The Fourth Industrial Revolution – Cách Mạng Công Nghiệp Lần 4


Ebook tiếng việt : The Fourth Industrial Revolution – Cách Mạng Công Nghiệp Lần 4

The Fourth Industrial Revolution-Cuoc cach mang cong nghiep lan 4

https://nguoidentubinhduong.files.wordpress.com/2017/07/the-fourth-industrial-revolution-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-lan-4.pdf

 

Cuộc Cách mạng Công nghiệp Lần thứ tư

Klaus Schwab

Người dịch:

Đồng Bích Ngọc

Trần Thị Mỹ Anh

MỤC LỤC

Lời mở đầu 1
1. Cuộc Cách mạng Công nghiệp Lần thứ tư 4
1.1. Bối cảnh lịch sử 4
1.2. Thay đổi sâu sắc và hệ thống 6
2. Các Nhân tố Thúc đẩy 10
2.1. Các xu thế lớn 10
2.1.1. Vật lý 10
2.1.2. Kỹ thuật số 12
2.1.3. Sinh học 14
2.2. Điểm bùng phát 18
3. Tác động 20
3.1. Kinh tế 20
3.1.1. Tăng trưởng 20
3.1.2. Việc làm 24
3.1.3. Bản chất của việc làm 33
3.2. Doanh nghiệp 36
3.2.1 Kỳ vọng của khách hàng 38
3.2.2 Những sản phẩm được nâng cao chất lượngnhờ dữ liệu 40
3.2.3 Đổi mới trong hợp tác 41
3.2.4 Các mô hình điều hành mới 41
3.3 Quốc gia và toàn cầu 48
3.3.1 Các chính phủ 49
3.3.2 Các quốc gia, khu vực và thành phố 53
3.3.3 An ninh Quốc tế 58
3.4 Xã hội 67
3.4.1 Bất bình đẳng và tầng lớp trung lưu 67

 

3.4.2 Cộng đồng 69
3.5. Cá nhân 72
3.5.1. Bản sắc, Đạo lý và Đạo đức 73
3.5.2. Kết nối con người 75
3.5.3. Quản lý Thông tin Công cộng và Cá nhân 76
Con đường Phía trước 79
Lời cảm ơn 86

 

Phụ lục: Biến đổi Sâu sắc 88
1. Công Nghệ Cấy Ghép trên Cơ thể Người 89
2. Hiện diệnSố 91
3. Ánh mắt Trở thành Phương tiện Giao tiếp mới 92
4. Thiết bị đeo trên người kết nối Internet 95
5. Mô hình Điện toán Phân tán rộng khắp 97
6. Siêu Máy tính Bỏ túi 99
7. Lưu trữ cho Tất cả 103
8. Mạng lưới Vạn vật Kết nối Internet 105
9. Ngôi nhà Kết nối 109
10. Các Thành phố Thông minh 111
11. Dữ liệu Lớn cho Những Quyết định 113
12. Những Chiếc Xe Không Người lái 114
13. Trí tuệ Nhân tạo và Trình Ra Quyết định 117
14. Trí Thông minh Nhân tạo AI và các Công việc Bàn giấy 119
15. Người máy và Dịch vụ 122
16. Bitcoin và Đầu mối phân phối Blockchain 124
17. Nền Kinh tế Chia sẻ 125
18. Chính phủ và Đầu mối phân phối (Blockchain) 128
19. In và Sản xuất sử dụng công nghệ 3D 129
20. Công nghệ In 3D và Sức khỏe con người 132
21. Công nghệ in 3D và Các Sản phẩm Tiêu dùng 134
22. Con người được Thiết kế [103] 136
23. Công nghệ thần kinh Neurotechnologies [104] 138
Notes   141
Advertisements

Xe hơi cũng là một sản phẩm công nghệ !


nghia-dia-xe-oto-xe-hoi-ton-kho

Xe hơi ‘lên đời’ liên tục: thuê chạy thôi, mua làm gì

 

Cũng như điện thoại mới, xe hơi cũng cập nhật công nghệ liên tục và đời sau tân tiến hơn đời trước. Chính vì vậy mà xu hướng thuê xe thay vì mua tốn kém được nhiều người chọn lựa.

Thoát khỏi giá trị sử dụng của một phương tiện di chuyển đơn thuần, xe hơi ngày càng tích hợp công nghệ đỉnh cao. Và vì thế, người đi xe cũng không chỉ mua một phương tiện giao thông, mà còn muốn trải nghiệm sự êm ái và công nghệ đỉnh cao ấy.

Khi xe là sản phẩm công nghệ

Xu hướng sử dụng này nghe qua khá giống với một chiếc điện thoại thông minh trong thời đại bùng nổ công nghệ, khi người ta không chỉ nghe – gọi, mà còn thường xuyên thay đổi điện thoại để chạy đua công nghệ và mẫu mã.

Báo Los Angeles Times của Mỹ ví von rằng, thời nay là lúc “mối quan hệ ngắn hạn” giữa người dùng và chiếc điện thoại thông minh cũng đã thể hiện ở cách họ đối xử với xe hơi. Và thay vì mua một chiếc xe, nhiều người Mỹ hiện nay đang chuyển sang thuê mướn.

Hình thức này cho phép họ tận dụng một chiếc xe mới hoặc xe đã qua sử dụng trong một khoảng thời gian chừng ba năm mà thôi, tức tương đương giai đoạn gắn bó với điện thoại.

Tờ báo Mỹ dẫn một kết quả nghiên cứu mới đây từ công ty nghiên cứu xe hơi Edmunds (trụ sở California, Mỹ) cho thấy số lượng xe thuê tại Mỹ đã tăng rất mạnh trong vài năm trở lại đây. Từ 1,4 triệu xe năm 2009, lượng xe thuê đã tăng lên 4,3 triệu chiếc năm 2016, và đánh dấu 7 năm tăng trưởng liên tục trong thị trường này.

Song song đó, “vòng đời” của một chiếc điện thoại thông minh trong tay người dùng ngắn đi khi các tích hợp công nghệ gia tăng, thì hiện nay điều này cũng tương tự đối với xe hơi.

Trong những năm gần đây, các nhà sản xuất xe hơi bắt đầu tự gọi mình là “công ty công nghệ”, tức chuyển sang một bước nhảy vọt mới trong việc thâm nhập cuộc chiến phát minh phần mềm, phục vụ các mục tiêu cải thiện khả năng điều hướng, an toàn, cũng như các hệ thống giải trí số. Đây là những tính năng ít thấy trong nhu cầu người dùng trong giai đoạn 5 năm trước.

Karl Brauer, giám đốc xuất bản tại công ty nghiên cứu Kelly Blue Book nhận xét: “Đó là một cảm giác gia tăng không thể chối cãi, rằng cũng giống như việc một chiếc ti-vi hay máy tính hiện nay trở nên mau lỗi thời, thì những chiếc xe cũng vậy thôi”.

Ứng dụng công nghệ đã trở nên quá phổ biến đối với xe hơi, khi có đến 49 thương hiệu bao gồm cả KIA, Honda, Ferrari… hiện tích hợp ứng dụng Apple CarPlay để kết nối điện thoại iPhone với màn hình xe.

Các tài xế vì vậy có thể gọi điện, nghe nhạc trong khi vẫn giữ sự tập trung khi đi đường. Thậm chí xe giờ có hàng trăm tính năng công nghệ khác nhau phục vụ từng li từng tí trong việc dò đường, tự động tìm chỗ đậu, tự động điều chỉnh tốc độ… Các sản phẩm xe hơi được tích hợp “tiện ích khủng” vẫn tìm cách hạ được giá bán của họ để bán chạy hơn.

Thuê xe để khỏi sợ chán

Theo dự đoán của các nhà phân tích, rồi công nghệ cũng trở nên phổ biến và hạ giá thành. Điều này khiến các chủ xe đặt yêu cầu về công nghệ cao hơn, và vì thế họ cũng dễ… chán hơn.

Los Angeles Times lấy ví dụ về Nick Hammes, người vừa thuê một chiếc Ford C-Max Energi đời 2017 trong thời gian ba năm hồi tháng 6, khẳng định rằng dù rất thích thú, nhưng cũng không muốn tự trói buộc bản thân để xài một chiếc xe 2017 cho tới năm 2027 được.

“Sự phát triển công nghệ trong những chiếc xe này không hề chậm lại, và khi ấy, việc thuê một chiếc xe đồng nghĩa bớt phần mạo hiểm. Với cách này, tôi có thể xem xét tình hình trong ba năm tới như thế nào”, Hammes nói.

Thực tế, các nhà sản xuất cũng hài lòng khi người dùng muốn thuê thay vì mua, bởi dẫu sao nó cũng gia tăng lượng lưu thông hàng hóa từ hãng tới đại lý và người dùng.

Tiền thuê xe trong khi đó được tính dựa trên giá xe và sau đó kèm theo thỏa thuận thay đổi sản phẩm. Ví dụ sau hợp đồng thuê 3 năm, người ta có thể ngưng không thuê chiếc đó nữa, và chuyển sang lái thử một dòng sản phẩm mới hơn.

Đó là sự tưởng tượng đúng thực tế, vì trải nghiệm siêu xe trong khi không tốn nhiều tiền chính là động lực của xu hướng thuê xe như đã nêu. Trong năm nay, Lexus cho biết 65% doanh số của họ thuộc về hợp đồng thuê, tăng lên so với mức 61% của năm ngoái. Chỉ số này tương đương với Infiniti, BMW và Audi trong danh sách những thương hiệu có tỉ lệ xe thuê chiếm nhiều nhất.

Tình hình thực tế cho thấy ít có người đổi thương hiệu sau hợp đồng thuê, điều này cũng khiến các nhà sản xuất hài lòng vì họ có thể giữ chân khách hàng (thay vì ví dụ một người đang chạy Ford bỗng dưng chuyển qua Toyota).

Phía Lexus nói thêm rằng khi một khách hàng chọn Lexus, họ thường tiếp tục thuê Lexus nhằm đảm bảo tính liên tục trong sự phát triển công nghệ của thương hiệu hạng sang này.

Cũng theo nghiên cứu của Edmunds, những người trẻ ở Mỹ đa phần là đối tượng thuê xe. Điều này khá hợp lý vì họ có túi tiền vừa phải, lại còn “máu” trải nghiệm và thích thú với công nghệ hơn người già.

 

NHẬT ĐĂNG (theo Los Angeles Times)

Tham khảo : http://tuoitre.vn/tin/kinh-te/the-gioi-xe/20170712/xe-hoi-len-doi-lien-tuc-thue-chay-thoi-mua-lam-gi/1350133.html

 

Đọc bài viết này xong mình nghĩ ở nước ngoài người ta có suy nghĩ tiến bộ và thoải mái , cũng như biết cách tiêu dùng . Trong suy nghĩ mình cũng định sắm ô tô nhưng đọc bài này thấy xu thế thuê xe cũng là một ý hay , không phải lo lắng về chi phí nuôi xe và mất giá, ….. nhưng ở đất nước mình vẫn chưa có nhiều Services như nước ngoài , với lại thủ tục thuê và giải quyết vấn đề khi xảy ra tai nạn còn phức tạp và giá cả thuê xe còn cao , các vấn đề khác cũng chưa thật sự thuận tiện để thuê một chiếc xe .

Đây chi là ý kiến cá nhân thôi nhé.

 

 

LÃNH ĐẠO VÀ CÁC THUYẾT VỀ HÀNH VI CON NGƯỜI


Pensive Businessman Using Laptop

 

Với một nhà lãnh đạo, việc tiếp xúc, trao đổi thông tin với nhiều đối tượng khác nhau, bao gồm nhân viên, đồng nghiệp, cấp trên hay đối tác là điều không thể tránh khỏi. Đồng thời, những người này sẽ hỗ trợ đắc lực để bạn đạt được những mục tiêu của mình.

Thế nhưng để nhận được sự giúp đỡ từ những mối quan hệ đó, bạn cần phải hiểu người mà bạn đang tiếp xúc, hợp tác cũng như khuyến khích họ phát triển. Vậy, làm thế nào để có thể thúc đẩy một con người? Câu trả lời chính là bạn cần phải hiểu được “Bản chất con người” trước nhất. Tất cả mọi người đều có bản chất giống nhau, còn được biết đến với cái tên: Phẩm chất chung của nhân loại, nghĩa là, về căn bản, mọi người đều hành xử theo một nguyên tắc nhất định.

Nhu cầu là một phần quan trọng trong việc hình thành nên bản chất con người. Các giá trị khác như tôn giáo, văn hóa, phong tục tập quán có thể rất khác nhau giữa các dân tộc, quốc gia, nhưng nhìn chung, tất cả mọi người đều có một số nhu cầu căn bản. Là một nhà lãnh đạo, bạn cần phải nắm rõ những nhu cầu này của con người bởi đây có thể là những nguồn động lực có sức thúc đẩy mạnh mẽ.

a3d3f9fc954843fae108a5d4265c6f9e

THÁP NHU CẦU CỦA MASLOW

Không giống như những nhà nghiên cứu khác sống cùng thời, Abraham Maslow xây dựng học thuyết về nhu cầu con người dựa trên những người sáng tạo, họ là những người biết vận dụng tất cả tài năng, tiềm năng, và khả năng của mình trong cuộc sống (Bootzin, Loftus, Zajonc, Hall, 1983). Phương pháp của ông khác với các nhà nghiên cứu tâm lý khác khi mà họ chỉ tập trung quan sát những người có thần kinh bất ổn.

Maslow (1943) nhận thấy rằng nhu cầu của con người được sắp xếp theo một trật tự phân cấp và có thể chia thành hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu cao cấp:

  • Các nhu cầu cơ bản, liên quan đến sinh lý con người, chẳng hạn như thức ăn, nước uống, ngủ nghỉ; và yếu tố tâm lý, chẳng hạn như tình cảm, sự an toàn, và lòng tự trọng. Những nhu cầu cơ bản này cũng được gọi là “nhu cầu thiếu hụt” bởi vì nếu một cá nhân không thể đáp ứng được những nhu cầu này, thì người ấy sẽ luôn cố gắng để bù đắp cho sự thiếu hụt đó.
  • Nhu cầu cao cấp hay là nhu cầu tồn tại (nhu cầu phát triển) bao gồm sự công bằng, lòng tốt, vẻ đẹp, trật tự, sự thống nhất,… Những nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên hơn những nhu cầu bậc cao này. Ví dụ, một người thiếu thực phẩm hay nước uống thường sẽ không chú trọng nhiều tới nhu cầu về công bằng hay sắc đẹp.

Những nhu cầu này của Maslow được liệt kê theo một trật tự phân cấp hình kim tự tháp. Tháp này thể hiện rằng nhu cầu cơ bản (phần dưới cùng) phải được đáp ứng trước các nhu cầu ở bậc cao hơn:

mô hình Maslow

  • Tự nhận thức bản thân – biết chính xác bạn là ai, bạn đang làm gì và những gì bạn muốn đạt được. Đây là một trạng thái hạnh phúc
  • Được kính trọng – cảm giác thành công, được công nhận, tự tin về bản thân
  • Sở hữu và tình yêu – là thành viên trong một nhóm nào đó, có nhiều người bạn thân để tâm sự
  • An toàn – không cảm thấy các mối nguy hiểm cận kề
  • Sinh lý – thức ăn, nước uống, chỗ ở, tình dục

Lưu ý: Sau này, Maslow có bổ sung thêm các nhu cầu cao hơn vào lý thuyết của ông.

Maslow thừa nhận rằng con người mong muốn và không bao giờ ngừng phấn đấu để đạt được nhiều mục tiêu khác nhau. Những nhu cầu ở các cấp độ thấp hơn cần phải được đáp ứng một cách nhanh chóng, do đó nếu các nhu cầu này không được thỏa mãn, chúng sẽ chi phối lại toàn bộ mục tiêu của con người.

Theo Maslow, một khi các nhu cầu thấp cấp đã được thỏa mãn, các nhu cầu cao cấp sẽ trở thành động lực cho mọi hành vi của con người. Những nhu cầu ở cấp thấp hơn không được đáp ứng thường sẽ tạo nên sự bất mãn ở các nhu cầu bậc cao hơn, do đó chúng thường phải được thỏa mãn trước khi một người có thể tiến lên các bậc cao hơn trong hệ thống phân cấp.

Biết được vị trí của một người trên kim tự tháp sẽ giúp bạn xác định động lực của họ một cách hiệu quả. Ví dụ, việc tạo động lực thúc đẩy cho một người thuộc tầng lớp trung lưu đã được thỏa mãn bốn nhu cầu đầu tiên sẽ dễ dàng hơn việc tạo động lực phát triển cho một người có mức lương tối thiểu sống ở các khu ổ chuột.

Cần lưu ý rằng không ai ở một trạng thái cố định trên kim tự tháp Maslow trong suốt khoảng thời gian dài. Bởi trong khi chúng ta không ngừng phấn đấu để đi lên, thì vẫn tồn tại các lực lượng ngoài tầm kiểm soát đang cố gắng đẩy chúng ta xuống. Những người đứng ở cấp cao bị đẩy xuống trong thời gian ngắn, ví dụ như, cái chết của một người thân hay một ý tưởng không thể thực hiện được; trong khi những người ở phía dưới được đẩy lên, ví dụ như tình cờ nhận được một giải thưởng nhỏ. Do đó, mục tiêu của một nhà lãnh đạo là giúp mọi người có được những kỹ năng, kiến ​​thức và lợi ích nhằm thúc đẩy họ tiến lên những cấp bậc cao hơn trong tháp nhu cầu Maslow. Những người được đáp ứng các nhu cầu cơ bản sẽ lao động hiệu quả hơn vì họ sẽ không bị vướng bận vào những nhu cầu này và tập trung vào hiện thực hóa các mục tiêu của bản thân và tổ chức.

Chỉ trích và điểm mạnh

Lý thuyết của Maslow thường bị chỉ trích bởi không thể áp dụng trong nhiều trường hợp chẳng hạn như quân đội, cảnh sát, lính cứu hỏa,…Họ là những người sẵn sàng mạo hiểm sự an toàn của mình cho sức khỏe của người khác. Hay như cha mẹ, những người luôn hy sinh nhu cầu cơ bản của mình cho con cái. Tuy nhiên, hầu như lý thuyết nào cũng có sự sai lêch khi đi sâu vào phân tích ở mức độ cá nhân. Ngay cả lý thuyết vật lý của Newton, dù đã trở thành một định luật nổi tiếng, cũng không còn chính xác khi đi sâu vào cấp độ nguyên tử.

Một nghiên cứu gần đây cho ta thấy (Tay, Diener, 2011), con người luôn tin tưởng vào lý thuyết Maslow, và họ có xu hướng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản và nhu cầu an toàn trước khi cần đến các nhu cầu khác. Tuy nhiên, việc thỏa mãn các nhu cầu của con người lại ít liên quan tới quan điểm về hạnh phúc của mỗi cá nhân. Vì vậy, thay vì một kim tự tháp với các nhu cầu được sắp xếp theo trật tự thứ bậc, nó giống như một cái hộp với những nhu cầu cơ bản của con người nằm rải rác bên trong, và tùy vào từng tình huống hoặc môi trường khác nhau mà những nhu cầu này xuất hiện lên đầu để được bù đắp.

Tuy nhiên, lý thuyết của Maslow vẫn là một lý thuyết kinh điển bởi nó đưa ra kết quả nghiên cứu dựa trên những người có tinh thần khỏe mạnh. Hơn nữa, học thuyết này là một trong những lý thuyết đầu tiên về tâm lý con người, do đó nó không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót.

Mở rộng Kim tự tháp

Trong những năm sau này của Maslow (1971), ông tỏ ra quan tâm nhiều hơn đến các trật tự và nhu cầu cao hơn của con người, cũng như cố gắng tiếp tục phân loại chúng. Maslow đưa ra giả thuyết rằng mục tiêu cuối cùng của cuộc sống là tự khẳng định bản thân, đó là một việc hầu như không bao giờ có thể đạt được một cách tuyệt đối. Nói đúng hơn, nó là thứ mà chúng ta luôn phải cố gắng phấn đấu.

Sau đó, ông đưa ra giả thuyết rằng mục tiêu cuối cùng này sẽ không dừng lại và con người sẽ tiếp tục phát triển tới nhu cầu tự tôn bản ngã , điều này thậm chí dẫn dắt chúng ta chạm tới ngưỡng tâm linh, ví dụ như: Gandhi, Mẹ Theresa, Đạt Lai Lạt Ma, hay kể cả các nhà thơ như Robert Frost. Mức độ tự tôn bản ngã này là cách Maslow thừa nhận nhu cầu của con người về đạo đức, tính sáng tạo, lòng trắc ẩn và tính tâm linh. Nếu không có ý nghĩa tâm linh hay siêu vị kỷ/cái tôi vượt trội ấy, chúng ta sẽ chỉ đơn giản là những cỗ máy.

Sự mở rộng thêm những nhu cầu cao cấp này được thể hiện trong hình vẽ sau:

Mô hình mở rộng của Maslow

Lưu ý rằng bốn nhu cầu cao cấp (trong kim tự tháp bên trên) có thể được đáp ứng theo bất kỳ thứ tự nào, tùy thuộc vào việc cá nhân đó muốn gì hoặc tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể nào, miễn là các nhu cầu cơ bản (bốn nhu cầu phía dưới) đều được đáp ứng:

8. Nhu cầu về tự tôn bản ngã – mức độ siêu vị kỷ tập trung vào tầm nhìn trực giác, lòng vị tha, và lập trường trong nhận thức.

7. Tự khẳng định bản thân – biết chính xác bạn là ai, bạn đang làm gì, và điều gì bạn muốn đạt được. Một trạng thái hạnh phúc.

6. Tính thẩm mỹ – làm những việc không chỉ để đạt được kết quả, mà còn vì sứ mệnh tồn tại của chính bạn– bình yên trong tâm hồn, và luôn hiếu kì về cách mà mọi thứ vận hành.

5. Nhận thức – luôn trong trạng thái sẵn sàng học hỏi – học tập để hiểu biết và đóng góp thêm kiến thức.

4. Được kính trọng – cảm giác tiến bộ, được công nhận, tự tin về bản thân.

3. Sở hữu và tình yêu – cảm giác được thuộc về một nhóm, có những người bạn thân thiết để chia sẻ, tâm sự.

2. Sự an toàn – thoát khỏi những cảm giác nguy hiểm cận kề.

1. Sinh lý – thức ăn, nước uống, chỗ ở, tình dục.

Ngoài ra, cũng tương tự như trong mô hình trước đây của ông, chúng ta có thể thay đổi giữa các cấp (Maslow, 1968). Ví dụ bạn có thể trải qua những trạng thái cảm xúc đỉnh cao của việc tự khẳng định bản thân và nhu cầu về tự tôn bản ngã. Đây là những khoảnh khắc sáng tạo hoặc tâm linh của chúng ta.

Đặc điểm của những người “Tự khẳng định bản thân”

Những người đạt đến trạng thái tự khẳng định bản thân thường có các đặc điểm sau:

  • Có nhận thức tốt hơn về thực tại và cảm thấy hài lòng với hiện tại
  • Chấp nhận bản thân và bản chất của mình
  • Ít giả tạo
  • Không chỉ tập trung vào bản thân mà còn quan tâm tới các vấn đề cơ bản, những câu hỏi có tính thời đại.
  • Thích sự riêng tư và có xu hướng tách rời khỏi đám đông
  • Luôn cầu tiến và không ngừng hoàn thiện bản thân
  • Trân trọng những niềm vui dù là nhỏ nhất của cuộc sống
  • Có một tình cảm sâu sắc như ruột thịt với những người xung quanh
  • Có tính dân chủ sâu sắc, luôn công bằng
  • Có tiêu chuẩn đạo đức và luân lý cao
  • Chân phương, sáng tạo, ít bị bó buộc và luôn rạng rỡ, tươi tắn hơn so với những người khác

 VƯỢT LÊN TRÊN MÔ HÌNH CỦA MASLOW

Các nghiên cứu lý thuyết của Maslow đã trải qua giám sát thực nghiệm và cho đến ngày nay, nó vẫn khá phổ biến do tính đơn giản và dễ hiểu của mình. Đồng thời, các lý thuyết này còn đóng vai trò là điểm khởi đầu cho phong trào phát triển tiến bộ: từ một người hành động thiếu suy nghĩ hoặc luôn coi nhẹ mọi việc hoặc luôn hành động một cách máy móc được tiếp cận với một phương pháp có tính nhân văn hơn. Bên cạnh đó vẫn có rất nhiều ý kiến trái chiều về phương pháp nghiên cứu của ông khi mà Maslow đã chọn ra một số ít người mà ông cho rằng có tính “Tự khẳng định bản thân” rồi lập tức đi đến kết luận về tính “Tự khẳng định bản thân” này. Tuy nhiên, Maslow luôn nhận thức rất rõ về điều này và cho rằng nghiên cứu của ông chỉ đơn giản là một phương pháp định hướng, chứ không phải là một chân lý. Ngoài ra, ông còn hy vọng vào những nghiên cứu toàn diện hơn, phát triển trên những đóng góp ban đầu của ông.

Quả thực, sau Maslow đã có rất nhiều các nhà nghiên cứu khác tiếp tục phát triển và hoàn thiện công trình của ông, chủ yếu trong lĩnh vực lao động và tổ chức, có thể kể đến như các nghiên cứu của Herzberg, Alderfer,và McGregor.

MÔ HÌNH HERZBERG 

Mô hình Herzberg

“Các nhân tố làm trong sạch môi trường” hoặc “Những con người bất mãn” cần phải tồn tại trước khi các yếu tố tạo động lực được áp dụng trong công việc để thúc đẩy mỗi cá nhân. Nói cách khác, bạn sẽ không thể sử dụng các yếu tố thúc đẩy này vào công việc cho đến khi tất cả các nhân tố làm trong sạch môi trường được đáp ứng. Mô hình về nhu cầu của Herzberg đặc biệt đúng trong công việc. Chúng đồng thời phản ánh một số điểm khác biệt mà mọi người muốn có được từ công việc của họ, điều này trái ngược với cấp bậc về nhu cầu của Maslow khi phản ánh tất cả các nhu cầu trong cuộc sống của một con người.

Dựa trên mô hình này, Herzberg đã sáng tạo ra thuật ngữ: làm giàu thêm công việc (job enrichment) – quá trình tái cơ cấu công việc để tạo nên các động lực bằng cách đa dạng hóa các nhiệm vụ của người lao động đồng thời kiểm soát các nhiệm vụ đó. Điều này liên quan chặt chẽ tới cách thiết kế một công việc  và là sự“Mở rộng công việc” (Sự tăng số lượng các nhiệm vụ mà nhân viên đảm nhận). Lưu ý thuật ngữ “Mở rộng công việc” có nghĩa là một loạt các nhiệm vụ được thực hiện để giảm bớt sự nhàm chán, chứ không phải là dồn quá nhiều nhiệm vụ cho một người khiến họ bị quá tải.

LÝ THUYẾT X VÀ LÝ THUYẾT Y CỦA MCGREGOR

Douglas McGregor (1957) đã phát triển một quan điểm triết học của nhân loại với Thuyết X và thuyết Y – hai quan điểm đối lập về cách mọi người xem xét hành vi nhân học trong công việc và cuộc sống. McGregor cho rằng các tổ chức và những người quản lý tuân theo một trong hai cách tiếp cận sau:

Lý thuyết X:

  • Con người vốn không ưa thích công việc và sẽ né tránh nó bất cứ khi nào có thể.
  • Con người phải bị cưỡng chế, kiểm soát, chỉ đạo, hoặc đe dọa trừng phạt để khiến họ hoàn thành các mục tiêu của tổ chức.
  • Con người thích được hướng dẫn, không muốn chịu trách nhiệm, có ít hoặc không có tham vọng.
  • Trên tất cả, con người tìm kiếm sự an toàn
  • Trong một tổ chức được giả định với lý thuyết X, nhiệm vụ của việc quản lý là ép buộc và kiểm soát nhân viên.

Lý thuyết Y:

  • Công việc là điều hiển nhiên như vui chơi và nghỉ ngơi.
  • Mọi người sẽ tự điều chỉnh bản thân nếu họ cam kết với các mục tiêu (họ không hề lười biếng).
  • Cam kết với mục tiêu tạo ra lợi ích và thành tựu cho họ.
  • Mọi người học cách chấp nhận và tìm kiếm trách nhiệm.
  • Mỗi người đều sở hữu sự sáng tạo, tính khéo léo và trí tưởng tượng. Con người có khả năng vận dụng những năng lực trên để giải quyết vấn đề của tổ chức.
  • Con người luôn ẩn chứa tiềm năng.

Trong một tổ chức với những giả định lý thuyết Y, vai trò của việc quản lý là giúp phát triển tiềm năng bên trong mỗi nhân viên và giúp họ giải phóng tiềm năng để hướng tới mục tiêu chung.

Lý thuyết X là quan điểm quản lý truyền thống đã được áp dụng đối với lực lượng lao động xưa cũ. Ngày nay, hầu hết các tổ chức đều đang vận hành theo quan điểm sáng suốt của lý thuyết Y (cho dù họ có thể chưa áp dụng một cách tốt nhất). Một ông chủ có thể đang áp dụng lý thuyết X, nhưng một nhà lãnh đạo thực sự lại vận dụng linh hoạt lý thuyết Y vào tổ chức của mình.

Chú ý rằng tất cả lý thuyết của Maslow, Herzberg, và McGregor đều có mối liên hệ với nhau:

  • Lý thuyết của Herzberg là một phiên bản nhỏ của lý thuyết Maslow có nội dung tập trung vào môi trường làm việc.
  • Lý thuyết X của McGregor được hình thành dựa trên việc những người lao động đang trong cấp thấp (1-3) theo tháp nhu cầu Maslow do phương pháp quản lý tồi. Trong khi lý thuyết Y của ông áp dụng cho những nhân viên trên cấp độ 3 do phương pháp quản lý tiến bộ.
  • Lý thuyết X của McGregor cũng được hình thành dựa trên việc các công nhân buộc phải lao động trong tình trạng bất mãn và các “nhân tố làm trong sạch môi trường” của Herzberg không được đảm bảo. Trong khi thuyết Y của ông phát triển dựa trên việc các công nhân đang hài lòng hoặc có động lực thúc đẩy.

 

Featured Image -- 3492

 

 

Tham khảo: http://www.saga.vn/lanh-dao-va-cac-thuyet-ve-hanh-vi-con-nguoi~31672

 

Tháp nhu cầu Maslow


Exploring Psychology - Khám Phá Tâm Lý Học

Tháp Nhu Cầu là một trong những học thuyết nổi tiếng nhất về động lực. Phát minh bởi nhà tâm lý học Abraham Maslow, Tháp Nhu Cầu được mô tả dưới dạng kim tự tháp, các tầng nền bao gồm các nhu cầu căn bản nhất và càng lên tới đỉnh thì các nhu cầu càng phức tạp hơn.
The hierarchy of needs is one of the best-known theories of motivation. Created by psychologist Abraham Maslow, the hierarchy is often displayed as a pyramid, with the most basic needs at the bottom and more complex needs at the peak.

a3d3f9fc954843fae108a5d4265c6f9e

View original post 1,608 more words

Theo Bill Gates, có 9 loại thông minh khác nhau và nếu biết mình thuộc loại nào, bạn sẽ dễ đạt được thành công


19907_1_other_wallpapers_informative_left_vs_right_side_of_the_brain

Chúng ta thường hay nhầm tưởng rằng những người thông minh là những người có chỉ số IQ cao. Nhưng thực chất, có khả năng cảm thụ âm nhạc tốt hay có năng khiếu trong các hoạt động thể chất cũng là một loại trí thông minh. Đây là những điều mà Bill Gates đã ước mình biết được sớm hơn.

Tỷ phú Bill Gates đã xây dựng sự nghiệp của mình dựa trên thế mạnh về logic và các kỹ năng toán học. Ông cũng tự định vị bản thân là một nhà lập trình xuất sắc, và ông có sự khéo léo để giải quyết các vấn đề kỹ thuật một cách dễ dàng.

Mặt khác, ông cũng tự đánh giá bản thân có những điểm yếu ở các lĩnh vực khác, như khả năng giao tiếp không tốt.

Trong một loạt các bài đăng trên Twitter gần đây, Bill Gates chia sẻ những điều ông mong muốn được biết sớm hơn, kể từ khi mới bắt đầu xây dựng sự nghiệp.

“Trí thông minh có nhiều hình thức khác nhau”, Gates chia sẻ. “Nó không phải là một chiều, và không quá quan trọng như tôi tưởng.”

Trong những năm 1980, giáo sư tâm lý học Howard Gardner thuộc Đại học Harvard đã đề xuất một quan điểm mới về các loại hình trí thông minh của con người. Trong đó trí thông minh được biểu hiện dưới 9 hình thái, lĩnh vực khác nhau:

 

1. Trí thông minh về không gian: Dễ dàng hình dung, mô tả cảnh quan, tưởng tượng thế giới theo chiều không gian 3D.

2. Trí thông minh Tự nhiên: Nhanh chóng hiểu được cơ chế của sự sống, sinh vật và các hiện tượng thiên nhiên.

3. Trí thông minh Âm nhạc: khả năng thẩm âm tốt, nhạy cảm với nhịp điệu và âm thanh

4. Trí thông minh Logic – Toán học: nhanh nhạy với số liệu, khả năng suy luận tốt, tổng hợp thông tin thành các giả thiết và có khả năng chứng minh chúng.

5. Trí thông minh triết học: Thường có những đắn đo, suy ngẫm về các vấn đề mang tính triết học như các câu hỏi: ý nghĩa của cuộc đời là gì?

6. Trí thông minh cảm xúc: Có khả năng thấu cảm, nhận biết cảm xúc của người khác và nhanh chóng hiểu ý nghĩ của họ.

7. Trí thông minh vận động: Khả năng điều khiển vận động của cơ thể, thể hiện sự khéo léo trong các hoạt động thể chất.

8. Trí thông minh Ngôn ngữ: Khả năng dùng từ ngữ để biểu đạt tốt, dễ dàng viết văn hoặc phát biểu ý kiến.

9. Trí thông minh nội tâm: Hiểu rõ bản thân, làm chủ cảm nhận về bản thân cũng như luôn xác định được điều mình muốn.

 

Nếu như có thể đánh giá đúng trí thông minh của mình thuộc loại nào, bạn sẽ đạt được rất nhiều lợi ích trong việc phát triển bản thân hay xây dựng sự nghiệp.

Việc xác định chính xác năng khiếu của mình, phải bắt đầu bằng việc ngừng so sánh với những người xung quanh, và tìm ra môi trường làm việc phù hợp nhất đối với bản thân. Bạn cũng cần đánh giá các kỹ năng mà bạn nên tập trung trau dồi để đạt được hiệu quả cao nhất.

Trong chuỗi suy tư của mình, Bill Gates rút ra kinh nghiệm đối với bản thân ông:

“Đây là điểm cốt lõi trong thế giới quan của tôi. Nhờ việc nhận định giá trị ưu việt của bản thân ở đâu, mà tôi có thể vượt qua những thời khắc khó khăn và giữ được tình yêu với công việc. Có thể, cách này cũng sẽ hiệu quả với bạn.”

Kết thúc loạt chia sẻ ngắn về việc định vị bản thân và các loại hình trí thông minh, Bill Gates có một lưu ý mạnh mẽ muốn nhắn nhủ: “Đây là thời đại tuyệt vời để sống, tôi hy vọng bạn tận dụng tối đa thời cơ của mình.”

 

Tham khảo: http://soha.vn/theo-bill-gates-co-9-loai-thong-minh-khac-nhau-va-neu-biet-minh-thuoc-loai-nao-ban-se-de-dat-duoc-thanh-cong-20170607175843861.htm

Security Analysis – Benjamin Graham


security-analysis-graham-en-2552_993x520

Download Ebook :  Security Analysis 

 Author : Benjamin Graham

https://torontoinvestclub.files.wordpress.com/2014/07/security-analysis-benjamin-graham.pdf

 

Thank for your Sharing : https://torontoinvestclub.wordpress.com/

Muốn thành công, đừng làm 9 điều này!


\”Chúng ta là những gì mà chúng ta nghĩ\”. Điều này có thể không đúng hoàn toàn với một số người, nhưng việc sở hữu một thái độ và tư tưởng đúng đắn đã là chìa khóa giúp nhiều người đạt đến thành công.

Nhà văn, nhà diễn thuyết nổi tiếng Earl Nightingale đã từng nói: “Chúng ta là những gì mà chúng ta nghĩ”. Điều này có thể không đúng hoàn toàn với một số người, nhưng việc sở hữu một thái độ và tư tưởng đúng đắn đã là chìa khóa giúp nhiều người đạt đến thành công.

 

Deep in the heart of nature

 

Nói một cách trung thực, thành công là một cụm từ mang tính chủ quan và không phải ai cũng đồng ý với những yếu tố tạo nên chúng. Dưới đây là danh sách 9 điều bạn cần ngừng làm nếu muốn cảm thấy (hoặc trở nên) thành công, được giới thiệu trên trang Lifehack.

1. Đừng quá cầu toàn

Thông thường, chúng ta hay dễ bị nản lòng trước những sự việc diễn ra không như mong muốn, bị stress vì những chuyện nhỏ nhặt hay thậm chí tự dằn vặt mình mỗi khi mắc sai lầm. Là bởi bạn là người có tính cầu toàn – muốn mọi việc phải đúng như mình nghĩ và mong.

Tuy nhiên, bạn cần biết rằng trong cuộc sống không có điều gì là hoàn hảo, và việc để xảy ra sai sót là chuyện bình thường. Ai cũng có thể phạm sai lầm và nhờ chúng bạn mới có cơ hội trưởng thành hơn.

Thêm vào đó, việc bạn căng thẳng khi không kiểm soát được mọi chuyện hay bực mình vì những thứ vặt vãnh cũng không khiến tình hình khá lên được, đó là chưa kể chúng còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của bạn và làm cho bạn kém minh mẫn hơn để tìm ra giải pháp hợp lý nhất.

Hãy bắt đầu bằng việc nói rằng bạn sẽ cố gắng hết sức có thể, bởi sau cùng thì bạn không phải cạnh tranh với ai ngoại trừ chính mình.

2. Đừng cố làm hài lòng hết mọi người

Điều quan trọng là bạn phải nhận ra giới hạn của bản thân bởi người khác hay có xu hướng “kiểm tra” chúng. Con người là động vật xã hội, chúng ta muốn tương tác với những người khác và muốn cảm thấy mình là một phần của cộng đồng, hoặc trở nên đặc biệt với một cá thể nào đó bên cạnh xu hướng cố làm hài lòng những người xung quanh.

Bạn đã bao giờ cố gắng giúp đỡ một đồng nghiệp mặc dù thực sự bạn không đủ khả năng làm điều đó, hoặc cho ai đó vay tiền trong khi số tiền trong túi bạn còn không đủ để cho mượn?

Để không cảm thấy tội lỗi, người ta thường không nỡ đưa ra lời từ chối dù cho bản thân biết rõ mình khó lòng đáp ứng đề nghị. Nhưng, đừng nên nghi ngờ linh cảm của mình và hãy mạnh dạn từ chối nếu bạn cho rằng nên làm vậy.

Chưa kể, từ chối còn là cách tốt nhất giúp bạn chọn những việc ưu tiên cần làm, thể hiện cho người khác thấy quy tắc của bản thân và đòi hỏi sự tôn trọng từ họ.

3. Đừng tự dằn vặt bản thân

Hầu hết chúng ta từng có những suy nghĩ tiêu cực hay lưu lại trong ký ức những việc làm sai trái. Hành động bắt nạt đứa bạn hồi lớp 4, bị sa thải, hay tình cờ nghe ai đó nói xấu mình… Tất cả đều có thể hằn sâu trong tâm trí bạn.

Tuy nhiên, việc nhớ lại những điều đó và liên tục dằn vặt bản thân vì những lỗi lầm trong quá khứ chẳng giúp ích được gì. Thay vào đó, hãy tìm ra bài học từ những lỗi lầm ấy, lấy đó kinh nghiệm để không mắc phải sai lầm tương tự là điều đáng làm và quan trọng hơn nhiều.

Nếu bạn đã từng tự nói với mình rằng “Tôi không xinh đẹp”, “Tôi đã làm điều kinh khủng này trong suốt 5 năm và chưa bao giờ tha thứ cho bản thân” hay bất kỳ ý nghĩ tiêu cực nào khác, thì hãy ngừng ngay việc đó lại.

Hãy nhìn vào gương và nói những điều tốt đẹp về mình, đọc những câu nói truyền cảm hứng, thẳng thắn với bản thân rằng ai cũng có thể mắc sai lầm nhưng quan trọng là chúng ta học được gì từ chúng và làm thế nào để vượt qua sau tất cả mọi chuyện.

4. Đừng chỉ lo những thứ trước mắt

Những người thành công hiểu rất rõ tầm quan trọng của việc lên kế hoạch. Họ đặt ra kế hoạch mỗi ngày, cho từng mục tiêu, khoản ngân sách và cách tiết kiệm tiền cho tuổi già sắp đến.

Dù vậy, điều đó không có nghĩa họ sống trong căng thẳng. Luôn luôn có niềm vui trong từng kế hoạch của những người thành công này, họ khiến thời gian làm việc hiệu quả, vui vẻ tiết kiệm và nghĩ về tương lai.

Vì vậy, đừng chỉ chăm chăm làm việc vì ngày hôm nay mà hãy nghĩ về ngày mai và tận hưởng chúng, thử nghĩ về nơi bạn muốn ở trong 5, 10 hay 15 năm nữa.

5. Đừng lờ đi các mục tiêu

Ngưng việc nghĩ rằng vì bạn là người tốt nên những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn, bởi chúng chỉ đến với những ai biết nỗ lực làm việc, và một phần trong đó chính là thiết lập các mục tiêu.

Điều này cũng giống như việc bạn chăm chỉ làm việc hàng ngày là chưa đủ, điều quan trọng là bạn cần biết quản lý thời gian và thiết lập các mục tiêu ngắn hạn, dài hạn để có thể theo dõi tiến độ và có động lực phấn đấu.

6. Đừng tự cô lập bản thân

Những người thành công hiểu rằng công việc, tôn giáo hay những nghĩa vụ tương tự khác không phải là tất cả khi bên cạnh họ còn có gia đình, thú tiêu khiển và những đam mê khác.

Chúng ta thường thấy ấn tượng với những người thành công (hoặc tỏ vẻ thành công) khi họ bận đến mức không có thời gian rảnh rỗi và giao tiếp với những người xung quanh. Tuy nhiên, điều này không phải luôn luôn đúng.

Việc tách biệt bản thân với cộng đồng có thể giết chết bạn. Trên thực tế, nhiều người thành công đã làm chủ được nghệ thuật cân bằng trong cuộc sống. Họ không xa lánh những người mà họ yêu mến chỉ vì cần thực hiện những mục tiêu hay tham vọng nào đó. Thay vào đó, họ đưa những người quan trọng đối với mình vào mọi kế hoạch và mục tiêu tương lai.

7. Đừng so sánh bản thân với người khác

Những người thành công hiểu rằng người duy nhất họ phải cạnh tranh ngày hôm nay là chính họ ngày hôm qua. Họ cũng luôn tập trung vào bản thân và việc hoàn thành mục tiêu thay vì lo lắng bất cứ điều gì khác.

Họ không muốn so sánh mình với người khác vì điều đó không đem lại ích lợi gì. Tuy nhiên, họ nhận ra được đâu là điểm yếu của mình và thực sự ngưỡng mộ những ai làm được điều mà bản thân họ chưa làm được.

Ngoài ra, việc tự so sánh chính mình với người khác hoàn toàn vô dụng, nó chỉ gây tổn hại đến lòng tự trọng của bạn và làm phát sinh những suy nghĩ tiêu cực trong thời gian dài.

8. Đừng sống mãi trong quá khứ

Người thành công học từ thất bại của mình nhưng họ không sống trong quá khứ. Họ thu được những kỹ năng, rút ra bài học và áp dụng chúng cho hiện tại và tương lai.

Quá khứ không nói lên bạn là ai của ngày hôm nay cả, đừng để chúng ám ảnh bạn. Thay vì vậy, hãy định nghĩa bản thân bằng những gì bạn làm ở hiện tại và điều bạn hướng đến trong tương lai.

Thomas Edison đã từng thất bại nhiều lần trước khi phát minh thành công bóng đèn điện. Nếu đó là bạn, bạn sẽ làm gì nếu ngày hôm qua là một thất bại? Hãy thử lại, nhiều và nhiều lần nữa đến khi nào thành công.

Thất bại dạy cho chúng ta những cách không hiệu quả và giúp chúng ta tiến gần hơn tới thành công. Hãy tự chọn cho mình một thái độ hợp lý và kiểm soát nó và tiếp tục cố gắng. Bạn cần nhớ rằng, thất bại cũng chính là một thông tin phản hồi.

9. Đừng chịu đựng những người giả dối

Người thành công đánh giá cao người khác vì tính cách và tài năng nổi trội của họ – những người không cố gắng làm hại, xem thường hay tìm cách hạ thấp người khác chỉ vì thành công của họ. Người thành công giao thiệp rộng rãi với mọi người nhưng biết đâu là điểm dừng và họ không nói dối.

Đây cũng là những người không chịu được những ai thiếu trung thực và suy nghĩ tiêu cực, một phần bởi họ quá bận để yêu thương những người trung thực, chân thành.

 

Theo DNSG —Bích Ngọc Nguyễn

Bản sắc Do Thái


d12Ewf8ddSsbRoKwMumvzucd

Tại Israel, để là một người thực tế, bạn phải tin vào phép lạ”.[1]

-David Ben-Gurion (Thủ tướng đầu tiên của Nhà nước Israel hiện đại)

 

Từ khi Nhà nước Israel tuyên bố độc lập vào năm 1948, những đánh giá lịch sử về Israel thường chỉ đặt trọng tâm xoay quanh của các cuộc chiến nẩy lửa, các xung đột Ả Rập-Israel không bao giờ hết và các cuộc đàm phán ngoại giao bế tắc. Trọng tâm đó rất gây hiểu lầm. Israel đã trải qua nhiều cuộc chiến; Israel cũng luôn là mục tiêu của các cuộc tấn công khủng bố nhiều hơn bất kỳ một quốc gia nào khác; cũng là một thành viên tích cực trong nỗ lực kiến tạo hòa bình của Trung Đông trong nhiều thập niên. Tuy nhiên, các xung đột và thương lượng, mặc dù thường xuất hiện với tần suất rất cao trên các tiêu đề truyền thông hàng ngày, chỉ là một phần nhỏ của câu chuyện. Cuốn sách này “Câu chuyện Do Thái: từ Do Thái giáo đến Nhà nước Israel hiện đại” cho chúng ta nhìn thấy một bức tranh quan trọng hơn và bao quát hơn: thực tế của đất nước này và con người của nó là gì?

Câu trả lời là Israel hiện đại đã và đang xây dựng một hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa với một ý thức rõ ràng – mặc dù không hoàn hảo và chưa trọn vẹn. Đó là một quốc gia bình thường như mọi quốc gia khác, độc đáo, đặc sắc, và mang nhiều màu sắc khác lạ.

Tuy rằng Israel hiện đại khởi nguồn từ một trong những nền móng xã hội và văn hóa lâu đời nhất trên trái đất, di sản cổ xưa của nó đã không giúp cho công cuộc xây dựng quốc gia Israel hiện đại dễ dàng hơn. Ngược lại, tôn giáo và chủ nghĩa duy vật, ngôn ngữ đa dạng, dân chúng với nhiều trình độ phát triển kinh tế, kinh nghiệm lịch sử khác nhau, trong số các yếu tố khác, đã khiến cho công cuộc xây dựng quốc gia của Israel đặc biệt phức tạp và đầy thử thách. Một mảnh đất nhỏ bé và khô cằn, tài nguyên thiên nhiên ít ỏi, bao quanh bởi các nước láng giềng thù địch, cùng với những câu chuyện thành công ngoạn mục đã làm cho Israel trở nên một đất nước như huyền thoại.

Định nghĩa Israel hiện đại

Ý tưởng cho rằng người Do Thái là “chỉ là” một nhóm tôn giáo là một khái niệm bắt đầu với cuộc Cách mạng Pháp năm 1789, nhưng đã không gây ảnh hưởng ở Tây Âu cho đến giữa thế kỷ 19. Khái niệm này hoàn toàn không đứng vững trong các cộng đồng người Do Thái ở Đông Âu hay Trung Đông. Ở Tây Âu, những người có cảm tình với người Do Thái và những người Do Thái muốn mình hòa đồng với nền văn hóa của đa số, đã tìm cách mô tả người Do Thái như những công dân bình thường về mọi mặt ngoại trừ trong khu vực cá nhân hạn hẹp của tôn giáo. Không tự coi mình là một dân tộc đặc biệt với một nền văn hóa, ngôn ngữ, và bản sắc riêng biệt là một cách làm của người Do Thái trong cố gắng đạt tới bình đẳng và loại bỏ chủ nghĩa bài xích Do Thái. Nhưng cách tiếp cận này đã không phản ánh được thực tế lịch sử và mâu thuẫn với chính hình ảnh bản thân của họ.

Trong Thời Kỳ Thánh Kinh [3000 TCN – 538 TCN][2] và cho đến thời điểm quốc gia Israel cổ đại bị người La Mã hủy diệt vào năm 70 CN, người Do Thái đã sinh hoạt như một quốc gia, được cho là đầu tiên trong lịch sử. Sau đó, suốt trong hơn mười chín thế kỷ, người Do Thái lưu vong, và trên những vùng đất mà họ cư ngụ đã hình thành nên một dân tộc tách biệt với những tổ chức quản lý phi-nhà nước theo cung cách riêng của mình, với ngôn ngữ duy nhất, phong tục độc đáo, những ý tưởng khác lạ, và một nền văn hóa rất khác biệt, chưa kể đến những thứ như trang phục quần áo và nghệ thuật. Những từ như “Hebrew” và “Israeli”, sử dụng phổ biến hơn từ “Jews” – ngay trong thời hiện đại – đã phản ánh rằng bản sắc dân tộc và con người Israel đã tự mở rộng vượt ra ngoài phạm vi của tôn giáo.

Tôn giáo, như thế, chỉ là một dấu hiệu trong bản sắc người Do Thái, giống như một quốc gia trong tự nhiên. Không có mâu thuẫn nào giữa bản sắc tôn giáo và bản sắc dân tộc. Trong thế giới cổ đại và cũng ở ngay thời hiện đại, ở nhiều nơi, một tôn giáo khác biệt là một trong những điểm nổi bật chính của quốc gia-dân tộc. Điều này đặc biệt đúng tại khu vực Trung Đông thời hiện đại, nơi mà Israel là một điển hình.

Trong suốt lịch sử, hành động đầu tiên đánh dấu rằng người Do Thái có một bản sắc dân tộc đặc biệt mạnh mẽ chính là việc họ đã từ chối các vị thần và các phong tục tôn giáo của ngay cả những dân tộc đã từng thống trị họ như người La Mã và sau đó người Kitô giáo và Hồi giáo. Trong nhiều trường hợp khác, có những dân tộc chấp nhận tôn giáo, ngôn ngữ, và bản sắc của những người cai trị hoặc hàng xóm để rồi cuối cùng biến mất khỏi lịch sử. Điều đó cho thấy rằng một bản năng yếu kém không có chỗ tồn tại trong thế giới của quyền lực. Cái bản sắc tôn giáo-dân tộc kéo dài của người Do Thái đã tỏ ra mạnh hơn so với hầu như bất kỳ một dân tộc nào khác trên trái đất.

Khả năng sinh tồn này đã được định hình không phải chỉ do đặc tính “bướng bỉnh” và “bất chấp” của người Do Thái, cũng không phải do những o ép đối với họ bằng vũ lực. Thay vào đó, người Do Thái đã hành động giống như một quốc gia hiện đại, dù rằng đã mất quyền kiểm soát hoặc hiện diện trong những vùng lãnh thổ đặc biệt. Thật vậy, việc ngăn cấm tôn giáo đối với người Do Thái bằng cách pha loãng tập tục của họ hay tích hợp từ tập tục của những dân tộc khác trong thời cổ đại đã dẫn đến cuộc nổi dậy thành công của người Do Thái vào năm 166 TCN chống lại người Syria dòng Seleucid để lập nên vương quốc Hasmoneans độc lập; và ngược lại là cuộc khởi nghĩa thất bại chống lại người La Mã và dẫn đến sự hủy diệt của Jerusalem vào năm 70, buộc người dân Do Thái sống cuộc đời lưu vong trong gần 2000 năm.

Sau khi dịch chuyển trung tâm sinh hoạt từ Vùng đất Israel đến các cộng đồng Do Thái lưu vong, rời xa khỏi quê hương lịch sử ở Trung Đông, người Do Thái vẫn tiếp tục cố gắng sinh hoạt như một quốc gia, mặc dù buộc phải chấp nhận những thiệt thòi của lối sống tách biệt, đó là sự phân biệt đối xử và thậm chí bách hại dưới bàn tay của các nước láng giềng. Qua nhiều thế kỷ, trong khuôn khổ lãnh đạo của các giáo sĩ Do Thái, người Do Thái vẫn duy trì một hình thức chính phủ cộng đồng của riêng mình, cùng với pháp luật, lịch, ngôn ngữ, các quan điểm triết học, có thể nhìn thấy trong các văn bản lớn của giáo hội và đặc biệt là qua đồ ăn, tập quán, và trang phục quần áo.

Đây không phải là một hoạt động mang tính cục bộ. Các cộng đồng cá nhân của người Do Thái, ngay khi cách xa nhau ngàn vạn cây số và sống trong những điều kiện rất khác biệt, vẫn duy trì kết nối trong suốt thời gian dài thời Trung cổ và tiếp tục trong thời kỳ hiện đại. Thật vậy, đó chính là lý do giải thích tại sao người Do Thái vẫn có thể thành công trong việc duy trì thương mại ở tầm xa, giữ được những tập quán khá đồng nhất.

Tất cả người Do Thái, ngay cả những người nghèo và ít học nhất sống ở các thôn xóm cô lập nhất, vẫn ý thức được nguồn gốc của họ tại Vùng đất Israel trong Thánh Kinh; nhiều người vẫn duy trì quan hệ với cộng đồng rất nhỏ người Do Thái đang còn sống ở đó và luôn tin rằng số phận sẽ dẫn họ trở về khi Đấng Cứu Thế xuất hiện.

Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái (Zionism – Chủ nghĩa Zion) xuất hiện ở châu Âu vào cuối thế kỷ 19 đã cập nhật tất cả những ý tưởng hiện có trên tinh thần tự giác và chủ nghĩa dân tộc đương đại. Nó đề xuất câu trả lời cho “câu hỏi Do Thái“, rằng làm thế nào để người Do Thái, bao gồm cả những người có cuộc sống không bị bao bọc bởi giới luật tôn giáo, đáp ứng những thách thức và cơ hội của thế giới hiện đại? Câu trả lời là không phải sự đồng hóa, cũng không phải là sự tồn tại thuần túy tôn giáo có thể đáp ứng những thách thức của thế giới hiện đại, mà chính là sự tồn tại của quốc gia: đó là sự cần thiết tạo ra một nhà nước Do Thái ngay trên quê hương lịch sử. Các nhà Zionist cũng lập luận rằng việc thay thế sự kiên nhẫn của lòng tin bằng hành động của con người sẽ bảo tồn cuộc sống của chính những người Do Thái và sự thịnh vượng cho tôn giáo của họ.

Ở Đông Âu, nơi mà đại đa số người Do Thái châu Âu tập trung, trên thực tế một đời sống quốc gia của người Do Thái vẫn tồn tại trong suốt thế kỷ 19 và kéo dài sang thế kỷ 20 ở nhiều nơi. Hầu hết người Do Thái châu Âu nói tiếng Yiddish, một ngôn ngữ có nguồn gốc từ tiếng Do Thái và tiếng Đức. Họ cầu nguyện hàng ngày trong các hội đường, lấy Vùng đất Israel làm trung tâm tôn giáo, và sinh hoạt như một cộng đồng hoàn toàn tách biệt với các láng giềng. Vụ diệt chủng người Do Thái của Đức Quốc Xã, cùng với sự đồng hóa cưỡng chế ở một số quốc gia châu Âu và Liên Xô, đã kết thúc lối sống này.

Trong khi đó ở Trung Đông người Do Thái sống gần như hoàn toàn cô lập trong cộng đồng của họ, tuân theo các lề luật tôn giáo riêng, có trang phục và nghề nghiệp khác biệt, và nói một ngôn ngữ đặc biệt đó là Arabic-Hebrew hoặc Spanish-Hebrew tương tự như tiếng Yiddish.

Với lịch sử như thế, nhận thức chung của nhiều người ngoài cuộc là người Do Thái luôn là những người ngoài lề, không tự nguyện hội nhập hoàn toàn vào những cộng đồng đa số nơi họ sống. Đối với người Do Thái ở châu Âu Kitô giáo hoặc Trung Đông với đa số Hồi giáo, chưa bao giờ – hoặc chỉ rất gần đây – có bất kỳ lời đề nghị hội nhập hoàn toàn. Tuy nhiên, đại đa số người Do Thái không nhìn bản sắc khác biệt của họ với ý nghĩ tiêu cực mà vẫn coi mình đơn thuần là “hướng nội”. Nói cách khác, người Do Thái tự coi họ là một phần của cộng đồng Do Thái rất gắn kết của riêng mình, trong khi vẫn chia sẻ thế giới quan với các thành viên của các cộng đồng khác bất kể vị trí địa lý và hoàn cảnh kinh tế của họ.

Thật vậy, Israel hiện đại không phải là một tác phẩm tùy ý hoặc ngẫu nhiên – nó không chỉ đơn thuần là kết quả của những thảm họa, ví dụ như, Holocaust. Thay vào đó, nó là sự tiếp nối của một quá trình lịch sử lâu dài. Sự ra đời của Nhà nước Israel là không thể tránh khỏi và là một logic hợp lý vì cũng như bất kỳ nhà nước nào trên thế giới hiện nay, nó được tạo ra bởi một cộng đồng của những người có chung một thế giới quan, lịch sử, và ước muốn được chia sẻ số phận của mình.

Sự tồn tại của những cảm tình đối với Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái trong xã hội, tôn giáo và thế giới quan Do Thái có lẽ sẽ không đi tới đâu nếu không có một phong trào có tổ chức. Những nhà tư tưởng tiên phong giữa thế kỷ 19 – Moses Hess [1812-1875], Leon Pinsker [1821-1891], và những người khác – đã cung cấp cái nhìn thoáng qua về ý tưởng lãng mạng của một nhà nước Do Thái, nhưng Theodor Herzl [1860-1904] và Ben-Gurion [1886-1973] mới là những nhà cách mạng đã đưa ý tưởng phục quốc trở thành hiện thực vào những năm 1890 khởi đầu với khái niệm “Vùng đất Israel ” (Land of Israel).

Cuộc di cư rải rác của những người dân Do Thái lưu vong về lại Vùng đất Israel và tham gia với cộng đồng tôn giáo truyền thống đã có ở đó dẫn đến sự ra đời của Yishuv. Đây là tên gọi cộng đồng người Do Thái ở Vùng đất Israel giữa những năm 1880 và 1948, khi Israel tuyên bố trở thành một nhà nước độc lập. Cộng đồng Do Thái Yishuv đóng vai trò quan trọng trong việc đặt nền móng cho một Nhà nước Israel đã được trù liệu. Trong khi truyền thống và lịch sử Do Thái là lớp nền móng đầu tiên trong việc định hình Nhà nước Israel hiện đại, Yishuv là lớp thứ hai.

Những thuộc tính văn hóa và cơ cấu kinh tế-chính trị được tạo ra trong thời kỳ Yishuv đã trở thành những thuộc tính cơ bản của nhà nước và xã hội Israel hiện đại sau này. Các đặc trưng tiền-nhà nước được biết đến nhất bao gồm: sự hồi sinh của ngôn ngữ Hebrew, sự thành lập các tổ chức tự vệ, việc thành lập một nền tảng kinh tế công nghiệp theo cấu trúc xã hội chủ nghĩa, sự phát triển của một hệ thống dịch vụ xã hội toàn diện, sự hòa hợp của một nền văn hóa nẩy sinh chủ yếu từ chất men trí thức của Đông Âu, việc lập ra các làng cộng đồng sáng tạo “Kibbutz” và các hợp tác xã “Moshav”, và việc xây dựng một khuôn khổ quốc gia căn bản là thế tục với các khía cạnh tôn giáo lớn. Nhiều yếu tố khác từ những năm Yishuv trong giai đoạn tiền-nhà nước vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến Israel rất lâu sau khi Nhà nước Israel được thành lập.

Hãy xem xét, ví dụ, vai trò của tôn giáo. Để nói rằng Israel là một nhà nước Do Thái không có nghĩa là chỉ đơn thuần là một bản tuyên bố về bản sắc tôn giáo. Nó trước tiên phải là một tuyên bố về bản sắc dân tộc. Đại đa số các nhà lãnh đạo Yishuv, và sau đó các nhà lãnh đạo Israel, là thế tục (có nghĩa là không ràng buộc vào tôn giáo nào). Họ đồng thời công nhận tầm quan trọng của tôn giáo trong việc gắn kết người Do Thái lại với nhau, tôn trọng tín ngưỡng của các nhóm thiểu số, nhưng cũng muốn đảm bảo rằng tôn giáo không có quá nhiều quyền lực đối với xã hội và văn hóa dân tộc.

Vì vậy, thế hệ lãnh đạo thống trị Yishuv và Nhà nước Israel ban đầu đã sớm đạt được một thỏa hiệp với các lãnh đạo Do Thái giáo Chính Thống (Orthodox) để chỉ chấp nhận quyền lực của tôn giáo ở một số khía cạnh của xã hội. Ngày nay các tổ chức nhà nước vẫn tuân theo luật lệ về chế độ ăn chay (Kosher) của người Do Thái; các cửa hàng thường đóng cửa vào ngày Sabbath (mặc dù thực tế này đã bị xói mòn theo thời gian); nhà nước nghỉ làm việc trong các ngày lễ tôn giáo của người Do Thái; kết hôn, ly hôn, và chôn cất được các giáo sĩ Do Thái điều khiển; sinh viên của các chủng viện Yeshiva[3] được hoãn nghĩa vụ quân sự. Thỏa hiệp này đảm bảo duy trì sự cân bằng quyền lực của cả hai phía thế tục và tôn giáo.

Tuy nhiên, thực tế thì Israel là một xã hội nghiêng về thế tục. Nói chính xác thì Israel được đặc trưng là một đất nước trong đó các khái niệm, phong tục và lịch sử có nguồn gốc tôn giáo đã được đặt vào trong một khuôn khổ thế tục và quốc gia. Trong một ý nghĩa tương tự, quá trình này cũng đã diễn ra trong nền văn minh phương Tây Kitô giáo.

Trong ba hoặc bốn thập niên đầu tiên của Nhà nước Israel độc lập, người Israel Do Thái tiếp tục tự cho rằng họ được phân chia rõ ràng thành hai nhóm tôn giáo và thế tục. Đến những năm 1990, tuy nhiên, người Israel Do Thái nhận ra sự tồn tại của một chuỗi rộng các quan điểm cũng như trình độ của việc thực hành tôn giáo. Khi xã hội đã trở thành thế tục hơn và ít ý thức hệ hơn, một thành phần khá lớn dân số gọi là “truyền thống” xuất hiện; họ vẫn duy trì các yếu tố của giới luật tôn giáo nhưng lại cam kết cho một lối sống cơ bản thế tục. Cách tiếp cận này đặc biệt mạnh trong nhóm người Do Thái Mizrahi là những người Do Thái đến từ Trung Đông và Bắc Phi.

Mặc dù có rất nhiều thách thức, Israel ngày nay có một hệ thống dân chủ đa nguyên được kiến trúc để có thể dung chứa các cộng đồng và các quan điểm khác nhau, mặc dù không đại diện về địa lý.

Một yếu tố khác đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của Israel là những người nhập cư Do Thái đến từ nhiều quốc gia và các nền văn hóa khác nhau đã hòa nhập thành công trong một xã hội thống nhất. Trước và sau độc lập của Israel vào năm 1948, những người nhập cư đến đầu tiên từ châu Âu, sau đó chủ yếu là từ Trung Đông, sau này từ Liên Xô cũ, và với số lượng nhỏ hơn, từ Ethiopia. Hầu hết những người nhập cư là người tị nạn nghèo, mất hết tài sản, cũng như bị chấn thương tâm lý do điều kiện sống khắc nghiệt và khủng bố ở các quốc gia họ đã bỏ trốn. Họ đã tìm thấy đời sống mới trên Vùng đất Israel. Họ hy vọng.

Mặc dù Israel được định nghĩa là một nhà nước Do Thái, nó lại hoạt động giống như một quốc gia Trung Đông truyền thống đa nguyên – với một tôn giáo nhà nước và các nhóm thiểu số tự trị một phần – hơn là kiểu nhà nước một dân tộc (mono-nationalist) của châu Âu thế kỷ hai mươi vốn đã xóa bỏ tất cả các nhóm thiểu số trong quá trình cưỡng bức đồng hóa . Ở Israel, mỗi cộng đồng tôn giáo có quyền kiểm soát đối với các vấn đề riêng của cộng đồng mình về tình trạng cá nhân, có quyền duy trì văn hóa, tôn giáo, và, ở một mức độ nào đó, tự chủ về tư pháp.

Israel nổi lên từ những năm trước và sau độc lập của mình với một thách thức chính trị, thế giới quan, kinh tế, văn hóa trộn lẫn từ nhiều yếu tố khác nhau. Trong số các ảnh hưởng chính là xã hội Do Thái truyền thống cùng với những cải cách Yishuv và những vay mượn từ các nền văn hóa Đông Âu, Tây Âu và Trung Đông. Bổ sung theo thời gian là các yếu tố văn hóa của Bắc Mỹ, Địa Trung Hải, và Nga hiện đại, cũng như một môi trường văn hóa Ả Rập tự trị. Pha trộn tất cả các yếu tố dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo và văn hóa này với nhau đã tạo nên một môi trường xã hội phong phú, những ý thức hệ chính trị đa dạng và nhiều giai tầng về địa vị xã hội.

Đây là một phần trích từ cuốn sách “Câu Chuyện Do Thái: Từ Do Thái giáo đến Nhà nước Israel Hiện đại” của tác giả Đặng Hoàng Xa (Nhóm nghiên cứu Do Thái & Israel), do Sách Thái Hà dự định xuất bản tháng 1/2015

——————

[1] “In Israel, in order to be a realist, you must believe in miracles.”

[2] Trong cuốn sách này chúng tôi ghi rõ TCN (trước công nguyên) trong những ngày trước năm 0001. Còn những ngày sau đó chúng tôi dùng ký hiệu viết tắt CN (sau công nguyên) hoặc để trống không ghi gì.

[3] Yeshiva: chủng viện Do Thái Chính thống.

 

 

Tham khao: http://nghiencuuquocte.org

The Movie Bookmark

2017 Movie Tube Database

Savage On Wheels

Honest car reviews both big and small

Economie et Politique: Une vision humaine

Eléments de réflexions économiques et politiques dans une démarche philosophique

GarimaShares

Create. Share. Enlighten.

nicholastsmith

The website and blog of Nicholas T. Smith.

Spider Bass

The Climate Change Progressive Rock Project

readyplayercom

Computer Scientist, Gamer & Reviewer

Ariely's Stuff

It's my blog, man.

On an Exploration

Exploring life and the many wonders of it.

Simple Programmer

Making The Complex Simple

Beto's Log

Continuous learning

raftidlingalong

Ajith Pillai's blog. All views expressed here are personal and never official. Use at own risk ;)

%d bloggers like this: