chỉ giống như một chiếc bình rỗng, nền tảng tu dưỡng và đạo đức mới là thứ rượu chứa trong bình.

Cất chứa trong bình là rượu nho hảo hạng hay chỉ là thứ nước suồng sã – tất cả đều tuỳ nơi tâm bạn.

123. Khi sự nghiệp thành công cần trân trọng sức khỏe bản thân mình, sự nghiệp không thành công lại càng phải làm bản thân khỏe mạnh hơn nữa.

124. Đời người thong dong đâu cần phải vội vã. Ung dung là một loại trí tuệ.

125. Có trí tuệ thì phải có khả năng tự kiềm chế. Nếu không, do biết nhiều sẽ thiệt thân. Nhận biết tỉnh giác là quan trọng, nhưng nếu không có khả năng quyết đoán thì cái biết ấy cũng là vô ích.

126. Tình yêu là thứ không thể nào quên lãng được. Nhưng lúc nào cũng từ bỏ được.
Còn tình yêu thật sự, thì không cần nhớ đến nó, nhưng lúc nào cũng sống tự nhiên cùng với nó. Cho nên không có vấn đề quên lãng hay từ bỏ.

127. Cô đơn không phải là khi ta ở một mình mà là khi ta ở giữa đám đông nhưng vẫn cảm thấy cô độc.

128. Giá trị của một con người không phải là khi họ đang ở vị trí thuận lợi mà là khi họ đang rơi vào hoàn cảnh khó khăn và đau khổ nhất.

129. Ngu ngốc nhất không phải là thất bại, mà là không dám thử.

130. Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi không có tình người.

131. Bạn có 2 cách để thay đổi cuộc đời bạn từ bây giờ: Bắt đầu những hành động tích cực và ngừng ngay những hành động tiêu cực.
132. Tha thứ là cách tốt nhất để cân bằng cuộc sống hiện tại. Khi bạn học được cách tha thứ và bỏ qua được những gì thuộc về quá khứ, bạn sẽ nhận ra một điều: những gì bạn cần làm là chuyển mối quan hệ này sang một người khác thích hợp hơn.

133. Bạn đừng bao giờ ghét những người hay đố kỵ với bạn. Hãy kính trọng sự đố kỵ đó, vì những người ấy chính là người nghĩ rằng bạn giỏi hơn họ.

134. Hạnh phúc lớn nhất đơn giản chỉ là thời khắc hiện tại bạn thực sự hài lòng với chính những gì bạn có. Dù vất vả vả khó khăn nhưng ta biết trân trọng và yêu thương thì nhất định hạnh phúc sẽ mỉn cười với ta.

135. Cuộc sống cũng giống như con tàu đang di chuyển trên đường ray. Bạn không bao giờ được phép quay đầu lại mà chỉ có thể tiến về phía trước.
136. Con đường đi tới thành công không bao giờ thẳng. Phải trả giá bằng những ngã rẽ sai lầm nhiều lần, bạn mới có thể chọn được con đường đúng nhất. Phải thất bại nhiều lần, bạn mới chạm được đến thành công.
137. Bốn nguyên tắc vàng trong cuộc sống. Trung thực khi nghèo khó, giản dị khi giàu có, lịch sự khi có uy quyền, im lặng khi giận dữ.
138. Lo lắng chính là điều vô bổ nhất trên đời. Nó giống như việc bạn cầm một chiếc ô và chạy vòng vòng đợi trời mưa xuống.

139. Đừng nhầm lẫn tính cách tôi và thái độ tôi. Tính cách của tôi nói lên con người tôi, còn thái độ của tôi tuỳ thuộc vào con người bạn.

140. Thành công không phải là đích đến cuối cùng, thất bại cũng chẳng phải vực sâu thăm thẳm, đó chỉ là động lực để bạn vững vàng hơn trên con đường sắp bước.

141. Sự khác biệt duy nhất giữa một ngày tốt đẹp và một ngày tồi tệ nằm ở chính thái độ của bạn.

142. Khi cuộc sống dồn bạn vào bước đường cùng, đừng hỏi: tại sao là tôi? Mà hãy nói rằng: cứ thử tôi đi!

143. Đừng bao giờ giao bí mật của bạn cho một ai, bởi vì, tự bạn còn không giữ được thì còn trông mong vào ai kia chứ?

144. Giống như hoa dại, hãy học cách sinh tồn trong mọi hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, ngay cả khi người đời cho rằng bạn không thể.

145. Khi bạn muốn tìm một người thay đổi được cuộc đời bạn, hãy nhìn vào gương.

146. Đừng bao giờ để hành động của người khác ảnh hưởng đến nhân cách tốt đẹp của bạn. Nếu người khác tôn trọng bạn, hãy tôn trọng họ. Nếu họ không tôn trọng bạn, vẫn cứ tôn trọng họ. Bởi lẽ, bạn chính là bạn chứ không phải là một ai khác.

147. Đại dương mênh mông sẽ không thể đánh chìm một con tàu nếu nước không tràn vào bên trong nó. Cũng tương tự như thế, những khó khăn sẽ không thể quật ngã bạn nếu bạn không cho phép chúng làm thế.

148. Cuộc đời chỉ có một, vì thế hãy làm những gì khiến bạn hạnh phúc và ở bên người khiến bạn luôn mỉm cười.

149. Nếu như bạn mong đợi người đời sẽ tử tế với bạn chỉ vì bạn tử tế với họ, thì cũng giống như việc bạn trông chờ một con sư tử không ăn thịt mình chỉ vì mình không ăn thịt nó. Cuộc sống vốn dĩ không công bằng, hãy học cách thích ứng đi.

150. Nếu kẻ khác nói xấu bạn, phán xét bạn mặc dù không biết gì về bạn. Đừng buồn, hãy nhớ kĩ một điều: “chó sủa khi gặp người lạ”

151. Nếu chúng ta tham lam, bủn xỉn, thì dầu ta có bao nhiều tiền của, Đức Phật vẫn coi ta là người nghèo: nghèo các tài sản cao thượng, nghèo các tài sản tâm linh. Dầu có nhiều của cải vật chất bên ngoài, nhưng khi chúng ta mất đi, tất cả đều sang qua tay người khác, tất cả trở thành tài sản chung, chỉ có bản thân chúng ta bị bỏ rơi trong sự nghèo nàn đức hạnh, nghèo nàn giáo Pháp.

152. Tình yêu của mẹ dành cho con không giống bất kỳ điều gì khác trên thế giới. nó không biết đến luật lệ hay sự thương hại. nó thách thức tất cả và không khoan nhượng tiêu diệt tất cả những gì cản đường nó.

153. Cha mẹ là người có thể thay thế tất cả người khác, nhưng không người nào có thể thay thế đươc cha mẹ.

154. Dù bạn ở đâu, đi đâu hay sống ở đâu thì tình cảm người con dành cho mẹ là một thứ tình cảm thiêng liêng và cao cả, không gì có thể đong đếm được. mẹ là người yêu thương con vô điều kiện, và không thể có thứ tình cảm nào có thể vượt qua được tình mẹ. những câu nói hay về mẹ là những câu nói thể hiện tình cảm của người mẹ đối với người con. Hãy biết quý trọng, thương yêu và đùm bọc lấy mẹ khi còn có thể bạn nhé.

155. Khi chúng ta chính thức trở thành những ông bố, bà mẹ thật sự, chúng ta mới hiểu được tình yêu mà cha mẹ dành cho mình bao la biết dường nào.

156. Lo lắng không làm cho những điều tồi tệ ngừng xảy ra mà nó chỉ làm cho những điều tốt lành ngừng lại.

157. Đừng cố biến những giọt nước mắt thành nụ cười bình thản. Mà nên có cái biết cơ thể nầy, tâm trí nầy chẳng phải là mình.

158. Đừng cố biến mình thành người đặc biệt với người khác. Mà hãy sống như là “chính mình”.

159. Độ lâu bền của sự đam mê tỉ lệ thuận với sự kháng cự ban đầu của tâm trí phán xét. Tâm bồ đề kiên cố tỉ lệ thuận với sự trải nghiệm tâm linh chứ không phải với hiểu biết qua sách vở.

160. Đừng vội cố gắng để chứng ngộ. Trước tiên hãy cố gắng thành người có ích. Đừng vội cố gắng đạt giải thoát. Trước tiên hãy là chính mình trong tập thể.

161. Sự trưởng thành của người ta không phải ở tuổi tác, mà là hiểu rõ lẽ được-mất, biết được buông bỏ, học cách viên dung, hóa giải mâu thuẫn. Hiểu được từ bỏ sẽ đạt đến vẻ đẹp của sự trưởng thành.

162. Người không có duyên với bạn thì dẫu cạn lời cũng chỉ là hoang phí, người có duyên với bạn thì chính sự tồn tại của bạn cũng đã đủ khuấy động mọi cảm giác trong lòng họ. Một tình yêu đẹp hay tình bạn đẹp không phải đạt được do giành giật mà là sự cuốn hút lẫn nhau, không phải sự bám riết mà là ngẫu hợp, không phải trò chơi mà là sự trân quý lẫn nhau. Do vậy hãy để vạn sự tùy duyên.

163. Một người chân chính mạnh mẽ sẽ không quá quan tâm đến chuyện làm vui lòng đẹp ý người khác. Đừng quá quan trọng cái gọi là giữ gìn quan hệ xã hội, điều quan trọng nhất là bạn phải nâng cao nội lực của chính mình, chỉ khi chính bạn rèn luyện tốt rồi, mới sẽ có người khác đến gần gũi bạn, chính mình là cây ngô đồng, phượng hoàng mới đến đậu; chính mình là biển lớn, trăm sông mới tụ hội, như hoa có hương ắt ong bướm tìm đến. Chỉ khi bạn đến được tầng bậc nhất định thì mới có được những quan hệ xã hội tương ứng, mà không phải là ngược lại.

164. Lời xin lỗi không phải lúc nào cũng có nghĩa là bạn sai và người kia đúng. Điều ấy chỉ có nghĩa rằng bạn coi trọng mối quan hệ với người ấy hơn cái tôi của bạn mà thôi.

165. “Một người tươi cười không có nghĩa là họ không có nỗi buồn. Điều đó có nghĩa là họ có khả năng đối phó với nỗi buồn đó.” – Shakespeare

166. “Tha thứ cho người khác, không phải vì họ xứng đáng được thứ tha mà bởi vì bạn xứng đáng được thanh thản.” – Jonathan Lockwood Huie

167. Mục đích tối thượng của đời người không phải là kiến thức mà là hành động.

168. Thời gian sẽ chữa lành mọi vết thương.
Chân lý cuộc sống

169. Ở đời, ai cũng có nỗi khổ riêng. “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh.”

170. “Hành trình vạn dặm bắt đầu từ một bước chân.” – Lão Tử

171. Chỉ có cha mẹ mới yêu thương ta vô điều kiện. Bởi vậy, hãy yêu thương cha mẹ khi còn có thể bạn nhé!

172. Quản lý tốt cái miệng, không nên ăn nói hàm hồ, vì một phút vui vẻ nhất thời mà tùy tiện phát ngôn.
“Lương ngôn nhất cú tam đông noãn, thương nhân nhất ngữ lục nguyệt hàn” – ý chỉ một câu nói tử tế có thể làm ấm lòng người 3 mùa đông, một câu nói tổn thương khiến người ta sống giữa tháng 6 mà cảm thấy lạnh.
Trước khi nói, cần dùng cái đầu để suy nghĩ thận trọng, nói nhiều không có lợi, không đưa chuyện thị phi sẽ không khiến người khác ghét bỏ, tự nhiên sẽ có thể hóa địch thành bạn.
Hãy nhớ kỹ rằng, để hủy hoại một người, đôi lúc chỉ cần một câu nói, nhưng để bồi dưỡng một người thì cần ngàn âm vạn ngữ. Vì thế cho nên chúng ta nên chăng chỉ nói những lời lưu đọng tình người.

173. Tôi tự nhủ với bản thân mình rằng, cần phải sống chân thực. Bất kể người khác nhìn mình bằng con mắt nào đi chăng nữa, dù cả thế giới phủ định, tôi vẫn có bản thân tin tưởng mình.
Tôi tự nhủ với bản thân mình rằng, cần phải sống vui vẻ, không cần nghĩ có phải có ai đang để tâm tới mình hay không. Bởi một người cũng có thể sống cuộc sống tươi đẹp.
Tôi tự nhủ với bản thân mình rằng, những lúc buồn có thể khóc đến nhem nhuốc cả mặt, nhưng sau những giờ phút đó, cần phải ngẩng đầu cười thật xinh tươi

174. Tìm niềm vui ở đâu?
– Học tập: đọc sách, đọc báo,dùng máy tính,đánh đàn,đánh cờ,vẽ tranh…Học cái gì tùy bạn lựa chọn, học vừa có thể thêm kiến thức, vừa có thể rèn luyện trí não.
– Vận động : bơi, khiêu vũ, tập thể dục, tùy theo sở thích, tăng cường sức khỏe cả thể chất lẫn tinh thần.
– Giải trí: hát hò, bơi lội, chỉ cần bản thân thích đều có thể chơi, kết giao thêm bạn bè.
– Kết bạn: Cuộc sống về già nên phong phú hơn, chỉ có vài người bạn thì không đủ, cần có một nhóm bạn già. Bạn bè sẽ giúp cuộc sống của chúng ta thêm màu sắc, bớt cô đơn.

175. Cuộc sống, là một bộ sách vô số chữ, mỗi người có cách đọc của riêng mình. Cuộc sống, là một câu hỏi có nhiều lời giải, mỗi người có đáp án của riêng mình. Cuộc sống, là một tách trà, mỗi người có cách thưởng thức của riêng mình. Những lúc không vui, hãy tự nhủ với bản thân: Rằng tất thảy của tất thảy, chính là để cuộc sống, thoải mái hơn, vui vẻ hơn, hạnh phúc hơn.

176. Hai người yêu nhau ở bên nhau sẽ không tránh khỏi những trận cãi vã, điều quan trọng nằm ở chỗ khi cuộc cãi vã kết thúc, ai sẽ dỗ dành ai. Thi thoảng tranh cãi không phải là khuyết điểm của đàn ông, nhưng sẵn lòng dỗ dành con gái lại là ưu điểm của họ.
Bởi họ làm vậy vì họ có tình cảm với bạn, đó cũng là sự khoan dung độ lượng của họ. Cho nên, sau cuộc cãi vã, đàn ông nên dỗ dành người phụ nữ của mình, điều này không liên quan gì đến việc ai đúng ai sai, mà là tình yêu, là lòng bao dung, và cũng là trách nhiệm.

177. Trong tình yêu không ai là có lỗi, mà chỉ có người không biết cách trân quý một người mà thôi.

178. Đừng thấy cô đơn vì yêu nhầm người, càng không nên vì yêu nhầm người mà cảm thấy cô đơn.

179. Có người hiểu mình là hạnh phúc, nếu không có ai hiểu thì hãy tự hiểu bản thân mình.

180. Thử thách của tình bạn là những lúc khó khăn, thử thách của tình yêu là những khi hoạn nạn.

181. Kiên trì những thứ không đáng kiên trì thì về sau sẽ hối hận. Nhưng bỏ qua những thứ không nên bỏ qua thì hối hận ngay tức khắc.

182. Người từng trải đời thì dù bên ngoài trẻ trung, nhưng tâm hồn thì già với gánh nặng kinh nghiệm của mình. Còn người trừng trải về tâm linh. Thì bất chấp vẻ bên ngoài già hay trẻ, họ luôn là anh nhi với tâm hồn trống rỗng sẵn sàng phản ảnh nhạy bén và trung thực sự vật.

183. Khi đã tổn thương thì vết sẹo sẽ hằn sâu trong tâm hồn. Đức tin là nguyên trinh, nó không phải là vết sẹo của tâm hồn. Nó là bản năng tự nhiên của con đối với mẹ. Tinh tấn có thể gây ra “sẹo tâm hồn” nếu làm bằng ham muốn.

184. Đừng nên hỏi tại sao bạn sống. Mà nên hỏi ta phải sống thế nào mới hạnh phúc. Đừng cố tu để thoát khổ, mà hãy tu học để làm mình ngày càng hạnh phúc hơn.

185. Làm việc thông minh chứ đừng làm tới kiệt sức

Bạn có thể làm tới 16 tiếng đồng hồ một ngày nhưng chưa chắc hiệu quả công việc đã như bạn mong đợi. Đó là một dấu hiệu cảnh báo bạn đang sử dụng thời gian và công sức của mình không hiệu quả.

Dĩ nhiên bạn cần chăm chỉ mới có thể đạt tới thành công nhưng nếu bạn không biết sắp xếp thời gian và đề cao tính hiệu quả, những gì bạn làm sẽ chỉ là phí thời gian.

186. Đừng để tâm tới những chuyện cỏn con

Chuyện tới lượt ai phải đi đổ rác, ai đã làm hỏng món bánh, ai phải làm việc nhà… có quan trọng không? Bạn có thể chiến thắng trong một trận đấu nhưng lại để thua cả một cuộc đấu. Đừng phí sức vào những chuyện không đâu.

187. Chấp nhận sự thật không ai là hoàn hảo

Đây là sự thật của mọi sự thật. Bất kể người mà bạn tôn sùng có vĩ đại có tuyệt vời tới đâu, rốt cuộc họ vẫn là con người. Và đã là người thì ai cũng có thiếu sót dù ít dù nhiều, ở mặt nọ mặt kia.

188. Đừng quá tự tin mà coi nhẹ việc chăm sóc sức khỏe

Ăn kiêng, tập yoga, tập gym hay tập theo chương trình đặc biệt thiết kế riêng cho bạn. Mỗi loại hình tập luyện lại có những ưu nhược điểm riêng, hãy lựa chọn hoặc kết hợp theo cách phù hợp nhất với bạn.

Khi còn trẻ có thể bạn rất tự tin với sức trai tráng và không màng đến việc chăm sóc sức khỏe. Điều đó sẽ khiến bạn hối hận khi bước vào tuổi trung niên. Rèn luyện và chăm sóc sức khỏe là điều bạn phải chú ý trong mọi giai đoạn của cuộc đời.

189. Bạn không phải và cũng không thể trở thành một người “biết tuốt”

Có rất nhiều thứ xảy ra ngoài dự kiến của bạn. Một số có thể mang tới những vận may và cũng có thể khiến bạn gặp những tai ương không ngờ. Bạn không thể lý giải tại sao hay như thế nào mà nó lại xảy ra. Mọi thứ dường như chẳng hợp lý chút nào. Hãy chấp nhận sự thật: Trong cuộc sống luôn có những thứ không thể lý giải.

190. Bạn là “trung bình” của 5 người mà bạn dành thời gian nhiều nhất cho họ

Nghe có vẻ hơi “sến” nhưng sự thật là vậy. Nếu bạn thật sự muốn thay đổi chính mình, bạn cần phải thay đổi những người bạn hay giao du nhất. Hãy dành thời gian cho những người ủng hộ và tin tưởng vào những điều tốt đẹp ở bạn.

191. Thái độ của bạn là chìa khóa tới hạnh phúc

Cách bạn nhìn nhận và phản ứng trước mọi sự việc diễn ra trong cuộc sống có tác động vô cùng to lớn tới sự viên mãn của cuộc đời mình. Hãy cảm ơn và trân trọng mọi thứ mà bạn có bởi ở ngoài kia luôn có những người thèm khát được như bạn.

192. Đừng so sánh bản thân mình và cũng đừng cố để trở thành người khác

Thế giới vô cùng rộng lớn. Sẽ luôn luôn có người xinh đẹp hơn bạn, giàu có hơn bạn, thành đạt hơn bạn… So sánh mình với người khác hay đóng giả làm ai đó không phải bạn là một trò chơi mà bạn sẽ không bao giờ giành phần thắng.

193. Bạn chịu trách nhiệm về cuộc sống của chính mình

194. Người hạnh phúc không phải là người được sống trong hoàn cảnh thuận lợi nào mà là một người có thái độ sống tốt trước bất kỳ hoàn cảnh nào.

195. Không quan trọng bạn phạm bao nhiêu sai lầm, không quan trọng bạn bước đi chậm chạp đến đâu, bạn vẫn chiến thắng những kẻ không bao giờ biết đến 2 từ “cố gắng”.

Cuộc sống này cũng không phải toàn niềm vui, niềm hạnh phúc mà xen lẫn vào đó là những nỗi buồn, nỗi đau thương. Nhưng dù cho cuộc sống có thế nào đi nữa, hãy sống vì bản thân mình và người thân của mình các bạn nhé, hãy theo đuổi ước mơ của mình, hãy làm công việc mà mình thích…Cuộc sống là không từ bỏ!

Hạnh phúc không có một đáp án chuẩn mực, niềm vui cũng không chỉ xuất phát từ một con đường. Thu lại ánh mắt ngưỡng mộ người khác và nhìn lại tâm hồn mình. Sống cuộc sống mình mong muốn chính là những ngày tháng tươi đẹp nhất, cách sống mà mình muốn mới chính là cách sống tốt nhất.

 

Tham khảo: https://www.niemphat.vn/

Đâu là cảnh giới cao nhất của võ thuật ?


41ctai105ctaij1028btai107ctaij10

CẢNH GIỚI CAO NHẤT CỦA VÕ THUẬT

Võ thuật không đơn giản là một môn thể thao hay là một bộ môn nghệ thuật, võ thuật là sự tích hợp những điều tinh túy của nhân loại!

Luyện tập võ thuật giúp ta có sức mạnh của thể hình, sự dẻo dai của Yoga, tinh thần vững vàng của mật vụ, sự nhanh nhẹn của điệp viên, sự nhạy bén của nhà kinh doanh, sự thấu hiểu của nhà tâm lý học, sự sáng suốt của minh quân và sự điềm đạm của một chân sư.

Tất cả những điều đó góp phần tạo nên trí tuệ và phẩm chất tốt đẹp của con nhà võ.

Dưới đây là đoạn đối thoại giữa 2 thầy trò có thể “thức tỉnh” được suy nghĩ lệch lạc của một số bạn trẻ đã, đang và sẽ luyện tập võ thuật nói riêng, và những người mắc “bệnh ngôi sao” nói chung:

Một võ sinh tò mò hỏi Sư phụ:
– “Thưa Sư phụ, đỉnh cao của võ thuật là đâu?”

Sư phụ ôn tồn trả lời:
– “Võ thuật có 4 cảnh giới.

Thứ nhất là “Kiếm trong Tay” tức là tập luyện để kiếm trở thành một phần thân thể của các con. Các con phải điều khiển được vũ khí dễ dàng như điều khiển các ngón tay của mình thì vũ khí mới phát huy hết tác dụng. Với các môn thể thao khác, như môn bóng đá và bóng rổ… các cầu thủ sẽ luyện tập đến khi họ cảm giác như trái bóng là một bộ phận không thể tách rời của họ. Từ đó họ có thể thực hiện những kỹ thuật ảo diệu với trái bóng.

Thứ hai là “Kiếm trong Thân” tức là các con không cần đến kiếm vì mọi bộ phận trên cơ thể con đều là kiếm. Lúc này, các con sẽ nhận ra rằng trên thân thể ta đã có sẵn vô vàn các loại vũ khí vô cùng lợi hại. Chỉ riêng bàn tay thôi đã có ít nhất 4 loại vũ khí vô cùng ghê gớm như nắm tay, lòng bàn tay, cạnh bàn tay và các ngón tay. Nếu biết sử dụng và phối hợp các bộ phận trên cơ thể hợp lý thì các con không cần phải sử dụng bất kỳ loại vũ khí nào.

Thứ ba là “Kiếm trong Tâm” tức là mọi thứ xung quanh các con, dù là cỏ lá, rơm rạ đều có thể là kiếm. Lúc này các con sẽ nhận ra loại vũ khí mạnh mẽ nhất là loại vũ khí ta không thể nhìn thấy được. Đó chính là sự tư duy. Trong nhiều tình huống, sức mạnh cơ bắp thôi là không đủ. Các con phải biết tận dụng tất cả những gì mình có xung quanh. Các con phải biết quan sát, biết cách biến mọi thứ xung quanh thành trợ thủ của mình. Kết hợp giữa cơ bắp, khí công và trí não sẽ giúp con đánh bại mọi đối thủ.

Cuối cùng là TUYỆT GIỚI “Tâm không Kiếm”, tức là con không cần dùng đến vũ lực nữa, cái tâm và cái hồn của các con cũng đủ để làm đối phương khuất phục. Và các con phải nhớ rằng, bất kỳ ai cũng có thể đạt tới cảnh giới cao nhất của võ thuật chứ không cứ phải là con nhà võ. Cảnh giới đó cũng chính là TUYỆT GIỚI của mọi loại nghệ thuật trên thế gian này hướng đến. Khi đạt được nó, toàn bộ cơ thể của các con, từ lời nói đến từng động tác nhỏ đều thoát lên những sức mạnh kỳ diệu khiến mọi người xung quanh các con đoàn kết lại và chữa lành các tổn thương. Tuyệt giới ấy không bao giờ tạo ra thương tổn hay gây chia rẽ. Vì vậy nếu các con sử dụng võ thuật với mục đích là gây tổn thương và chia rẽ, có nghĩa là con đang xa rời con đường tới TUYỆT GIỚI.”

 

(Nguồn: Sưu tầm)

http://karatedochoju.com

 

Khi các ni cô Nepal luyện võ Kung-Fu


Còn lâu mới đến 5 giờ sáng. Nhưng ở nữ tu viện Druk Gawa Khilwa ở Kathmandu, Nepal, các vị ni cô đã thức dậy luyện võ công.

Ý tưởng từ Việt Nam

Một chân gập về phía trước, một chân duỗi về phía sau, họ liên tục hít không khí vào đầy buồng phổi và cố gắng tập cho hoàn hảo một chuỗi những cú đá không chê vào đâu được.

Mỗi động tác của họ đều kèm theo những tiếng hô đầy nội lực – những tiếng kêu lanh lảnh sau những cú đá rầm rập.

Vận vào bộ nâu sồng truyền thống nhưng được sửa lại theo kiểu đồng phục karate, những gương mặt tươi cười của những vị ni sư này toát lên nội lực và sức mạnh không ngờ.

Họ là những ni cô học võ Kung Fu: những người phụ nữ duy nhất ở Nepal luyện môn võ công có thể làm chết người vốn đã nổi tiếng dưới sự thể hiện của huyền thoại võ thuật Lý Tiểu Long.

Trong một hệ thống tăng đoàn vốn tự thân đã nằm dưới sự chi phối của nam giới, phụ nữ được xem là đứng dưới nam giới.

Các vị tăng thường giữ tất cả các vị trí lãnh đạo, còn các ni sư chỉ làm các công việc quanh quẩn trong chùa và các việc tẻ nhạt khác.

Nhưng vào năm 2008, người đứng đầu dòng tu truyền thừa Drukpa vốn có lịch sử 1.000 năm, Đức Pháp chủ Gyalwang Drukpa, đã thay đổi mọi thứ.

Prakash Mathema/GettyBản quyền hình ảnhPRAKASH MATHEMA/GETTY
Image captionNăm 2008, Đức Pháp chủ Gyalwang Drukpa bắt đầu khuyến khích các ni sư học võ để biết cách tự vệ

Sau một lần đến thăm Việt Nam nơi Ngài nhìn thấy các ni cô được học võ công, Ngài đã quyết định áp dụng ý tưởng này ở Nepal bằng cách khuyến khích các vị ni sư ở đây học cách tự phòng vệ.

Mục đích của Ngài rất đơn giản: thúc đẩy bình đẳng giới và tạo sức mạnh cho những phụ nữ trẻ vốn đa phần đến từ những nơi nghèo khổ ở Ấn Độ và Tây Tạng.

Tập luyện căng thẳng

Mỗi ngày, 350 ni cô trong độ tuổi từ 10 đến 25 tham gia vào ba đợt luyện tập căng thẳng để trau dồi những chiêu thức mà họ được sư phụ dạy, người đến từ Việt Nam để dạy cho họ hai lần một năm.

Bên cạnh việc hoàn chỉnh các thế võ, họ còn sử dụng các vũ khí truyền thống, chẳng hạn như ki am (kiếm), dao nhỏ (đao), dao lớn (kích), tong (thương) và nunchaku (côn nhị khúc).

Những ni cô có sức mạnh về thể lực và tâm lý vượt trội sẽ được dạy chiêu chặt gạch vốn đã trở nên nổi tiếng trong vô số các bộ phim võ thuật.

Chiêu thức này chỉ được biểu diễn vào một số dịp đặc biệt, chẳng hạn như vào ngày sinh nhật của Đức Pháp chủ.

Các vị ni cô, đa số đều có đai đen, đồng ý rằng võ công giúp họ cảm thấy an toàn, trở nên tự tin, cho họ sức mạnh và giúp cơ thể họ khỏe mạnh. Còn thêm một lợi ích nữa, là việc tập võ là giúp tăng cường sự tập trung vốn giúp cho các ni sư ngồi thiền được lâu hơn

Jigme Konchok là một ni cô ngoài 20 tuổi, đã luyện võ được hơn năm năm.

Ni cô giải thích quá trình học võ của mình như sau: “Tôi lúc nào cũng phải chú ý đến các động tác để biết rằng động tác đó đúng hay sai để sửa lại ngay lập tức nếu cần. Tôi phải tập trung vào chuỗi các động tác mà tôi đã học thuộc cũng như từng động tác riêng lẻ ngay lập tức. Nếu tâm dao động thì các động tác sẽ không thể chính xác hoặc là gậy sẽ rơi. Ngồi thiền cũng giống vậy.”

Tràn đầy tự tin

Với danh nghĩa bình đẳng giới, Đức Pháp chủ Gyalwang Drukpa cũng khích lệ các ni cô học các kỹ năng vốn trước giờ là của nam giới, chẳng hạn như sửa ống nước, lắp đặt hệ thống điện, đánh máy, đạp xe và tiếng Anh.

Dưới sự chỉ đạo của Ngài, các ni sư được dạy để hướng dẫn các buổi tụng kinh và được trang bị những kỹ năng kinh doanh cơ bản – những công việc vốn dĩ thuộc phạm vi của tăng nhân – và họ điều hành nhà khách cùng quán nước của tu viện.

Các phụ nữ cấp tiến thậm chí còn lái những chiếc xe hai cầu xuống núi Druk Amitabha để đến Kathmandu nằm cách đó khoảng 30km để lấy vật dụng đồ dùng.

Với tâm tràn trề sự tự tin mới, các vị ni sư này đã bắt đầu vận dụng các kỹ năng và năng lượng này vào các công việc phát triển cộng đồng.

Khi Nepal xảy ra một trận động đất lớn hồi tháng Tư năm 2015, các ni cô không chỉ từ chối di tản đến nơi an toàn hơn mà còn lội bộ đến những ngôi làng lân cận để giúp dọn dẹp những đống đổ nát và dọn lối đi. Họ phân phát thực phẩm cho những người sống sót và giúp dựng lều để họ có nơi trú thân.

Có lần các ni cô – được chính Đức Pháp chủ dẫn đầu – đã đạp xe 2.200km từ Kathmandu đến Delhi để truyền bá thông điệp về ý thức bảo vệ môi trường và khuyến khích người dân sử dụng xe đạp thay vì đi ô tô.

Và khi các ni cô đến thăm các khu vực dẫy đầy bạo lực như ở Kashmir, họ đã thuyết pháp về tầm quan trọng của sự đa dạng và lòng khoan dung.

Nhưng chiếm vị trí quan trọng nhất trong chương trình làm việc của các ni cô vẫn là thúc đẩy việc tạo sức mạnh cho nữ giới.

“Võ công giúp chúng tôi xây dựng được một sự tự tin để có thể chăm sóc cho bản thân mình và người khác vào những lúc cần thiết,” Konchok giải thích.

 

tham khảo: https://www.bbc.com/vietnamese/vert-tra-43534562

Bản tiếng anh: http://www.bbc.com/travel/story/20160916-the-kung-fu-nuns-of-nepal

Nhát kiếm ám ảnh chiến binh samurai và bài học rút ra từ nghi lễ mổ bụng tự sát


IMG_0523

Trên đường về, người chiến binh samurai nghe như có tiếng “meo” từ tán lá cây, từ mỗi bước chân. Ngay cả những người qua đường nói chuyện xôn xao cũng chỉ còn vang lại tiếng “meo”.

Ngày xưa có một người chiến binh samurai đi câu bên bờ suối, câu mãi mới được một con cá. Đang sửa soạn cho một bữa cá nướng ngon lành thì bỗng nhiên từ trong bụi rậm vụt ra một con mèo, ngoặm lấy cá toan chạy mất.

Người samurai nổi giận, nhanh như cắt tuốt kiếm. Con mèo đứt làm đôi, chỉ kịp kêu một tiếng “meo” đầy hoảng hốt.

Lúc ấy, người samurai sực tỉnh, và cảm thấy rất hối hận vì việc mình vừa giết con mèo quá dã man. Trên đường về, ông nghe như có tiếng “meo” từ tán lá cây, từ mỗi bước chân trên đường.

Ngay cả những người qua đường nói chuyện xôn xao cũng chỉ còn vang lại tiếng “meo”. Gặp bạn bè ông cũng tưởng như họ giễu cợt mình bằng tiếng “meo”. Con cái cũng nói với ông bằng tiếng “meo”, mỗi lần chợp mắt lại thấy “meo”, tỉnh dậy cũng lại là “meo”…

Cuối cùng, không thể chịu đựng thêm được nữa, người samurai tìm đến một ngôi chùa trong vùng, để gặp vị sư già xin được giúp đỡ thoát khỏi cảnh khổ sở này.

Nghe kể chuyện xong, vị sư quở trách: “Sao một võ sĩ như ngươi lại có thể hèn mạt đến thế được? Nếu tự mình không thắng được những tiếng “meo” kia, thì chỉ còn cách mổ bụng tự sát như một hara-kiri chính trực! Ngươi hãy làm điều đó ngay bây giờ, trước mặt ta!”

Trong lòng vô cùng kinh sợ cái chết nhưng người samurai vẫn sửa soạn nghi lễ, từ từ đặt lưỡi kiếm lên bụng mình.

Vị thiền sư quát: “Bắt đầu đi!

Mồ hôi vã ra như tắm, người samurai run lẩy bẩy cầm thanh kiếm chuẩn bị đâm thì ngay lúc này, vị sư già lên tiếng:

– Còn nghe thấy tiếng meo không?

– Chao ôi! Không! Lúc này con không nghe thấy tiếng gì hết!

– Không còn nghe thấy tiếng “meo” thì không cần phải chết!
Ảnh minh họa
“Thanh kiếm” cắt đứt mọi vọng tưởng

Người samurai trong câu chuyện trên đã gần như phát điên bởi tiếng “meo”, là vì khi ăn không nghĩ tới chuyện ăn, khi ngủ không nghĩ tới việc ngủ, để cho tâm trí bị dẫn dắt bởi một con mèo trong quá khứ.

Nhưng ngay khi ông chuẩn bị chết và nghĩ tới cái chết, mọi suy nghĩ về con mèo, hay tiếng “meo” hoàn toàn bị cắt đứt. Tất cả nhường chỗ cho hiện tại.

Khi tâm trí không còn ở trong quá khứ và tương lai, làm việc gì ở trong việc ấy, là đã giữ được Chánh Niệm.

small_1199380691.nv

Từ xưa tới nay, các vị thiền sư vẫn luôn truyền dạy một điều rất đơn giản mà vô cùng quan trọng, đó là trở về với thực tại, sống trọn vẹn với toàn bộ những điều đang xảy ra: “Đói ăn, khát uống, mệt ngủ liền” – giống như Phật hoàng Trần Nhân Tông từng viết.

Sự nhất tâm ấy tuy rất đơn giản nhưng chứa đựng đầy đủ sự thật ở trong đó. Thiền sư Huệ Hải khi mô tả về cuộc sống tu thiền của mình cũng rất giản dị: “Khi đói thì ăn, khi mệt thì ngủ”, trạng thái sống của một thiền sư tự do với cuộc đời là như vậy.

Tuy đơn giản là thế nhưng không phải ai cũng muốn làm, mà thường xuyên ở trong trạng thái:

Khi ăn chẳng chịu ăn

Đòi trăm thứ cần dùng

Khi ngủ chẳng chịu ngủ

Tính toán chuyện mông lung

Mọi khó chịu hay đau khổ thường đến do những suy nghĩ không chịu ở trọn trong hiện tại. Hối tiếc quá khứ đã phạm sai lầm, “giá như mình đừng giết con mèo”, lo lắng cho tương lai “mình sẽ phát điên bởi tiếng meo” khiến cho người samurai cũng như tất cả chúng ta mất năng lượng một cách lãng phí.

Quá khứ không truy tầm

Tương lai ngừng ước vọng

Quá khứ đã đoạn tuyệt

Tương lai thì chưa đến

Tất cả những gì bạn có, chỉ là giây phút hiện tại này thôi. Sống trong hiện tại, biết những điều đang có ở hiện tại, đó chính là thanh kiếm cắt đứt mọi vọng tưởng gây ra đau khổ.

 

Ngọc ThảoTrí Thức Trẻ

 

Little Hến

Miracles are closer than you think...

Little Elephant

The Journey of Loving Myself

Hoàng Ngọc Ánh

Just another corner... another me...

Words Shaker

Things take time, just like how flowers will blossom when spring comes along.

Ami Vitale | Productions

Bay Cao và Vươn Xa

Fhchbjh

Cgvhbbb

Tom’s Bike Trip

Adventures and experiments in two-wheeled travel

Green Kitchen Stories

Healthy Vegetarian Recipes.

Anh Tuan Le

Hướng nghiệp và phát triển bản thân

Dear diary ...

My life, my love, my draft, my messy fantastic world

Opacarophile

something here, something there

Thích Rong Chơi

Kể chuyện đi loanh quanh

Drouin Secondary College

Achievement Respect Commitment Community

P2P Income

A Peer-to-Peer Lending Investment Blog

Run me Wild

A running blog about life.

tlfong01.blog

My Electronics DIY Projects

careermoneylife

Empowering people to make smart choices about career money and life.

The Chriselle Factor

Bay Cao và Vươn Xa

Adventurous Kate

Bay Cao và Vươn Xa

mutelife*

photos of daily life

Distributed.blog

The future of work is here.

Bay Cao và Vươn Xa

Own Your Content

Own Your Content is a campaign from WordPress.com & CreativeMornings, encouraging creatives to own their content, platform, and the future of their work.

Hachette Book Group

Bay Cao và Vươn Xa

Bay Cao và Vươn Xa

%d bloggers like this: