Bản sắc Do Thái

d12Ewf8ddSsbRoKwMumvzucd

Tại Israel, để là một người thực tế, bạn phải tin vào phép lạ”.[1]

-David Ben-Gurion (Thủ tướng đầu tiên của Nhà nước Israel hiện đại)

 

Từ khi Nhà nước Israel tuyên bố độc lập vào năm 1948, những đánh giá lịch sử về Israel thường chỉ đặt trọng tâm xoay quanh của các cuộc chiến nẩy lửa, các xung đột Ả Rập-Israel không bao giờ hết và các cuộc đàm phán ngoại giao bế tắc. Trọng tâm đó rất gây hiểu lầm. Israel đã trải qua nhiều cuộc chiến; Israel cũng luôn là mục tiêu của các cuộc tấn công khủng bố nhiều hơn bất kỳ một quốc gia nào khác; cũng là một thành viên tích cực trong nỗ lực kiến tạo hòa bình của Trung Đông trong nhiều thập niên. Tuy nhiên, các xung đột và thương lượng, mặc dù thường xuất hiện với tần suất rất cao trên các tiêu đề truyền thông hàng ngày, chỉ là một phần nhỏ của câu chuyện. Cuốn sách này “Câu chuyện Do Thái: từ Do Thái giáo đến Nhà nước Israel hiện đại” cho chúng ta nhìn thấy một bức tranh quan trọng hơn và bao quát hơn: thực tế của đất nước này và con người của nó là gì?

Câu trả lời là Israel hiện đại đã và đang xây dựng một hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa với một ý thức rõ ràng – mặc dù không hoàn hảo và chưa trọn vẹn. Đó là một quốc gia bình thường như mọi quốc gia khác, độc đáo, đặc sắc, và mang nhiều màu sắc khác lạ.

Tuy rằng Israel hiện đại khởi nguồn từ một trong những nền móng xã hội và văn hóa lâu đời nhất trên trái đất, di sản cổ xưa của nó đã không giúp cho công cuộc xây dựng quốc gia Israel hiện đại dễ dàng hơn. Ngược lại, tôn giáo và chủ nghĩa duy vật, ngôn ngữ đa dạng, dân chúng với nhiều trình độ phát triển kinh tế, kinh nghiệm lịch sử khác nhau, trong số các yếu tố khác, đã khiến cho công cuộc xây dựng quốc gia của Israel đặc biệt phức tạp và đầy thử thách. Một mảnh đất nhỏ bé và khô cằn, tài nguyên thiên nhiên ít ỏi, bao quanh bởi các nước láng giềng thù địch, cùng với những câu chuyện thành công ngoạn mục đã làm cho Israel trở nên một đất nước như huyền thoại.

Định nghĩa Israel hiện đại

Ý tưởng cho rằng người Do Thái là “chỉ là” một nhóm tôn giáo là một khái niệm bắt đầu với cuộc Cách mạng Pháp năm 1789, nhưng đã không gây ảnh hưởng ở Tây Âu cho đến giữa thế kỷ 19. Khái niệm này hoàn toàn không đứng vững trong các cộng đồng người Do Thái ở Đông Âu hay Trung Đông. Ở Tây Âu, những người có cảm tình với người Do Thái và những người Do Thái muốn mình hòa đồng với nền văn hóa của đa số, đã tìm cách mô tả người Do Thái như những công dân bình thường về mọi mặt ngoại trừ trong khu vực cá nhân hạn hẹp của tôn giáo. Không tự coi mình là một dân tộc đặc biệt với một nền văn hóa, ngôn ngữ, và bản sắc riêng biệt là một cách làm của người Do Thái trong cố gắng đạt tới bình đẳng và loại bỏ chủ nghĩa bài xích Do Thái. Nhưng cách tiếp cận này đã không phản ánh được thực tế lịch sử và mâu thuẫn với chính hình ảnh bản thân của họ.

Trong Thời Kỳ Thánh Kinh [3000 TCN – 538 TCN][2] và cho đến thời điểm quốc gia Israel cổ đại bị người La Mã hủy diệt vào năm 70 CN, người Do Thái đã sinh hoạt như một quốc gia, được cho là đầu tiên trong lịch sử. Sau đó, suốt trong hơn mười chín thế kỷ, người Do Thái lưu vong, và trên những vùng đất mà họ cư ngụ đã hình thành nên một dân tộc tách biệt với những tổ chức quản lý phi-nhà nước theo cung cách riêng của mình, với ngôn ngữ duy nhất, phong tục độc đáo, những ý tưởng khác lạ, và một nền văn hóa rất khác biệt, chưa kể đến những thứ như trang phục quần áo và nghệ thuật. Những từ như “Hebrew” và “Israeli”, sử dụng phổ biến hơn từ “Jews” – ngay trong thời hiện đại – đã phản ánh rằng bản sắc dân tộc và con người Israel đã tự mở rộng vượt ra ngoài phạm vi của tôn giáo.

Tôn giáo, như thế, chỉ là một dấu hiệu trong bản sắc người Do Thái, giống như một quốc gia trong tự nhiên. Không có mâu thuẫn nào giữa bản sắc tôn giáo và bản sắc dân tộc. Trong thế giới cổ đại và cũng ở ngay thời hiện đại, ở nhiều nơi, một tôn giáo khác biệt là một trong những điểm nổi bật chính của quốc gia-dân tộc. Điều này đặc biệt đúng tại khu vực Trung Đông thời hiện đại, nơi mà Israel là một điển hình.

Trong suốt lịch sử, hành động đầu tiên đánh dấu rằng người Do Thái có một bản sắc dân tộc đặc biệt mạnh mẽ chính là việc họ đã từ chối các vị thần và các phong tục tôn giáo của ngay cả những dân tộc đã từng thống trị họ như người La Mã và sau đó người Kitô giáo và Hồi giáo. Trong nhiều trường hợp khác, có những dân tộc chấp nhận tôn giáo, ngôn ngữ, và bản sắc của những người cai trị hoặc hàng xóm để rồi cuối cùng biến mất khỏi lịch sử. Điều đó cho thấy rằng một bản năng yếu kém không có chỗ tồn tại trong thế giới của quyền lực. Cái bản sắc tôn giáo-dân tộc kéo dài của người Do Thái đã tỏ ra mạnh hơn so với hầu như bất kỳ một dân tộc nào khác trên trái đất.

Khả năng sinh tồn này đã được định hình không phải chỉ do đặc tính “bướng bỉnh” và “bất chấp” của người Do Thái, cũng không phải do những o ép đối với họ bằng vũ lực. Thay vào đó, người Do Thái đã hành động giống như một quốc gia hiện đại, dù rằng đã mất quyền kiểm soát hoặc hiện diện trong những vùng lãnh thổ đặc biệt. Thật vậy, việc ngăn cấm tôn giáo đối với người Do Thái bằng cách pha loãng tập tục của họ hay tích hợp từ tập tục của những dân tộc khác trong thời cổ đại đã dẫn đến cuộc nổi dậy thành công của người Do Thái vào năm 166 TCN chống lại người Syria dòng Seleucid để lập nên vương quốc Hasmoneans độc lập; và ngược lại là cuộc khởi nghĩa thất bại chống lại người La Mã và dẫn đến sự hủy diệt của Jerusalem vào năm 70, buộc người dân Do Thái sống cuộc đời lưu vong trong gần 2000 năm.

Sau khi dịch chuyển trung tâm sinh hoạt từ Vùng đất Israel đến các cộng đồng Do Thái lưu vong, rời xa khỏi quê hương lịch sử ở Trung Đông, người Do Thái vẫn tiếp tục cố gắng sinh hoạt như một quốc gia, mặc dù buộc phải chấp nhận những thiệt thòi của lối sống tách biệt, đó là sự phân biệt đối xử và thậm chí bách hại dưới bàn tay của các nước láng giềng. Qua nhiều thế kỷ, trong khuôn khổ lãnh đạo của các giáo sĩ Do Thái, người Do Thái vẫn duy trì một hình thức chính phủ cộng đồng của riêng mình, cùng với pháp luật, lịch, ngôn ngữ, các quan điểm triết học, có thể nhìn thấy trong các văn bản lớn của giáo hội và đặc biệt là qua đồ ăn, tập quán, và trang phục quần áo.

Đây không phải là một hoạt động mang tính cục bộ. Các cộng đồng cá nhân của người Do Thái, ngay khi cách xa nhau ngàn vạn cây số và sống trong những điều kiện rất khác biệt, vẫn duy trì kết nối trong suốt thời gian dài thời Trung cổ và tiếp tục trong thời kỳ hiện đại. Thật vậy, đó chính là lý do giải thích tại sao người Do Thái vẫn có thể thành công trong việc duy trì thương mại ở tầm xa, giữ được những tập quán khá đồng nhất.

Tất cả người Do Thái, ngay cả những người nghèo và ít học nhất sống ở các thôn xóm cô lập nhất, vẫn ý thức được nguồn gốc của họ tại Vùng đất Israel trong Thánh Kinh; nhiều người vẫn duy trì quan hệ với cộng đồng rất nhỏ người Do Thái đang còn sống ở đó và luôn tin rằng số phận sẽ dẫn họ trở về khi Đấng Cứu Thế xuất hiện.

Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái (Zionism – Chủ nghĩa Zion) xuất hiện ở châu Âu vào cuối thế kỷ 19 đã cập nhật tất cả những ý tưởng hiện có trên tinh thần tự giác và chủ nghĩa dân tộc đương đại. Nó đề xuất câu trả lời cho “câu hỏi Do Thái“, rằng làm thế nào để người Do Thái, bao gồm cả những người có cuộc sống không bị bao bọc bởi giới luật tôn giáo, đáp ứng những thách thức và cơ hội của thế giới hiện đại? Câu trả lời là không phải sự đồng hóa, cũng không phải là sự tồn tại thuần túy tôn giáo có thể đáp ứng những thách thức của thế giới hiện đại, mà chính là sự tồn tại của quốc gia: đó là sự cần thiết tạo ra một nhà nước Do Thái ngay trên quê hương lịch sử. Các nhà Zionist cũng lập luận rằng việc thay thế sự kiên nhẫn của lòng tin bằng hành động của con người sẽ bảo tồn cuộc sống của chính những người Do Thái và sự thịnh vượng cho tôn giáo của họ.

Ở Đông Âu, nơi mà đại đa số người Do Thái châu Âu tập trung, trên thực tế một đời sống quốc gia của người Do Thái vẫn tồn tại trong suốt thế kỷ 19 và kéo dài sang thế kỷ 20 ở nhiều nơi. Hầu hết người Do Thái châu Âu nói tiếng Yiddish, một ngôn ngữ có nguồn gốc từ tiếng Do Thái và tiếng Đức. Họ cầu nguyện hàng ngày trong các hội đường, lấy Vùng đất Israel làm trung tâm tôn giáo, và sinh hoạt như một cộng đồng hoàn toàn tách biệt với các láng giềng. Vụ diệt chủng người Do Thái của Đức Quốc Xã, cùng với sự đồng hóa cưỡng chế ở một số quốc gia châu Âu và Liên Xô, đã kết thúc lối sống này.

Trong khi đó ở Trung Đông người Do Thái sống gần như hoàn toàn cô lập trong cộng đồng của họ, tuân theo các lề luật tôn giáo riêng, có trang phục và nghề nghiệp khác biệt, và nói một ngôn ngữ đặc biệt đó là Arabic-Hebrew hoặc Spanish-Hebrew tương tự như tiếng Yiddish.

Với lịch sử như thế, nhận thức chung của nhiều người ngoài cuộc là người Do Thái luôn là những người ngoài lề, không tự nguyện hội nhập hoàn toàn vào những cộng đồng đa số nơi họ sống. Đối với người Do Thái ở châu Âu Kitô giáo hoặc Trung Đông với đa số Hồi giáo, chưa bao giờ – hoặc chỉ rất gần đây – có bất kỳ lời đề nghị hội nhập hoàn toàn. Tuy nhiên, đại đa số người Do Thái không nhìn bản sắc khác biệt của họ với ý nghĩ tiêu cực mà vẫn coi mình đơn thuần là “hướng nội”. Nói cách khác, người Do Thái tự coi họ là một phần của cộng đồng Do Thái rất gắn kết của riêng mình, trong khi vẫn chia sẻ thế giới quan với các thành viên của các cộng đồng khác bất kể vị trí địa lý và hoàn cảnh kinh tế của họ.

Thật vậy, Israel hiện đại không phải là một tác phẩm tùy ý hoặc ngẫu nhiên – nó không chỉ đơn thuần là kết quả của những thảm họa, ví dụ như, Holocaust. Thay vào đó, nó là sự tiếp nối của một quá trình lịch sử lâu dài. Sự ra đời của Nhà nước Israel là không thể tránh khỏi và là một logic hợp lý vì cũng như bất kỳ nhà nước nào trên thế giới hiện nay, nó được tạo ra bởi một cộng đồng của những người có chung một thế giới quan, lịch sử, và ước muốn được chia sẻ số phận của mình.

Sự tồn tại của những cảm tình đối với Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái trong xã hội, tôn giáo và thế giới quan Do Thái có lẽ sẽ không đi tới đâu nếu không có một phong trào có tổ chức. Những nhà tư tưởng tiên phong giữa thế kỷ 19 – Moses Hess [1812-1875], Leon Pinsker [1821-1891], và những người khác – đã cung cấp cái nhìn thoáng qua về ý tưởng lãng mạng của một nhà nước Do Thái, nhưng Theodor Herzl [1860-1904] và Ben-Gurion [1886-1973] mới là những nhà cách mạng đã đưa ý tưởng phục quốc trở thành hiện thực vào những năm 1890 khởi đầu với khái niệm “Vùng đất Israel ” (Land of Israel).

Cuộc di cư rải rác của những người dân Do Thái lưu vong về lại Vùng đất Israel và tham gia với cộng đồng tôn giáo truyền thống đã có ở đó dẫn đến sự ra đời của Yishuv. Đây là tên gọi cộng đồng người Do Thái ở Vùng đất Israel giữa những năm 1880 và 1948, khi Israel tuyên bố trở thành một nhà nước độc lập. Cộng đồng Do Thái Yishuv đóng vai trò quan trọng trong việc đặt nền móng cho một Nhà nước Israel đã được trù liệu. Trong khi truyền thống và lịch sử Do Thái là lớp nền móng đầu tiên trong việc định hình Nhà nước Israel hiện đại, Yishuv là lớp thứ hai.

Những thuộc tính văn hóa và cơ cấu kinh tế-chính trị được tạo ra trong thời kỳ Yishuv đã trở thành những thuộc tính cơ bản của nhà nước và xã hội Israel hiện đại sau này. Các đặc trưng tiền-nhà nước được biết đến nhất bao gồm: sự hồi sinh của ngôn ngữ Hebrew, sự thành lập các tổ chức tự vệ, việc thành lập một nền tảng kinh tế công nghiệp theo cấu trúc xã hội chủ nghĩa, sự phát triển của một hệ thống dịch vụ xã hội toàn diện, sự hòa hợp của một nền văn hóa nẩy sinh chủ yếu từ chất men trí thức của Đông Âu, việc lập ra các làng cộng đồng sáng tạo “Kibbutz” và các hợp tác xã “Moshav”, và việc xây dựng một khuôn khổ quốc gia căn bản là thế tục với các khía cạnh tôn giáo lớn. Nhiều yếu tố khác từ những năm Yishuv trong giai đoạn tiền-nhà nước vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến Israel rất lâu sau khi Nhà nước Israel được thành lập.

Hãy xem xét, ví dụ, vai trò của tôn giáo. Để nói rằng Israel là một nhà nước Do Thái không có nghĩa là chỉ đơn thuần là một bản tuyên bố về bản sắc tôn giáo. Nó trước tiên phải là một tuyên bố về bản sắc dân tộc. Đại đa số các nhà lãnh đạo Yishuv, và sau đó các nhà lãnh đạo Israel, là thế tục (có nghĩa là không ràng buộc vào tôn giáo nào). Họ đồng thời công nhận tầm quan trọng của tôn giáo trong việc gắn kết người Do Thái lại với nhau, tôn trọng tín ngưỡng của các nhóm thiểu số, nhưng cũng muốn đảm bảo rằng tôn giáo không có quá nhiều quyền lực đối với xã hội và văn hóa dân tộc.

Vì vậy, thế hệ lãnh đạo thống trị Yishuv và Nhà nước Israel ban đầu đã sớm đạt được một thỏa hiệp với các lãnh đạo Do Thái giáo Chính Thống (Orthodox) để chỉ chấp nhận quyền lực của tôn giáo ở một số khía cạnh của xã hội. Ngày nay các tổ chức nhà nước vẫn tuân theo luật lệ về chế độ ăn chay (Kosher) của người Do Thái; các cửa hàng thường đóng cửa vào ngày Sabbath (mặc dù thực tế này đã bị xói mòn theo thời gian); nhà nước nghỉ làm việc trong các ngày lễ tôn giáo của người Do Thái; kết hôn, ly hôn, và chôn cất được các giáo sĩ Do Thái điều khiển; sinh viên của các chủng viện Yeshiva[3] được hoãn nghĩa vụ quân sự. Thỏa hiệp này đảm bảo duy trì sự cân bằng quyền lực của cả hai phía thế tục và tôn giáo.

Tuy nhiên, thực tế thì Israel là một xã hội nghiêng về thế tục. Nói chính xác thì Israel được đặc trưng là một đất nước trong đó các khái niệm, phong tục và lịch sử có nguồn gốc tôn giáo đã được đặt vào trong một khuôn khổ thế tục và quốc gia. Trong một ý nghĩa tương tự, quá trình này cũng đã diễn ra trong nền văn minh phương Tây Kitô giáo.

Trong ba hoặc bốn thập niên đầu tiên của Nhà nước Israel độc lập, người Israel Do Thái tiếp tục tự cho rằng họ được phân chia rõ ràng thành hai nhóm tôn giáo và thế tục. Đến những năm 1990, tuy nhiên, người Israel Do Thái nhận ra sự tồn tại của một chuỗi rộng các quan điểm cũng như trình độ của việc thực hành tôn giáo. Khi xã hội đã trở thành thế tục hơn và ít ý thức hệ hơn, một thành phần khá lớn dân số gọi là “truyền thống” xuất hiện; họ vẫn duy trì các yếu tố của giới luật tôn giáo nhưng lại cam kết cho một lối sống cơ bản thế tục. Cách tiếp cận này đặc biệt mạnh trong nhóm người Do Thái Mizrahi là những người Do Thái đến từ Trung Đông và Bắc Phi.

Mặc dù có rất nhiều thách thức, Israel ngày nay có một hệ thống dân chủ đa nguyên được kiến trúc để có thể dung chứa các cộng đồng và các quan điểm khác nhau, mặc dù không đại diện về địa lý.

Một yếu tố khác đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của Israel là những người nhập cư Do Thái đến từ nhiều quốc gia và các nền văn hóa khác nhau đã hòa nhập thành công trong một xã hội thống nhất. Trước và sau độc lập của Israel vào năm 1948, những người nhập cư đến đầu tiên từ châu Âu, sau đó chủ yếu là từ Trung Đông, sau này từ Liên Xô cũ, và với số lượng nhỏ hơn, từ Ethiopia. Hầu hết những người nhập cư là người tị nạn nghèo, mất hết tài sản, cũng như bị chấn thương tâm lý do điều kiện sống khắc nghiệt và khủng bố ở các quốc gia họ đã bỏ trốn. Họ đã tìm thấy đời sống mới trên Vùng đất Israel. Họ hy vọng.

Mặc dù Israel được định nghĩa là một nhà nước Do Thái, nó lại hoạt động giống như một quốc gia Trung Đông truyền thống đa nguyên – với một tôn giáo nhà nước và các nhóm thiểu số tự trị một phần – hơn là kiểu nhà nước một dân tộc (mono-nationalist) của châu Âu thế kỷ hai mươi vốn đã xóa bỏ tất cả các nhóm thiểu số trong quá trình cưỡng bức đồng hóa . Ở Israel, mỗi cộng đồng tôn giáo có quyền kiểm soát đối với các vấn đề riêng của cộng đồng mình về tình trạng cá nhân, có quyền duy trì văn hóa, tôn giáo, và, ở một mức độ nào đó, tự chủ về tư pháp.

Israel nổi lên từ những năm trước và sau độc lập của mình với một thách thức chính trị, thế giới quan, kinh tế, văn hóa trộn lẫn từ nhiều yếu tố khác nhau. Trong số các ảnh hưởng chính là xã hội Do Thái truyền thống cùng với những cải cách Yishuv và những vay mượn từ các nền văn hóa Đông Âu, Tây Âu và Trung Đông. Bổ sung theo thời gian là các yếu tố văn hóa của Bắc Mỹ, Địa Trung Hải, và Nga hiện đại, cũng như một môi trường văn hóa Ả Rập tự trị. Pha trộn tất cả các yếu tố dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo và văn hóa này với nhau đã tạo nên một môi trường xã hội phong phú, những ý thức hệ chính trị đa dạng và nhiều giai tầng về địa vị xã hội.

Đây là một phần trích từ cuốn sách “Câu Chuyện Do Thái: Từ Do Thái giáo đến Nhà nước Israel Hiện đại” của tác giả Đặng Hoàng Xa (Nhóm nghiên cứu Do Thái & Israel), do Sách Thái Hà dự định xuất bản tháng 1/2015

——————

[1] “In Israel, in order to be a realist, you must believe in miracles.”

[2] Trong cuốn sách này chúng tôi ghi rõ TCN (trước công nguyên) trong những ngày trước năm 0001. Còn những ngày sau đó chúng tôi dùng ký hiệu viết tắt CN (sau công nguyên) hoặc để trống không ghi gì.

[3] Yeshiva: chủng viện Do Thái Chính thống.

 

 

Tham khao: http://nghiencuuquocte.org

Chuyện Kiến và Sư tử: Ai đã, sẽ là ông chủ nhất định phải đọc bài học quản trị sau đây

Câu chuyện về chú nhân viên Kiến nhỏ bé và ông chủ Sư Tử. Chúng tôi xin được đăng tải toàn bộ câu chuyện này để bạn đọc, đặc biệt là những nhà quản lý có thể rút ra cho mình những giá trị riêng:

Chuyện Kiến và Sư tử: Ai đã, sẽ là ông chủ nhất định phải đọc bài học quản trị sau đây

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Mỗi ngày Kiến đi làm rất sớm và bắt tay ngay vào làm việc. Kiến làm việc rất giỏi và luôn luôn vui vẻ. Ông chủ của chú, là con Sư Tử, rất ngạc nhiên khi thấy Kiến làm việc mà không cần sự giám sát. Sư Tử chợt nghĩ rằng nếu được giám sát thì chắc chắn Kiến sẽ làm việc có hiệu quả hơn.

Thế là Sư Tử thuê Gián về làm giám sát. Sau khi được thuê, quyết định đầu tiên của Gián là gắn một cái đồng hồ treo tường để theo dõi việc đi làm đúng giờ. Gián cũng cần một thư ký để thay nó viết ghi chú hay làm báo cáo, và thế là nó thuê một con Nhện – để quản lý báo cáo và nhận các cuộc gọi.

Sư Tử rất hài lòng về những báo cáo của Gián và yêu cầu Gián làm thêm những biểu đồ theo dõi sản lượng và phân tích xu hướng thị trường, để nó có thể trình bày tại cuộc họp Ban quản trị. Vậy là Gián mua một cái laptop mới cùng với một máy in lazer, rồi thuê một con Ruồi làm quản lý bộ phận IT.

Nhắc tới Kiến, lúc trước làm việc rất chăm và thoải mái, giờ Kiến rất bực mình vì những công việc giấy tờ và những cuộc họp vô bổ làm mất hết thời gian của nó!

Trong khi đó, ông chủ Sư Tử đi đến kết luận là cần phải cử một người làm quản lý nguyên cả bộ phận mà Kiến đang làm việc. Chức vụ ông chủ nhỏ này được giao cho một con Ve Sầu. Quyết định đầu tiên của Ve Sầu là mua ngay một cái thảm đẹp và một cái ghế thật êm cho phòng làm việc của nó.

 

“Ông chủ” Ve Sầu này cũng cần thêm một máy vi tính và một thư ký riêng, đó là thư ký cũ của nó, người đã giúp nó chuẩn bị Kế Hoạch Tối Ưu Hoá Chiến Lược Kiểm Soát Công Việc & Ngân Quỹ. Văn phòng nơi Kiến làm việc trở thành một nơi buồn bã, chẳng còn ai cười đùa và mọi người trở nên lo lắng khó chịu.

Thế là Ve Sầu thuyết phục ông chủ lớn, là con Sư Tử, về sự cần thiết phải làm một cuộc nghiên cứu kỹ lưỡng về môi trường làm việc tại đây. Sau khi xem lại các báo cáo tài chính trong văn phòng nơi Kiến làm, Sư Tử phát hiện ra năng suất đã giảm sút hơn trước đây rất nhiều.

Thế là Sư Tử thuê một con Cú, đó là một cố vấn nổi tiếng và có uy tín, để tiến hành điều tra và đưa ra các giải pháp cần thiết. Cú bỏ ra 3 tháng để nghiên cứu về văn phòng và viết một báo cáo khổng lồ lên đến vài quyển và đi đến kết luận: “Văn phòng này có quá nhiều nhân viên”.

Hãy đoán xem ông chủ Sư Tử sa thải ai đầu tiên? Và nếu là ông chủ Sư Tử, lựa chọn của bạn là gì?

Con kiến bị sa thải vì nó “thiếu động cơ làm việc và có thái độ bi quan trong công việc”. Kết quả thật bất ngờ phải không!

Vậy bài học rút ra từ câu chuyện kể trên là gì?

Sai lầm có lẽ xuất phát từ thời điểm Sư Tử quyết định thuê thêm giám sát với hy vọng Kiến sẽ làm việc năng suất hơn nữa. Tuy nhiên đáng tiếc Sư Tử đã nhầm.

Đứng trên cương vị của một nhân viên, bất kỳ ai cũng mong muốn có môi trường làm việc thoải mái, tự do và được tự chủ nhiều nhất có thể. Không ai muốn mình luôn bị giám sát, thúc ép liên tục một cách thái quá.

Bằng chứng là sau khi các “cấp trên” gồm Gián, Nhện rồi Ve Sầu… lần lượt được bổ nhiệm, sự vui vẻ và thoải mái trong công việc của Kiến trước đây đã biến mất. Thay vào đó là cảm giác lo lắng, khó chịu. Điều này đương nhiên gây ra hậu quả trực tiếp là khiến năng suất lao động của Kiến giảm sút.

Chưa kể, việc bộ máy quản lý ngày một trở nên cồng kềnh, phức tạp khi có tới 8 quản lý mà chỉ có duy nhất mình Kiến trực tiếp sản xuất. Mọi công đoạn đều chậm lại và gián tiếp ảnh hưởng tới năng suất lao động.

Là một nhà quản lý, bạn luôn cần quan tâm tới việc phải đơn giản đến mức tối thiểu bộ máy quản lý. Bài toán đặt ra bộ máy quản lý đơn giản nhưng kết quả làm việc phải đạt được ở mức cao nhất.

Rốt cục, mục tiêu cuối cùng đối với bất kỳ công ty vẫn là doanh thu và lợi nhuận và không ai khác chính những chú Kiến là nhân tố chủ chốt của vấn đề.

Chính vì vậy, kinh nghiệm là cần phải tạo ra môi trường tốt nhất cho những chú Kiến, giúp chúng cảm thấy thoải mái, vui vẻ từ đó tạo ra năng suất làm việc hiệu quả nhất.

Vậy nếu đã lỡ là nhà lãnh đạo giống Sư Tử kể trên, trong trường hợp này bạn có sa thải Kiến không và giải pháp cứu công ty thoát khỏi tình trạng này là gì ?

 

Vân Đàm

Theo Trí Thức Trẻ

Khó tuyển nhân sự biết tiếng Nhật

¡i diÇn DN Nh­t B£n (ph£i) phÏng v¥n các b¡n tr» ViÇt Nam - ¢nh: QUANG PH¯ NG

Vướng rào cản tiếng Nhật là điều ghi nhận được từ doanh nghiệp và ứng viên tại ngày hội việc làm tiếng Nhật tổ chức ở TP.HCM ngày 19-12.

Ông Gaku Echizenya, giám đốc điều hành VietnamWorks, cho biết hiện nay các công ty Nhật đầu tư tại Việt Nam rất nhiều nhưng việc tuyển dụng nhân sự nói được tiếng Nhật rất khó.

Lao động người Nhật thường có khuynh hướng trung thành và tận tụy cống hiến với một nơi (họ tốt nghiệp và làm việc lâu dài hàng chục năm để sau đó được ngồi ghế quản lý, vì vậy kiến thức rất vững). Nếu lao động Việt kiên trì làm việc như người Nhật thì sự thăng tiến của người Việt ở các tập đoàn Nhật là hoàn toàn có thể
Bà NGUYỄN THỊ NGỌC HUỆ

Cầu nhiều, cung ít

Ứng viên Đỗ Bảo Khánh cho biết các công ty Nhật đưa ra yêu cầu tuyển dụng khá cao, bên cạnh giao tiếp được bằng tiếng Nhật, một số công ty còn đòi hỏi thêm tiếng Anh.

“Họ rất chu đáo, tuyển dụng ở vị trí nào họ đều ghi rõ những yêu cầu về bằng cấp, chuyên môn, các kỹ năng cần thiết. Phần lớn họ tuyển lao động có trình độ chuyên môn cao, tay nghề cao nên các yêu cầu tuyển dụng cũng khá cao, do đó các ứng viên Việt Nam ít đáp ứng được” – Khánh nói.

Ông Gaku Echizenya nói: “Nhu cầu tuyển dụng trong thị trường nhân lực biết tiếng Nhật đã tăng trưởng ổn định trong vài năm trở lại đây. Theo dữ liệu của chúng tôi, số lượng công việc yêu cầu kỹ năng tiếng Nhật như điều kiện bắt buộc trong năm nay tăng khoảng 40% so với năm ngoái. Đồng thời, có khoảng 50.000 nhân sự tiếng Nhật đăng ký trên website Japanworks với mong muốn làm việc tại các công ty Nhật”.

Ông Isao Obayashi, tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại TP.HCM, nhận định Nhật Bản là nước có công nghệ kỹ thuật cao nhưng lại có ít người trẻ tuổi, Việt Nam là nước có nguồn nhân lực trẻ dồi dào, vì vậy nếu có thể gắn kết lại sẽ tạo ra một mối quan hệ “thắng lợi – thắng lợi” dựa trên những lợi ích mang lại cho hai bên.

Theo ông Obayashi, điểm mạnh của các doanh nghiệp Nhật là có hệ thống đào tạo trực tiếp thông qua công việc tại công ty. Hơn nữa, cũng có nhiều doanh nghiệp tổ chức đào tạo tại cơ sở chính và tại Nhật.

“Vì là môi trường có thể học hỏi nên các bạn tích lũy kinh nghiệm tại các doanh nghiệp Nhật khi còn trẻ, về sau sẽ có điểm khác biệt lớn so với các bạn không có kinh nghiệm này” – ông Obayashi nói.

Nỗ lực để không thua trên sân nhà

Ông Shogo Takeda – quản lý bộ phận PMP, Công ty NTT Data – cho rằng lao động Việt đã được đào tạo kỹ thì khả năng hòa nhập với công việc rất nhanh. Tuy nhiên, theo ông, “điểm trừ” đáng lưu ý của người Việt là thiếu tính sáng tạo.

Nói về thử thách của lao động Việt trước những sự hội nhập sắp tới, ông cho rằng sự cạnh tranh với lao động Philippines là có cơ sở bởi giữa hai lao động có kỹ năng, mức thu nhập đề nghị như nhau thì lao động nào giỏi ngoại ngữ hơn, làm việc hiệu quả tốt hơn thì dĩ nhiên công ty sẽ chọn người đó.

Ông Norimitsu Kikuchi – trưởng bộ phận hành chính cấp cao Công ty Takashimaya – làm ở Việt Nam được hai năm, thừa nhận các công ty Nhật trước đây khá “bảo thủ”, thường chỉ sử dụng người Nhật cho những vị trí cấp cao trong công ty. Tuy nhiên, hiện nay đã có sự thay đổi nhất định. Ông cho rằng các công ty Mỹ đã tin tưởng, trao quyền quản lý cho nhiều lao động Việt và Nhật Bản cũng sẽ như vậy.

Ông Yusuke Endo, quản lý Công ty Lampart, với chín năm kinh nghiệm làm việc tại Việt Nam, cho rằng hình ảnh lao động Việt trong mắt người Nhật rất tốt và ông mong mọi thứ sẽ không thay đổi trong tương lai. Tuy nhiên, theo ông, lao động Việt cần phải cố gắng tích lũy càng nhiều trải nghiệm càng tốt để không bị lúng túng trong công việc.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Huệ – trưởng phòng nhân sự Tập đoàn Aeon Việt Nam, người có thâm niên làm trong lĩnh vực nhân sự ở nhiều công ty Nhật hơn 10 năm qua – cho biết các công ty Nhật chia sẻ rằng so với các quốc gia châu Á khác thì lao động người Việt có khuynh hướng gần gũi, dễ thích nghi và nhiều điểm tương đồng với người Nhật nhất (chẳng hạn ham học hỏi, cầu tiến, tôn trọng người lớn tuổi…). Nhiều người Nhật rất bất ngờ khi thấy người Việt đi học sau giờ làm.

Bà Huệ cho hay điểm yếu của lao động Việt là thiên về vật chất trong khi lao động Nhật thiên về lý tưởng làm việc của bản thân họ.

Bà Huệ cho biết các công ty Nhật đều muốn tạo điều kiện cất nhắc lao động Việt lên vị trí quản lý. Tuy nhiên, lao động Việt thường “nhảy việc” nên chưa đủ sức ngồi ở vị trí lãnh đạo.

Doanh nghiệp Nhật Bản cần người như thế nào?

Ông Obayashi cho biết doanh nghiệp Nhật Bản cần tuyển dụng những người có lập trường riêng của mình, người có khả năng nắm bắt tình huống một cách khách quan, người có thể suy nghĩ cho công ty và tập thể, người có khát vọng và có thể rèn luyện tính cách, người có thể lắng nghe người khác một cách chân thành, người có tinh thần trách nhiệm, người có thể tự đánh giá bản thân một cách khách quan, người luôn không hài lòng với hiện tại và luôn cải thiện bản thân.

Tại ngày hội, Công ty TNHH Evolable Châu Á tuyển các vị trí kỹ sư cầu nối, thông dịch viên, nhân viên xử lý dữ liệu tiếng Nhật; Công ty Olympus Việt Nam tuyển thông dịch viên, kỹ thuật sản xuất, quản lý chất lượng; Công ty R Techno Việt Nam tuyển kỹ sư thiết kế, kỹ sư thiết kế máy, kỹ sư thiết kế bản vẽ cơ khí; Công ty TNHH Servo Việt Nam tuyển trưởng phòng IT, trưởng phòng đúc nhôm, kỹ sư thiết kế…

Một số doanh nghiệp khác cần tuyển số lượng lớn nhân sự với yêu cầu “thoáng” hơn, đó là biết nói tiếng Anh như: Công ty TNHH Takashimaya Việt Nam tuyển quản lý bán lẻ (14 người), nhân viên bán lẻ (40 người), thu ngân (60 người)…

CÔNG NHẬT – QUANG PHƯƠNG

TuoiTre.vn

Việt Nam gia nhập AEC: Lo nhưng đừng sợ (AEC: Phần tiếp theo)

Cuối năm 2015, Việt Nam sẽ chính thức gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Thị trường lúc đó không còn là 90 triệu dân mà là 600 triệu dân.

Đó là quan điểm của phần lớn các diễn giả tham gia Diễn đàn CEO Việt Nam 2015 với chủ đề “Khởi đầu sứ mệnh: Tư duy 90 hay 600?” diễn ra vào chiều ngày 24/9.

Cuối năm 2015, Việt Nam sẽ chính thức gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Thị trường lúc đó sẽ không còn là 90 triệu dân Việt Nam mà là 600 triệu dân ASEAN.

Thị trường Việt Nam lọt vào tầm ngắm chính của doanh nghiệp ngoại

Có mặt tại diễn đàn, ông Hà Hùng Cường, Bộ trưởng Bộ Tư pháp cho biết, Việt Nam có quan hệ kinh tế với 160 thành viên WTO, 14 đối tác chiến lược, 10 đối tác toàn diện và đặc biệt chú trọng việc xây dựng AEC. Gia nhập AEC, các nước trong khu vực sẽ được tự do lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động. Hiện với 600 triệu dân, quy mô GDP của ASEAN vào khoảng 2.500 tỷ USD.

Còn Tiến sĩ Hans-Paul Burkner, Chủ tịch Tập đoàn Tư vấn Boston (BCG) cho biết, năm ngoái, nền kinh tế ASEAN xếp thứ 7 trên thế giới sau Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Đức, Anh và Pháp. Vì thế, không nên đánh giá thấp thị trường ASEAN.

“Nhiều công ty trên thế giới xem ASEAN là địa điểm lý tưởng để hoạt động kinh doanh. Người tiêu dùng ASEAN chính là động cơ thúc đẩy mới cho các công ty. Tầng lớp trung lưu đang tăng trưởng mạnh ở Việt Nam, Indonesia, Thái Lan và dự kiến đạt tổng cộng 300 triệu người vào năm 2020, do đó nhu cầu tiêu dùng rất lớn”, ông nhấn mạnh.

Nghiên cứu của BCG cũng cho thấy Việt Nam và Indonesia là thị trường mục tiêu chính trong kế hoạch mở rộng của các doanh nghiệp nước ngoài.

Viet Nam gia nhap AEC: Lo nhung dung so

Khảo sát các CEO có mặt tại diễn đàn về 4 thách thức nội tại chính của doanh nghiệp cho thấy, 20% số CEO cho rằng thách thức lớn nhất là về vốn, chỉ 10% cho rằng đó là sự kết nối và tạo mạng lưới doanh nghiệp, trong khi 30% coi việc thu hút nhân tài và có đến 40% coi việc quản trị là thách thức.

Theo quan điểm của ông Hans, doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước nên lo lắng khi Việt Nam tham gia AEC. Tuy nhiên ông cho rằng, “lo nhưng đừng sợ”.

Cùng quan điểm với ông Hans, bà Cao Thị Ngọc Dung, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc CTCP vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) cho rằng, “gia nhập AEC là cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt Nam nếu chúng ta biết định hướng đúng, nhưng chúng ta cũng luôn phải lo, bởi nếu không lo, chúng ta sẽ chủ quan mà đi xuống”.

Không chỉ tư duy 90 hay 600 mà tư duy toàn cầu

Thứ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh nói, khi thị trường mở cửa, Việt Nam gia nhập toàn cầu thì các doanh nghiệp cũng không nên hạn chế tư duy ở góc nhìn 90 hay 600 mà hãy nghĩ về tư duy toàn cầu, đồng thời ông cũng khẳng định Chính phủ sẽ tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cải thiện thủ tục, xúc tiến thương mại, đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ đổi mới công nghệ…

Theo Bộ trưởng Hà Hùng Cường, khi làm ăn dù ở trong nước hay ra nước ngoài, các doanh nghiệp Việt bao giờ cũng phải nghĩ đến câu chuyện tư vấn pháp luật. Khi các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, bao giờ họ cũng thuê luật sư đi trước, tìm hiểu môi trường đầu tư có rủi ro hay không, nền kinh tế có ổn định không. Có rủi ro, không ổn định thì họ sẽ không vào. Vì thế, ra nước ngoài đầu tư, bài học luật sư rất quan trọng và cần trở thành tư duy làm ăn của doanh nghiệp.

Bộ trưởng nói, hệ thống pháp luật ở Việt Nam rất phức tạp và số lượng văn bản quy phạm pháp luật “rất khủng khiếp”. Thống kê của 63 tỉnh thành trên cả nước, hiện có trên 1 triệu văn bản quy phạm pháp luật. Theo Bộ trưởng, Chính phủ đã rất cố gắng để giảm bớt cơ quan và hình thức ban hành văn bản pháp luật như đề nghị cấp huyện, xã không được ban hành. Tới đây, các bộ cũng không được ban hành thông tư liên tịch…

Viet Nam gia nhap AEC: Lo nhung dung so

Ông Hans cho rằng giải pháp đối diện với thách thức khi Việt Nam chính thức gia nhập AEC là ở chính nội tại doanh nghiệp.

“Chúng ta chứng kiến nhiều doanh nghiệp châu Âu tới nghiên cứu rồi không bước vào được. Chúng ta phải hiểu năng lực, vị thế, cơ hội của mình để có kế hoạch đi đâu, nhanh hay chậm”, ông chia sẻ. Do đó, doanh nghiệp nội địa nên nhanh chóng thay đổi, nắm bắt xu thế thị trường và để tạo lợi thế, cần phải hiểu được hoạt động của mình, hiểu được khách hàng.

Thêm nữa, điều trước tiên là doanh nghiệp cần phải giữ được thị phần của mình trong nước trước khi bước sang thị trường Thái Lan, Indonesia… Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần phải dám thử đổi mới và cần xây dựng chiến lược để giải quyết các thách thức.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là con người, ông Hans nhấn mạnh, nếu không có con người thì sẽ không làm được gì cả, nếu chúng ta có chiến lược tốt nhưng ko có con người thực hiện chiến lược thì sẽ đưa công ty đi xuống.

Trường Văn

http://nhipcaudautu.vn

60 phút mở: Xin việc thời AEC: 1 chọi 600 triệu (AEC: Phần tiếp theo)

60 phút mở: Xin việc thời AEC: 1 chọi 600 triệu

60 phút mở: Xin việc thời AEC: Những khó khăn trong tìm kiếm việc làm khi Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế ASEAN

http://vtv.vn/video/60-phut-mo-xin-viec-thoi-aec-1-choi-600-trieu-97505.htm

19 người VN nhận chứng chỉ kỹ sư chuyên nghiệp ASEAN (AEC: Phần tiếp theo)

Cong Dong Kinh Te ASEAN-AEC (3)

Lần đầu tiên, chứng chỉ kỹ sư chuyên nghiệp ASEAN được trao cho các kỹ sư VN, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng, giao thông, thủy lợi. Với chứng chỉ này, các kỹ sư có thể tham gia tư vấn, thiết kế và đấu thầu những công trình lớn trong khu vực các nước ASEAN.

Lễ trao chứng chỉ do Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Ủy ban Đăng bạ kỹ sư ASEAN tổ chức, diễn ra sáng nay tại Hà Nội.

Ông Nguyễn Mạnh Kiểm, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam cho biết, việc công nhận kỹ sư chuyên nghiệp nhằm nâng cao chất lượng kỹ sư của Việt Nam lên tầm khu vực, giúp họ dễ dàng tham gia vào thị trường khu vực ASEAN.

Người đạt chứng chỉ kỹ sư chuyên nghiệp ASEAN sẽ được các nước trong khu vực thừa nhận, được hành nghề tại các nước này, cũng như nhiều đặc quyền khác trong nghề nghiệp. Để được nhận chứng chỉ, một kỹ sư phải đạt tiêu chuẩn có tối thiểu 7 năm kinh nghiệm, trong đó có ít nhất 2 năm chủ trì các nhiệm vụ kỹ thuật quan trọng, thông thạo ít nhất một ngoại ngữ, xuất sắc trong các kỹ năng thẩm định, phản biện, đánh giá, kỹ năng thực hành và tổ chức sản xuất kinh doanh, có lương tâm và đạo đức nghề nghiệp… Tuy vậy, danh hiệu kỹ sư chuyên nghiệp không phải là suốt đời, mà sẽ được xem xét cấp lại sau 3 năm hoạt động, căn cứ vào kết quả công tác và tiến bộ của người đó.

Cũng theo ông Kiểm, đợt trao này mới là thí điểm, do vậy chỉ hạn chế trong 3 lĩnh vực xây dựng, giao thông và thủy lợi. Trong tương lai, chứng chỉ kỹ sư chuyên nghiệp sẽ được trao cho nhiều lĩnh vực khác nữa, như kiến trúc, cơ khí, điện, hóa chất, hàng hải, dầu khí, chế tạo máy, môi trường…

Việc cấp chứng chỉ kỹ sư chuyên nghiệp ASEAN đã mở đầu cho chương trình và hoạt động đăng bạ kỹ sư chuyên nghiệp ở Việt Nam do các tổ chức và Hội nghề nghiệp thực hiện theo thông lệ quốc tế. Xa hơn nữa, nếu chứng chỉ kỹ sư chuyên nghiệp ASEAN được thế giới công nhận, kỹ sư Việt Nam có thể tham gia vào các dự án tại các nước khác trên thế giới ngoài phạm vi ASEAN.

Thuận An- http://vnexpress.net

Thực hiện đăng bạ kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN là một hình thức nâng cao năng lực hoạt động tư vấn kỹ thuật (AEC: Phần tiếp theo)

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế  và khu vực, dịch vụ kỹ thuật là một trong các lĩnh vực đang thực hiện việc mở cửa tự do theo lộ trình mà Việt Nam đã cam kết trong Hiệp định đã ký kết với WTO.

Việc mở cửa thị trường là xu thế tất yếu trong quá trình hội nhập, chỉ còn rào cản kỹ thuật là có thể bảo hộ cho các doanh nghiệp trong nước có thời gian củng cố nâng cao năng lực của mình đủ sức cạnh tranh với các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài không những trên thị trường xây dựng trong nước mà còn vươn ra thị trường thế giới. Hiện nay chúng ta đang từng bước nới rộng các rào cản về kỹ thuật, trước hết là trong khối các nước ASEAN để từng bước tạo điều kiện cho các tổ chức và cá nhân hành nghề dịch vụ tư vấn kỹ thuật có cơ hội tiếp cận học hỏi, cọ sát và cạnh tranh với các tổ chức, cá nhân nước ngoài.

Ngày 09/12/2005, 10 nước ASEAN đã ký kết Thoả thuận thừa nhận lẫn nhau về dịch vụ tư vấn kỹ thuật (Mutual Recognition Arrangements – MRA). Nội dung của thoả thuận này là thực hiện Điều 5 của thoả thuận khung của ASEAN về các dịch vụ (AFAS), theo đó các nước thành viên ASEAN có thể công nhận về đào tạo hoặc kinh nghiệm, các yêu cầu phải đáp ứng và giấy phép hoặc chứng chỉ do các nước thành viên khác trong ASEAN cấp.

Mục tiêu của MRA là:

  • Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch nghề nghiệp dịch vụ tư vấn kỹ thuật giữa các nước trong khối ASEAN.
  • Trao đổi thông tin lẫn nhau để đưa ra những chấp thuận thực tế tốt nhất về tiêu chuẩn và chất lượng.

Để được công nhận là kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN (ACPE) phải đáp ứng được các điều kiện sau:

  • Có bằng kỹ sư hoặc tương đương được cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại cấp.
  • Có đăng ký hoặc có chứng chỉ về nghề nghiệp còn giá trị sử dụng do cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại thuộc ASEAN cấp (Sở Xây dựng) theo quy định hiện hành của nước đó.

  • Có thời gian thực tế từ 7 năm trở lên kể từ khi tốt nghiệp đại học, trong đó có ít nhất 2 năm thực hiện công việc kỹ thuật đặc biệt.

  • Tuân thủ chính sách về phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development – CPD) của nước sở tại với mức thích hợp.

  • Có chứng nhận của cơ quan quản lý nghề nghiệp có thẩm quyền của nước sở tại về việc cá nhân không có vi phạm nghiêm trọng các tiêu chuẩn về kỹ thuật, nghề nghiệp hoặc đạo đức khi hoạt động trong nước hoặc quốc tế và nộp đơn hợp lệ đăng ký là kỹ sư tiêu chuẩn ASEAN (ACPE) với Uỷ ban Điều phối kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN thông qua Ban Đăng ký kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN (ACPER).

  • Để thực hiện việc cấp chứng chỉ kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN, theo Thoả thuận mỗi nước thành viên tham gia phải thành lập Uỷ ban Giám sát (MC) để tiến hành việc thực hiện đăng bạ và quản lý hành nghề của các kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN tại nước mình. Uỷ ban Giám sát được công nhận là cơ quan có thẩm quyền để trực tiếp xác nhận hoặc giới thiệu cho các cơ quan có thẩm quyền khác năng lực và kinh nghiệm của các kỹ sư chuyên nghiệp hành nghề độc lập.

    Uỷ ban giám sát mỗi nước thành viên phải chuẩn bị Bản quy chế đánh giá trong đó phải đưa ra được tiêu chuẩn và thủ tục đánh giá theo các yêu cầu của Hiệp định đối với kỹ sư chuyên nghiệp. Bản quy chế này phải được Uỷ ban Điều phối kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN thẩm định và thông qua. Trên cơ sở Hiệp định được ký kết, được sự đồng ý và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ bằng văn bản thông báo của Văn phòng Chính phủ ngày 21/3/2008, trong đó giao Bộ Xây dựng chủ trì thành lập Uỷ ban Giám sát của Việt Nam thực hiện thoả thuận lẫn nhau về dịch vụ tư vấn kỹ thuật trong ASEAN, đồng thời căn cứ Thông báo 28/4/2008 của Bộ Ngoại giao, ngày 15/9/2008 Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ra Quyết định số 1128/QĐ-BXD thành lập Uỷ ban giám sát của Việt Nam để thực hiện thoả thuận lẫn nhau về dịch vụ tư vấn kỹ thuật trong ASEAN, trong đó thành phần có 7 thành viên, gồm đại diện của Bộ Xây dựng, Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Tổng hội Xây dựng Việt Nam và Hiệp hội Tư vấn xây dựng Việt Nam.

    Sau khi Uỷ ban Giám sát (MC) được thành lập đã nghiên cứu Quy chế đánh giá báo cáo Bộ trưởng Bộ Xây dựng thông qua và đã trình Uỷ ban Điều phối kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN (ACPECC) và đã được chấp thuận thông qua tại kỳ họp lần thứ 4 ngày 09 – 10/02/2009 tại Kuala Lumpur – Malaysia theo đó phải tuân thủ theo những qui tắc chung cơ bản nhất của Hiệp định về Thoả thuận lẫn nhau (MRA), cụ thể:

    • Đối với kỹ sư trong nước xin đăng ký là ACPE phải đáp ứng các điều kiện theo qui định gửi hồ sơ đăng bạ tới MC của nước sở tại (Việt Nam). MC có trách nhiệm tiếp nhận và xem xét hồ sơ của những người đăng bạ là kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN trình ACPECC công nhận cấp chứng chỉ kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN.
  • Đối với kỹ sư chuyên nghiệp nước ngoài muốn được cung cấp các dịch vụ kỹ thuật ở một nước ASEAN khác phải nộp hồ sơ đăng bạ là kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN. Kỹ sư nước ngoài đã được đăng bạ sẽ phải cộng tác với các kỹ sư chuyên nghiệp của nước sở tại (Nếu không cấp có thẩm quyền sẽ không xem xét về thiết kế khi thẩm định).

  • Về quyền và nghĩa vụ của một kỹ sư chuyên nghiệp nước ngoài đã đăng bạ kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN:

    – Về quyền:

    Kỹ sư được công nhận là chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN được hành nghề tại các nước ASEAN nếu kỹ sư đó là công dân của nước đã tham gia Hiệp định về thừa nhận lẫn nhau.

    Cơ quan quản lý hành nghề của nước sở tại có thể yêu cầu kỹ sư chuyên nghiệp nước ngoài đã được đăng bạ mong muốn hành nghề độc lập phải trải qua hình thức đánh giá bổ sung với mục đích xác định rằng kỹ sư chuyên nghiệp đó đã được đăng bạ.

    1. a) Hiểu các nguyên tắc chung về quy chuẩn xây dựng và luật được áp dụng tại nước sở tại.
    2. b) Chứng minh được khả năng áp dụng các nguyên tắc đó.
    3. c) Hiểu rõ các yêu cầu khác liên quan đang hiện hành tại nước sở tại.

    – Về nghĩa vụ:

    Kỹ sư chuyên nghiệp nước ngoài chỉ được thực hiện các công việc trong phạm vi lĩnh vực đã đăng bạ và phải tuân thủ:

    1. a) Quy tắc về đạo đức nghề nghiệp phù hợp với chính sách về đạo đức theo quy định của nước sở tại.
    2. b) Các luật và các qui định liên quan.

    Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Uỷ ban Giám sát Việt Nam:

    1. a) Chức năng:
    • Giúp Bộ trưởng Bộ Xây dựng tổ chức triển khai và giám sát việc thực hiện thoả thuận thừa nhận lẫn nhau về dịch vụ tư vấn kỹ thuật trong ASEAN.
  • Nghiên cứu, đề xuất việc xây dựng và hoàn thiện thể chế về quản lý hành nghề dịch vụ tư vấn kỹ thuật tại Việt Nam.

  • Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác về MRA trong tư vấn kỹ thuật theo sự uỷ quyền của Bộ Xây dựng.

  • Uỷ ban Giám sát chịu sự quản lý, chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, đồng thời chịu sự giám sát, điều phối hoạt động của ACPECC trong việc tổ chức triển khai và giám sát về thực hiện thoả thuận.

    1. b) Nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu:
    • Được Bộ Xây dựng uỷ quyền và có thẩm quyền chứng nhận về trình độ và kinh nghiệm cá nhân của kỹ sư Việt Nam mong muốn được đăng bạ là ACPE.

    • Cấp và thu hồi chứng chỉ công nhận là ACPE đối với kỹ sư Việt Nam theo sự uỷ quyền của ACPECC.

    • Tổ chức xây dựng và quản lý đăng bạ kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN theo đúng các quy định trong thoả thuận và Quy chế đánh giá.

    • Thực hiện việc nghiên cứu cơ chế, tuyên truyền phổ biến các qui định trong nước và ASEAN, đề xuất xây dựng hoàn thiện hệ thống, thể chế và thực thi các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển và quản lý có hiệu quả về hành nghề dịch vụ tư vấn kỹ thuật tại Việt Nam.

    • Một số nhiệm vụ khác.

    1. c) Trách nhiệm:
    • Đảm bảo tất cả kỹ sư được ACPECC cấp đăng bạ là ACPE tại Việt Nam phải tuân thủ đầy đủ các yêu cầu được qui định trong Thoả thuận và Quy chế đánh giá.

    • Phải đảm bảo tất cả các ACPE của Việt Nam phải chứng minh được việc tuân thủ đầy đủ các yêu cầu về phát triển nghề nghiệp liên tục (CPD) theo quy định trong Quy chế đánh giá khi nộp hồ sơ đăng bạ ACPE.

    • Những cá nhân ACPE của Việt Nam nếu vi phạm các quy định trong Thoả thuận, trong Quy chế đánh giá hoặc không tuân thủ các yêu cầu về Phát triển nghề nghiệp liên tục đều bị thu hồi chứng chỉ công nhận là ACPE và bị xoá khỏi đăng bạ ACPER theo đúng quy định Thoả thuận.

    • Yêu cầu về CPD của MC là phải đạt được tối thiểu 16 giờ trong khoảng thời gian 1 năm để xét đăng bạ.

    Hiện nay Uỷ ban Giám sát đang nghiên cứu để xây dựng CPD theo chuẩn hoá làm cơ sở cho việc xét cấp ACPE; trong thời gian từ tháng 4 – 5/2009 sẽ xem để trình ACPECC xét cấp cho một số kỹ sư Việt Nam đạt tiêu chuẩn.

    Việc đăng bạ kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN là một trong những bước thực hiện Hiệp định về Thoả thuận lẫn nhau, tạo điều kiện tốt cho các kỹ sư Việt Nam học hỏi nhằm nâng cao năng lực và kinh nghiệm để có thể hội nhập với khu vực và thế giới.

    Nguồn: Tham luận của Hoàng Thọ Vinh – Chủ tịch MC Việt Nam tại Hội thảo “Nâng cao tính chuyên nghiệp trong cung cấp dịch vụ tư vấn kỹ thuật”, tháng 3/2009

    http://www.moc.gov.vn/web/guest/trang-chi-tiet/-/tin-chi-tiet/Z2jG/86/32417/thuc-hien-dang-ba-ky-su-chuyen-nghiep-tieu-chuan-asean-la-mot-hinh-thuc-nang-cao-nang-luc-hoat-dong-tu-van-ky-thuat.html

    Chủ động đăng ký Kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN để tăng cơ hội việc làm (AEC: Phần tiếp theo)

    Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) dự kiến sẽ được thành lập vào cuối năm 2015 đang được coi là một bước ngoặt đánh dấu sự hòa nhập toàn diện các nền kinh tế Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. AEC ra đời sẽ hòa trộn nền kinh tế của 10 quốc gia thành viên thành một khối sản xuất thương mại và đầu tư, tạo ra thị trường chung của một khu vực có dân số 600 triệu người và GDP hàng năm khoảng 2.500 tỷ USD. Theo đó, bên cạnh dòng hàng hóa, dịch vụ, vốn đầu tư, vốn, nguồn lao động di chuyển tự do giữa các nước ASEAN là nguồn lao động có kỹ năng. Một thị trường lao động nói chung và một phân khúc thị trường lao động có trình độ cao, lao động có kỹ năng sẽ nhanh chóng được hình thành trong AEC. Việt Nam là một thành viên của ASEAN cho nên việc lao động di chuyển giữa các nước thành viên trong đó có Việt Nam là tất yếu và cũng là cơ hội để quá trình hội nhập và cạnh tranh trên phân khúc thị trường lao động có kỹ năng.

    Một kỹ sư muốn dịch chuyển giữa các quốc gia trong khối kinh tế ASEAN thì cần phải đăng ký với Uỷ ban Điều phối kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN (ACPECC). Việc chủ động tiếp cận và đăng ký với ACPECC sẽ giúp các bạn nắm bắt được thêm nhiều cơ hội việc làm trong 10 quốc gia Đông Nam Á.

    Vậy làm thế  nào để kỹ sư đăng ký danh sách trong ACPECC? AUM Việt Nam sẽ hướng dẫn các bạn những yêu cầu và quy trình đăng ký để trở thành Kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN (ACPE).

    Uỷ ban Điều phối kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN (ASEAN Chartered Professional Engineer Coordinating Committee – ACPECC) được thành lập như một ủy ban giám sát ở cấp khu vực và bao gồm một đại diện được bổ nhiệm từ mỗi  ban Giám sát (MC) của các nước thành viên ASEAN tham gia ACPECC. ACPECC có quyền trao và thu hồi các danh hiệu của Kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN (ACPE). Tại Việt Nam Ủy ban giám sát (MC) do Bộ Xây dựng thành lập được gọi tắt là VNMC

    Ủy ban Giám sát của Việt Nam (VNMC)

    • VNMC được Bộ Xây dựng thành lập, là một cơ quan có đủ năng lực để thay mặt Bộ Xây dựng thực thi các chức năng phát triển, xử lý và duy trì ACPER tại Việt Nam.
    • VNMC bao gồm một cán bộ lãnh đạo cấp Vụ của Bộ Xây dựng, được bổ nhiệm giữ chức Chủ tịch uỷ ban và các thành viên khác do Bộ Xây dựng bổ nhiệm theo đề cử của các cơ quan và tổ chức nghề nghiệp thích hợp. Danh sách các thành viên của VNMC được nêu tại Phụ lục 1.

    • Địa chỉ liên hệ:

    Uỷ ban Giám sát, Thư ký uỷ ban

    53 Nguyễn Du

    Hà Nội, Việt Nam

    Tel: (84) 43 9433109

    Fax: (84) 43 8227593

    e-mail: mcvietnam@moc.gov.vn

    Các yêu cầu để được đăng bạ là Kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN (ACPE)

    1. Một kỹ sư chuyên nghiệp hoặc người hành nghề đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về năng lực, kinh nghiệm thực tế
    2. Hoàn thành một chương trình đào tạo kỹ thuật được công nhận hoặc thừa nhận
    3. Đủ tư cách để hành nghề độc lập
    4. Đạt được tối thiểu 7 năm kinh nghiệm thực tế kể từ khi tốt nghiệp
    5. Có ít nhất 2 năm giữ trọng trách trong các công việc kỹ thuật quan trọng
    6. Duy trì việc Phát triển nghề nghiệp liên tục (CPD)
    7. Tuân thủ quy tắc đạo đức và quy tắc ứng xử nghề nghiệp
    8. Lưu trữ hồ sơ để phục vụ mục đích giám sát lẫn nhau

    Quy trình đăng bạ

    1. Hồ sơ xin đăng bạ phải được lập theo mẫu đã quy định tại quyết định số: 820/QĐ-BXDcủa Bộ Xây Dựng về Ban hành quy chế đánh giá đối với Kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN-Phụ lục 3 hoặc Phụ lục 4 và nộp lên VNMC. Loại giấy tờ phải nộp, phí đăng bạ lần đầu, phí gia hạn, và nơi nộp hồ sơ được ghi ở mẫu đơn.
    2. VNMC sẽ thành lập các Hội đồng đánh giá để xem xét và đánh giá hồ sơ xin đăng bạ.
    3. Những người xin đăng bạ sẽ được thông báo về quyết định của VNMC bằng văn bản.
    4. Người xin đăng bạ được chấp thuận sẽ được cấp một Chứng chỉ đăng bạ. Thời hạn đăng bạ là 1 năm kể từ ngày đăng bạ. Việc gia hạn đăng bạ phải được thực hiện hàng năm, kể từ thời điểm được cấp chứng chỉ đăng bạ lần đầu.

    Tải về: Quyết định ban hàng quy chế đánh giá đối với kỹ sư chuyên nghiệp tiêu chuẩn ASEAN

    Nguồn:

    AUM Việt Nam

    Liên kết:

    Dịch chuyển lao động trong khu vực ASEAN – Cơ hội và thách thức