10 định luật làm giàu của người Do Thái


Hãy nắm bắt những khái niệm như định luật thùng gỗ, hiệu ứng ruồi ngựa, hiệu ứng Matthew…trong danh sách này. Đây là những định luật về kinh doanh cực hữu ích được người Do Thái đúc kết từ hàng ngàn năm trước, hiện tại vẫn còn nguyên giá trị.

 

 

Bánh sẽ không tự nhiên rơi từ trên trời xuống. Bởi vậy, những điều tốt đẹp đều có nguyên do ở phía sau, nếu không có cơ hội sẽ không vô duyên vô cớ rơi vào tay bạn’ – đây là một trong số những điều tâm niệm của người Do Thái trong những bài học về làm giàu.

Chúng ta đều biết rằng người Do Thái là một dân tộc thông minh nhất thế giới. Thế nhưng, ít ai biết rằng, trong làm ăn, những con người mang dòng máu Do Thái cũng rất cừ khôi. Chẳng vậy mà giờ đây, đất nước Israel được đánh giá là một trong số những trung tâm khởi nghiệp của thế giới.

Câu chuyện về chiếc bánh ở trên chỉ là một trong số những bài học người Do Thái truyền lại cho nhau về cách làm giàu.

Hơn cả câu chuyện đó, có những định luật làm giàu mà các học giả Do Thái đã tổng kết lại và giờ đây chúng đã trở nên phổ biến. Dưới đây là 10 định luật đã được tổng kết lại từ nhiều năm trước:

1. Tư duy của Edison: Thất bại là mẹ thành công

Edison xem mỗi lần thử nghiệm thất bại là một lần thu hoạch, bởi ít nhất chúng đã chứng minh rằng nguyên liệu thử nghiệm hoặc phương pháp đó là bất khả thi.

Do đó, sợi đốt của bóng đèn đã phải trải qua hơn 6.000 cuộc thử nghiệm mới có thể thành công.

Những người Do Thái khởi nghiệp luôn thể hiện một ý chí kiên cường, cho dù gặp phải bao nhiêu lần thất bại, họ đều cho rằng những cái đó đều là trải nghiệm cần có để tiến đến thành công.

2. Hiệu ứng Matthew: Nhất định phải trở thành người dẫn đầu

Nếu muốn giữ được ưu thế trong một lĩnh vực nào đó, thì cần phải cấp tốc trở thành người đi đầu trong lĩnh vực ấy. Khi bạn trở thành người dẫn đầu, cho dù tỷ suất hoàn vốn là giống nhau, bạn cũng có thể dễ dàng thu được lợi ích lớn hơn so với những người cùng ngành nhưng yếu hơn.

Trong kỹ năng sáng nghiệp kinh doanh, một khi người Do Thái giành được ưu thế trong lĩnh vực nào đó, họ sẽ cấp tốc đột phá mạnh mẽ hơn; khi xuất hiện đối thủ lớn mạnh, họ sẽ đi theo một cách khác, tìm ra chính xác điểm yếu của đối thủ và ưu thế của bản thân.

3. Định luật dao cạo Occam: Hãy đơn giản hết mức!

Định luật dao cạo Occam cho chúng ta biết rằng: Vạn sự vạn vật nên “đơn giản hết mức” chứ không phải là đơn giản hơn

Người Do Thái thích duy trì tính đơn giản của sự việc, nắm bắt căn bản, giải quyết thực chất, không thích làm phức tạp hóa sự việc, có như vậy mới có thể giải quyết xong sự việc một cách nhanh chóng và có hiệu suất hơn.

4. Định luật đồng hồ: Một người không thể có hai người chỉ huy

Chỉ cần có một chiếc đồng hồ bạn có thể biết được bây giờ là mấy giờ. Nhưng khi sử dụng hai chiếc đồng hồ cùng một lúc, bạn lại không thể nào xác định giờ. Hai chiếc đồng hồ không thể nói cho một người biết thời gian chính xác hơn.

Trong phương pháp sáng nghiệp kinh doanh, người Do Thái cho rằng không thể cùng lúc ứng dụng hai loại quản lý khác nhau, cũng không thể cùng lúc thiết lập hai mục tiêu khác nhau.

Một người không thể để cho hai người chỉ huy cùng một lúc, mỗi người cũng không thể cùng lúc lựa chọn hai loại quan niệm giá trị khác nhau.

5. Định luật thùng gỗ: Thùng có thể đựng bao nhiêu nước là quyết định ở tấm gỗ ngắn nhất

Mỗi doanh nghiệp đều có khâu yếu kém của mình. Chính những khâu này làm doanh nghiệp có rất nhiều nguồn nhân lực nhàn rỗi thậm chí là lãng phí, không phát huy được tác dụng đáng có

Người Do Thái cho rằng mỗi một đồng vốn đều phải xoay quanh một trọng tâm, mỗi một bộ phận đều phải xoay quanh mục tiêu trọng tâm mà cố gắng. Xoay quanh một vòng tròn trọng tâm, hình thành một vòng tròn thích hợp với mình nhất.

6. Định luật rượu và nước bẩn: Kịp thời dẹp sạch phần tử tiêu cực

Một muỗng rượu đổ vào một thùng nước bẩn, bạn sẽ có được một thùng nước bẩn; Đổ một muỗng nước bẩn vào trong một thùng rượu, cái bạn nhận được vẫn là một thùng nước bẩn!

Người Do Thái không nhân nhượng đối với tổ viên hoặc những thứ phá hoại tổ chức, họ cho rằng cần phải kịp thời xử lý ngay cả trước khi những phần tử tiêu cực này bắt đầu phá hoại.

7. Hiệu ứng ruồi ngựa: Con ngựa lười biếng ra sao, chỉ cần có ruồi ngựa cắn chích cũng sẽ hăng hái tinh thần

Ngựa bị ruồi chích rồi mới có thể chạy nhanh hơn, bất kể nó là con ngựa lười biếng ra sao. Con người chúng ta cũng như vậy

Trong phương pháp sáng nghiệp kinh doanh, người Do Thái cho rằng: chỉ khi bị ai đó đuổi theo, người ta mới không dám buông lỏng, mới biết cố gắng phấn đấu. Từ góc độ này cho thấy, chúng ta nên cám ơn đối thủ cạnh tranh của mình, bởi họ chính là chuông báo tốt nhất cho ta hoàn thiện.

8. Tư duy cá bống: Không theo trào lưu, học cách suy nghĩ độc lập

Cá bống lấy con cá khỏe mạnh làm thủ lĩnh tự nhiên, cho dù hành động của con cá bống thủ lĩnh này xảy ra hỗn loạn, những con cá bống khác vẫn mù quáng chạy theo như trước.

Ngay từ nhỏ, người Do Thái đã phải học cách suy nghĩ độc lập, không mù quáng chạy theo trào lưu.

9. Tư duy Florence: Mục tiêu giống như hải đăng, đủ sáng mới có thể chỉ dẫn tàu thuyền

Mục tiêu cần phải “nhìn thấy được”, đời người không nhìn thấy được mục tiêu sẽ mất đi phương hướng tiến về trước, cho dù bạn có tràn trề tinh lực đi nữa cũng là làm việc vô ích.

Người Do Thái luôn nhấn mạnh ý nghĩa của việc định vị chính xác, mục tiêu rõ ràng, tất cả xoay quanh thực hiện mục tiêu mà tiến hành.

10. Tư duy tương quan: Không có bất cứ sự vật nào có thể tồn tại độc lập

Giữa các sự vật có sự tương tác, chúng sẽ không tồn tại độc lập.

Trong phương pháp sáng nghiệp kinh doanh, người Do Thái cho rằng sẽ không có bánh rơi từ trên trời xuống, bất cứ sự vật gì dẫu nhìn thấy là tốt đẹp thì đều có nguyên nhân của nó, không có cơ hội vô duyên vô cớ để lại cho bạn.

 

 

Theo Doanh nhân Sài gòn

Advertisements

Tỷ phú Bill Gates: Những người có thành thạo 3 kỹ năng này sẽ thành công trong thị trường việc làm tương lai


Tỷ phú Bill Gates đã nhận định rằng, có kiến thức, kỹ năng thuộc 3 lĩnh vực quan trọng này, nghề nghiệp trong năm 2018 của bạn sẽ có nhiều chuyển biến vượt bậc.

  economic_forecasting

Nếu bạn đang suy nghĩ về việc tìm kiếm công việc cho nắm mới, hãy đọc kỹ những lời khuyên của tỷ phú Bill Gates – đồng sáng lập tập đoàn Microsoft và tỷ phú giàu hàng đầu thế giới về thị trường việc làm trong tương lai.

Ông thường xuyên làm việc với những nhà sáng chế và những nhà tuyển dụng hàng đầu, đọc sách về tương lai nhân loại và tài trợ các dự án để thúc đẩy cộng đồng. Dựa vào những thông tin thu thập được, tỷ phú kết luận rằng, người có 3 kỹ năng dưới đây sẽ có tương lai việc làm tươi sáng nhất trong năm 2018: Khoa học, kỹ thuật và kinh tế… Theo ông, những người thành thạo các lĩnh vực này sẽ là “tác nhân thay đổi tất cả các tổ chức”.

 “Tôi nghĩ kiến thức cơ bản về khoa học kỹ thuật, tính toán, kinh tế sẽ rất cần thiết cho nghề nghiệp tương lai. Bạn không nhất thiết phải viết lập trình nhưng cần phải hiểu được những kỹ sư có thể hoặc không thể làm gì”, Gates nói. Bạn không cần phải là một chuyên gia thuật toán, lập trình, nhưng cần có khả năng suy nghĩ theo cách mà một chuyên gia sẽ làm.

“Cơ hội được tham gia vào một cuộc cách mạng số hiện đại và mang tới nhiều trải nghiệm thú vị cho con người chính là điều tuyệt vời nhất tôi đã làm được”, tỷ phú Bill Gates chia sẻ. Kiến thức về khoa học kỹ thuật, kinh tế sẽ là giải pháp cho nghề nghiệp tương lai của bạn.

 

HOÀI THU , THEO NHỊP SỐNG KINH TẾ

http://genk.vn/ty-phu-bill-gates-nhung-nguoi-co-thanh-thao-3-ky-nang-nay-se-thanh-cong-trong-thi-truong-viec-lam-tuong-lai-20171230090924044.chn

The Fourth Industrial Revolution – Cách Mạng Công Nghiệp Lần 4


Ebook tiếng việt : The Fourth Industrial Revolution – Cách Mạng Công Nghiệp Lần 4

The Fourth Industrial Revolution-Cuoc cach mang cong nghiep lan 4

https://nguoidentubinhduong.files.wordpress.com/2017/07/the-fourth-industrial-revolution-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-lan-4.pdf

 

Cuộc Cách mạng Công nghiệp Lần thứ tư

Klaus Schwab

Người dịch:

Đồng Bích Ngọc

Trần Thị Mỹ Anh

MỤC LỤC

Lời mở đầu 1
1. Cuộc Cách mạng Công nghiệp Lần thứ tư 4
1.1. Bối cảnh lịch sử 4
1.2. Thay đổi sâu sắc và hệ thống 6
2. Các Nhân tố Thúc đẩy 10
2.1. Các xu thế lớn 10
2.1.1. Vật lý 10
2.1.2. Kỹ thuật số 12
2.1.3. Sinh học 14
2.2. Điểm bùng phát 18
3. Tác động 20
3.1. Kinh tế 20
3.1.1. Tăng trưởng 20
3.1.2. Việc làm 24
3.1.3. Bản chất của việc làm 33
3.2. Doanh nghiệp 36
3.2.1 Kỳ vọng của khách hàng 38
3.2.2 Những sản phẩm được nâng cao chất lượngnhờ dữ liệu 40
3.2.3 Đổi mới trong hợp tác 41
3.2.4 Các mô hình điều hành mới 41
3.3 Quốc gia và toàn cầu 48
3.3.1 Các chính phủ 49
3.3.2 Các quốc gia, khu vực và thành phố 53
3.3.3 An ninh Quốc tế 58
3.4 Xã hội 67
3.4.1 Bất bình đẳng và tầng lớp trung lưu 67

 

3.4.2 Cộng đồng 69
3.5. Cá nhân 72
3.5.1. Bản sắc, Đạo lý và Đạo đức 73
3.5.2. Kết nối con người 75
3.5.3. Quản lý Thông tin Công cộng và Cá nhân 76
Con đường Phía trước 79
Lời cảm ơn 86

 

Phụ lục: Biến đổi Sâu sắc 88
1. Công Nghệ Cấy Ghép trên Cơ thể Người 89
2. Hiện diệnSố 91
3. Ánh mắt Trở thành Phương tiện Giao tiếp mới 92
4. Thiết bị đeo trên người kết nối Internet 95
5. Mô hình Điện toán Phân tán rộng khắp 97
6. Siêu Máy tính Bỏ túi 99
7. Lưu trữ cho Tất cả 103
8. Mạng lưới Vạn vật Kết nối Internet 105
9. Ngôi nhà Kết nối 109
10. Các Thành phố Thông minh 111
11. Dữ liệu Lớn cho Những Quyết định 113
12. Những Chiếc Xe Không Người lái 114
13. Trí tuệ Nhân tạo và Trình Ra Quyết định 117
14. Trí Thông minh Nhân tạo AI và các Công việc Bàn giấy 119
15. Người máy và Dịch vụ 122
16. Bitcoin và Đầu mối phân phối Blockchain 124
17. Nền Kinh tế Chia sẻ 125
18. Chính phủ và Đầu mối phân phối (Blockchain) 128
19. In và Sản xuất sử dụng công nghệ 3D 129
20. Công nghệ In 3D và Sức khỏe con người 132
21. Công nghệ in 3D và Các Sản phẩm Tiêu dùng 134
22. Con người được Thiết kế [103] 136
23. Công nghệ thần kinh Neurotechnologies [104] 138
Notes   141

10 Facts About Bitcoin Digital Payments, And Ethereum Digital Contracts


Petrygon Technologies

Of the past we have heard a lot of a unique economy which is a part of the digital revolution. We have two smart kids on the block namely Bitcoin and Ethereum which are the most sought after cryptocurrency in the digital generation. With all new cryptocurrency we have a complete new reformation in digital banking like it is decentralized.

Both Ethereum and Bitcoin are cryptography-based systems but the technology remains the same as the blockchain is the underlying technology of all crypto-technologies. Interestingly both use encryption and time-stamping and both imply currencies

Sometime we define both the Bitcoin and Ethereum in different ways as the Bitcoin is a digital currency or a cryptocurrency while Ethereum is public blockchain platform for the execution of decentralized smart contracts.

Moreover, Bitcoin was created by Satoshi Nakamoto, as open source code and released in January 2009 on the other hand Ethereum was only…

View original post 746 more words

Xe hơi cũng là một sản phẩm công nghệ !


nghia-dia-xe-oto-xe-hoi-ton-kho

Xe hơi ‘lên đời’ liên tục: thuê chạy thôi, mua làm gì

 

Cũng như điện thoại mới, xe hơi cũng cập nhật công nghệ liên tục và đời sau tân tiến hơn đời trước. Chính vì vậy mà xu hướng thuê xe thay vì mua tốn kém được nhiều người chọn lựa.

Thoát khỏi giá trị sử dụng của một phương tiện di chuyển đơn thuần, xe hơi ngày càng tích hợp công nghệ đỉnh cao. Và vì thế, người đi xe cũng không chỉ mua một phương tiện giao thông, mà còn muốn trải nghiệm sự êm ái và công nghệ đỉnh cao ấy.

Khi xe là sản phẩm công nghệ

Xu hướng sử dụng này nghe qua khá giống với một chiếc điện thoại thông minh trong thời đại bùng nổ công nghệ, khi người ta không chỉ nghe – gọi, mà còn thường xuyên thay đổi điện thoại để chạy đua công nghệ và mẫu mã.

Báo Los Angeles Times của Mỹ ví von rằng, thời nay là lúc “mối quan hệ ngắn hạn” giữa người dùng và chiếc điện thoại thông minh cũng đã thể hiện ở cách họ đối xử với xe hơi. Và thay vì mua một chiếc xe, nhiều người Mỹ hiện nay đang chuyển sang thuê mướn.

Hình thức này cho phép họ tận dụng một chiếc xe mới hoặc xe đã qua sử dụng trong một khoảng thời gian chừng ba năm mà thôi, tức tương đương giai đoạn gắn bó với điện thoại.

Tờ báo Mỹ dẫn một kết quả nghiên cứu mới đây từ công ty nghiên cứu xe hơi Edmunds (trụ sở California, Mỹ) cho thấy số lượng xe thuê tại Mỹ đã tăng rất mạnh trong vài năm trở lại đây. Từ 1,4 triệu xe năm 2009, lượng xe thuê đã tăng lên 4,3 triệu chiếc năm 2016, và đánh dấu 7 năm tăng trưởng liên tục trong thị trường này.

Song song đó, “vòng đời” của một chiếc điện thoại thông minh trong tay người dùng ngắn đi khi các tích hợp công nghệ gia tăng, thì hiện nay điều này cũng tương tự đối với xe hơi.

Trong những năm gần đây, các nhà sản xuất xe hơi bắt đầu tự gọi mình là “công ty công nghệ”, tức chuyển sang một bước nhảy vọt mới trong việc thâm nhập cuộc chiến phát minh phần mềm, phục vụ các mục tiêu cải thiện khả năng điều hướng, an toàn, cũng như các hệ thống giải trí số. Đây là những tính năng ít thấy trong nhu cầu người dùng trong giai đoạn 5 năm trước.

Karl Brauer, giám đốc xuất bản tại công ty nghiên cứu Kelly Blue Book nhận xét: “Đó là một cảm giác gia tăng không thể chối cãi, rằng cũng giống như việc một chiếc ti-vi hay máy tính hiện nay trở nên mau lỗi thời, thì những chiếc xe cũng vậy thôi”.

Ứng dụng công nghệ đã trở nên quá phổ biến đối với xe hơi, khi có đến 49 thương hiệu bao gồm cả KIA, Honda, Ferrari… hiện tích hợp ứng dụng Apple CarPlay để kết nối điện thoại iPhone với màn hình xe.

Các tài xế vì vậy có thể gọi điện, nghe nhạc trong khi vẫn giữ sự tập trung khi đi đường. Thậm chí xe giờ có hàng trăm tính năng công nghệ khác nhau phục vụ từng li từng tí trong việc dò đường, tự động tìm chỗ đậu, tự động điều chỉnh tốc độ… Các sản phẩm xe hơi được tích hợp “tiện ích khủng” vẫn tìm cách hạ được giá bán của họ để bán chạy hơn.

Thuê xe để khỏi sợ chán

Theo dự đoán của các nhà phân tích, rồi công nghệ cũng trở nên phổ biến và hạ giá thành. Điều này khiến các chủ xe đặt yêu cầu về công nghệ cao hơn, và vì thế họ cũng dễ… chán hơn.

Los Angeles Times lấy ví dụ về Nick Hammes, người vừa thuê một chiếc Ford C-Max Energi đời 2017 trong thời gian ba năm hồi tháng 6, khẳng định rằng dù rất thích thú, nhưng cũng không muốn tự trói buộc bản thân để xài một chiếc xe 2017 cho tới năm 2027 được.

“Sự phát triển công nghệ trong những chiếc xe này không hề chậm lại, và khi ấy, việc thuê một chiếc xe đồng nghĩa bớt phần mạo hiểm. Với cách này, tôi có thể xem xét tình hình trong ba năm tới như thế nào”, Hammes nói.

Thực tế, các nhà sản xuất cũng hài lòng khi người dùng muốn thuê thay vì mua, bởi dẫu sao nó cũng gia tăng lượng lưu thông hàng hóa từ hãng tới đại lý và người dùng.

Tiền thuê xe trong khi đó được tính dựa trên giá xe và sau đó kèm theo thỏa thuận thay đổi sản phẩm. Ví dụ sau hợp đồng thuê 3 năm, người ta có thể ngưng không thuê chiếc đó nữa, và chuyển sang lái thử một dòng sản phẩm mới hơn.

Đó là sự tưởng tượng đúng thực tế, vì trải nghiệm siêu xe trong khi không tốn nhiều tiền chính là động lực của xu hướng thuê xe như đã nêu. Trong năm nay, Lexus cho biết 65% doanh số của họ thuộc về hợp đồng thuê, tăng lên so với mức 61% của năm ngoái. Chỉ số này tương đương với Infiniti, BMW và Audi trong danh sách những thương hiệu có tỉ lệ xe thuê chiếm nhiều nhất.

Tình hình thực tế cho thấy ít có người đổi thương hiệu sau hợp đồng thuê, điều này cũng khiến các nhà sản xuất hài lòng vì họ có thể giữ chân khách hàng (thay vì ví dụ một người đang chạy Ford bỗng dưng chuyển qua Toyota).

Phía Lexus nói thêm rằng khi một khách hàng chọn Lexus, họ thường tiếp tục thuê Lexus nhằm đảm bảo tính liên tục trong sự phát triển công nghệ của thương hiệu hạng sang này.

Cũng theo nghiên cứu của Edmunds, những người trẻ ở Mỹ đa phần là đối tượng thuê xe. Điều này khá hợp lý vì họ có túi tiền vừa phải, lại còn “máu” trải nghiệm và thích thú với công nghệ hơn người già.

 

NHẬT ĐĂNG (theo Los Angeles Times)

Tham khảo : http://tuoitre.vn/tin/kinh-te/the-gioi-xe/20170712/xe-hoi-len-doi-lien-tuc-thue-chay-thoi-mua-lam-gi/1350133.html

 

Đọc bài viết này xong mình nghĩ ở nước ngoài người ta có suy nghĩ tiến bộ và thoải mái , cũng như biết cách tiêu dùng . Trong suy nghĩ mình cũng định sắm ô tô nhưng đọc bài này thấy xu thế thuê xe cũng là một ý hay , không phải lo lắng về chi phí nuôi xe và mất giá, ….. nhưng ở đất nước mình vẫn chưa có nhiều Services như nước ngoài , với lại thủ tục thuê và giải quyết vấn đề khi xảy ra tai nạn còn phức tạp và giá cả thuê xe còn cao , các vấn đề khác cũng chưa thật sự thuận tiện để thuê một chiếc xe .

Đây chi là ý kiến cá nhân thôi nhé.

 

 

LÃNH ĐẠO VÀ CÁC THUYẾT VỀ HÀNH VI CON NGƯỜI


Pensive Businessman Using Laptop

 

Với một nhà lãnh đạo, việc tiếp xúc, trao đổi thông tin với nhiều đối tượng khác nhau, bao gồm nhân viên, đồng nghiệp, cấp trên hay đối tác là điều không thể tránh khỏi. Đồng thời, những người này sẽ hỗ trợ đắc lực để bạn đạt được những mục tiêu của mình.

Thế nhưng để nhận được sự giúp đỡ từ những mối quan hệ đó, bạn cần phải hiểu người mà bạn đang tiếp xúc, hợp tác cũng như khuyến khích họ phát triển. Vậy, làm thế nào để có thể thúc đẩy một con người? Câu trả lời chính là bạn cần phải hiểu được “Bản chất con người” trước nhất. Tất cả mọi người đều có bản chất giống nhau, còn được biết đến với cái tên: Phẩm chất chung của nhân loại, nghĩa là, về căn bản, mọi người đều hành xử theo một nguyên tắc nhất định.

Nhu cầu là một phần quan trọng trong việc hình thành nên bản chất con người. Các giá trị khác như tôn giáo, văn hóa, phong tục tập quán có thể rất khác nhau giữa các dân tộc, quốc gia, nhưng nhìn chung, tất cả mọi người đều có một số nhu cầu căn bản. Là một nhà lãnh đạo, bạn cần phải nắm rõ những nhu cầu này của con người bởi đây có thể là những nguồn động lực có sức thúc đẩy mạnh mẽ.

a3d3f9fc954843fae108a5d4265c6f9e

THÁP NHU CẦU CỦA MASLOW

Không giống như những nhà nghiên cứu khác sống cùng thời, Abraham Maslow xây dựng học thuyết về nhu cầu con người dựa trên những người sáng tạo, họ là những người biết vận dụng tất cả tài năng, tiềm năng, và khả năng của mình trong cuộc sống (Bootzin, Loftus, Zajonc, Hall, 1983). Phương pháp của ông khác với các nhà nghiên cứu tâm lý khác khi mà họ chỉ tập trung quan sát những người có thần kinh bất ổn.

Maslow (1943) nhận thấy rằng nhu cầu của con người được sắp xếp theo một trật tự phân cấp và có thể chia thành hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu cao cấp:

  • Các nhu cầu cơ bản, liên quan đến sinh lý con người, chẳng hạn như thức ăn, nước uống, ngủ nghỉ; và yếu tố tâm lý, chẳng hạn như tình cảm, sự an toàn, và lòng tự trọng. Những nhu cầu cơ bản này cũng được gọi là “nhu cầu thiếu hụt” bởi vì nếu một cá nhân không thể đáp ứng được những nhu cầu này, thì người ấy sẽ luôn cố gắng để bù đắp cho sự thiếu hụt đó.
  • Nhu cầu cao cấp hay là nhu cầu tồn tại (nhu cầu phát triển) bao gồm sự công bằng, lòng tốt, vẻ đẹp, trật tự, sự thống nhất,… Những nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên hơn những nhu cầu bậc cao này. Ví dụ, một người thiếu thực phẩm hay nước uống thường sẽ không chú trọng nhiều tới nhu cầu về công bằng hay sắc đẹp.

Những nhu cầu này của Maslow được liệt kê theo một trật tự phân cấp hình kim tự tháp. Tháp này thể hiện rằng nhu cầu cơ bản (phần dưới cùng) phải được đáp ứng trước các nhu cầu ở bậc cao hơn:

mô hình Maslow

  • Tự nhận thức bản thân – biết chính xác bạn là ai, bạn đang làm gì và những gì bạn muốn đạt được. Đây là một trạng thái hạnh phúc
  • Được kính trọng – cảm giác thành công, được công nhận, tự tin về bản thân
  • Sở hữu và tình yêu – là thành viên trong một nhóm nào đó, có nhiều người bạn thân để tâm sự
  • An toàn – không cảm thấy các mối nguy hiểm cận kề
  • Sinh lý – thức ăn, nước uống, chỗ ở, tình dục

Lưu ý: Sau này, Maslow có bổ sung thêm các nhu cầu cao hơn vào lý thuyết của ông.

Maslow thừa nhận rằng con người mong muốn và không bao giờ ngừng phấn đấu để đạt được nhiều mục tiêu khác nhau. Những nhu cầu ở các cấp độ thấp hơn cần phải được đáp ứng một cách nhanh chóng, do đó nếu các nhu cầu này không được thỏa mãn, chúng sẽ chi phối lại toàn bộ mục tiêu của con người.

Theo Maslow, một khi các nhu cầu thấp cấp đã được thỏa mãn, các nhu cầu cao cấp sẽ trở thành động lực cho mọi hành vi của con người. Những nhu cầu ở cấp thấp hơn không được đáp ứng thường sẽ tạo nên sự bất mãn ở các nhu cầu bậc cao hơn, do đó chúng thường phải được thỏa mãn trước khi một người có thể tiến lên các bậc cao hơn trong hệ thống phân cấp.

Biết được vị trí của một người trên kim tự tháp sẽ giúp bạn xác định động lực của họ một cách hiệu quả. Ví dụ, việc tạo động lực thúc đẩy cho một người thuộc tầng lớp trung lưu đã được thỏa mãn bốn nhu cầu đầu tiên sẽ dễ dàng hơn việc tạo động lực phát triển cho một người có mức lương tối thiểu sống ở các khu ổ chuột.

Cần lưu ý rằng không ai ở một trạng thái cố định trên kim tự tháp Maslow trong suốt khoảng thời gian dài. Bởi trong khi chúng ta không ngừng phấn đấu để đi lên, thì vẫn tồn tại các lực lượng ngoài tầm kiểm soát đang cố gắng đẩy chúng ta xuống. Những người đứng ở cấp cao bị đẩy xuống trong thời gian ngắn, ví dụ như, cái chết của một người thân hay một ý tưởng không thể thực hiện được; trong khi những người ở phía dưới được đẩy lên, ví dụ như tình cờ nhận được một giải thưởng nhỏ. Do đó, mục tiêu của một nhà lãnh đạo là giúp mọi người có được những kỹ năng, kiến ​​thức và lợi ích nhằm thúc đẩy họ tiến lên những cấp bậc cao hơn trong tháp nhu cầu Maslow. Những người được đáp ứng các nhu cầu cơ bản sẽ lao động hiệu quả hơn vì họ sẽ không bị vướng bận vào những nhu cầu này và tập trung vào hiện thực hóa các mục tiêu của bản thân và tổ chức.

Chỉ trích và điểm mạnh

Lý thuyết của Maslow thường bị chỉ trích bởi không thể áp dụng trong nhiều trường hợp chẳng hạn như quân đội, cảnh sát, lính cứu hỏa,…Họ là những người sẵn sàng mạo hiểm sự an toàn của mình cho sức khỏe của người khác. Hay như cha mẹ, những người luôn hy sinh nhu cầu cơ bản của mình cho con cái. Tuy nhiên, hầu như lý thuyết nào cũng có sự sai lêch khi đi sâu vào phân tích ở mức độ cá nhân. Ngay cả lý thuyết vật lý của Newton, dù đã trở thành một định luật nổi tiếng, cũng không còn chính xác khi đi sâu vào cấp độ nguyên tử.

Một nghiên cứu gần đây cho ta thấy (Tay, Diener, 2011), con người luôn tin tưởng vào lý thuyết Maslow, và họ có xu hướng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản và nhu cầu an toàn trước khi cần đến các nhu cầu khác. Tuy nhiên, việc thỏa mãn các nhu cầu của con người lại ít liên quan tới quan điểm về hạnh phúc của mỗi cá nhân. Vì vậy, thay vì một kim tự tháp với các nhu cầu được sắp xếp theo trật tự thứ bậc, nó giống như một cái hộp với những nhu cầu cơ bản của con người nằm rải rác bên trong, và tùy vào từng tình huống hoặc môi trường khác nhau mà những nhu cầu này xuất hiện lên đầu để được bù đắp.

Tuy nhiên, lý thuyết của Maslow vẫn là một lý thuyết kinh điển bởi nó đưa ra kết quả nghiên cứu dựa trên những người có tinh thần khỏe mạnh. Hơn nữa, học thuyết này là một trong những lý thuyết đầu tiên về tâm lý con người, do đó nó không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót.

Mở rộng Kim tự tháp

Trong những năm sau này của Maslow (1971), ông tỏ ra quan tâm nhiều hơn đến các trật tự và nhu cầu cao hơn của con người, cũng như cố gắng tiếp tục phân loại chúng. Maslow đưa ra giả thuyết rằng mục tiêu cuối cùng của cuộc sống là tự khẳng định bản thân, đó là một việc hầu như không bao giờ có thể đạt được một cách tuyệt đối. Nói đúng hơn, nó là thứ mà chúng ta luôn phải cố gắng phấn đấu.

Sau đó, ông đưa ra giả thuyết rằng mục tiêu cuối cùng này sẽ không dừng lại và con người sẽ tiếp tục phát triển tới nhu cầu tự tôn bản ngã , điều này thậm chí dẫn dắt chúng ta chạm tới ngưỡng tâm linh, ví dụ như: Gandhi, Mẹ Theresa, Đạt Lai Lạt Ma, hay kể cả các nhà thơ như Robert Frost. Mức độ tự tôn bản ngã này là cách Maslow thừa nhận nhu cầu của con người về đạo đức, tính sáng tạo, lòng trắc ẩn và tính tâm linh. Nếu không có ý nghĩa tâm linh hay siêu vị kỷ/cái tôi vượt trội ấy, chúng ta sẽ chỉ đơn giản là những cỗ máy.

Sự mở rộng thêm những nhu cầu cao cấp này được thể hiện trong hình vẽ sau:

Mô hình mở rộng của Maslow

Lưu ý rằng bốn nhu cầu cao cấp (trong kim tự tháp bên trên) có thể được đáp ứng theo bất kỳ thứ tự nào, tùy thuộc vào việc cá nhân đó muốn gì hoặc tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể nào, miễn là các nhu cầu cơ bản (bốn nhu cầu phía dưới) đều được đáp ứng:

8. Nhu cầu về tự tôn bản ngã – mức độ siêu vị kỷ tập trung vào tầm nhìn trực giác, lòng vị tha, và lập trường trong nhận thức.

7. Tự khẳng định bản thân – biết chính xác bạn là ai, bạn đang làm gì, và điều gì bạn muốn đạt được. Một trạng thái hạnh phúc.

6. Tính thẩm mỹ – làm những việc không chỉ để đạt được kết quả, mà còn vì sứ mệnh tồn tại của chính bạn– bình yên trong tâm hồn, và luôn hiếu kì về cách mà mọi thứ vận hành.

5. Nhận thức – luôn trong trạng thái sẵn sàng học hỏi – học tập để hiểu biết và đóng góp thêm kiến thức.

4. Được kính trọng – cảm giác tiến bộ, được công nhận, tự tin về bản thân.

3. Sở hữu và tình yêu – cảm giác được thuộc về một nhóm, có những người bạn thân thiết để chia sẻ, tâm sự.

2. Sự an toàn – thoát khỏi những cảm giác nguy hiểm cận kề.

1. Sinh lý – thức ăn, nước uống, chỗ ở, tình dục.

Ngoài ra, cũng tương tự như trong mô hình trước đây của ông, chúng ta có thể thay đổi giữa các cấp (Maslow, 1968). Ví dụ bạn có thể trải qua những trạng thái cảm xúc đỉnh cao của việc tự khẳng định bản thân và nhu cầu về tự tôn bản ngã. Đây là những khoảnh khắc sáng tạo hoặc tâm linh của chúng ta.

Đặc điểm của những người “Tự khẳng định bản thân”

Những người đạt đến trạng thái tự khẳng định bản thân thường có các đặc điểm sau:

  • Có nhận thức tốt hơn về thực tại và cảm thấy hài lòng với hiện tại
  • Chấp nhận bản thân và bản chất của mình
  • Ít giả tạo
  • Không chỉ tập trung vào bản thân mà còn quan tâm tới các vấn đề cơ bản, những câu hỏi có tính thời đại.
  • Thích sự riêng tư và có xu hướng tách rời khỏi đám đông
  • Luôn cầu tiến và không ngừng hoàn thiện bản thân
  • Trân trọng những niềm vui dù là nhỏ nhất của cuộc sống
  • Có một tình cảm sâu sắc như ruột thịt với những người xung quanh
  • Có tính dân chủ sâu sắc, luôn công bằng
  • Có tiêu chuẩn đạo đức và luân lý cao
  • Chân phương, sáng tạo, ít bị bó buộc và luôn rạng rỡ, tươi tắn hơn so với những người khác

 VƯỢT LÊN TRÊN MÔ HÌNH CỦA MASLOW

Các nghiên cứu lý thuyết của Maslow đã trải qua giám sát thực nghiệm và cho đến ngày nay, nó vẫn khá phổ biến do tính đơn giản và dễ hiểu của mình. Đồng thời, các lý thuyết này còn đóng vai trò là điểm khởi đầu cho phong trào phát triển tiến bộ: từ một người hành động thiếu suy nghĩ hoặc luôn coi nhẹ mọi việc hoặc luôn hành động một cách máy móc được tiếp cận với một phương pháp có tính nhân văn hơn. Bên cạnh đó vẫn có rất nhiều ý kiến trái chiều về phương pháp nghiên cứu của ông khi mà Maslow đã chọn ra một số ít người mà ông cho rằng có tính “Tự khẳng định bản thân” rồi lập tức đi đến kết luận về tính “Tự khẳng định bản thân” này. Tuy nhiên, Maslow luôn nhận thức rất rõ về điều này và cho rằng nghiên cứu của ông chỉ đơn giản là một phương pháp định hướng, chứ không phải là một chân lý. Ngoài ra, ông còn hy vọng vào những nghiên cứu toàn diện hơn, phát triển trên những đóng góp ban đầu của ông.

Quả thực, sau Maslow đã có rất nhiều các nhà nghiên cứu khác tiếp tục phát triển và hoàn thiện công trình của ông, chủ yếu trong lĩnh vực lao động và tổ chức, có thể kể đến như các nghiên cứu của Herzberg, Alderfer,và McGregor.

MÔ HÌNH HERZBERG 

Mô hình Herzberg

“Các nhân tố làm trong sạch môi trường” hoặc “Những con người bất mãn” cần phải tồn tại trước khi các yếu tố tạo động lực được áp dụng trong công việc để thúc đẩy mỗi cá nhân. Nói cách khác, bạn sẽ không thể sử dụng các yếu tố thúc đẩy này vào công việc cho đến khi tất cả các nhân tố làm trong sạch môi trường được đáp ứng. Mô hình về nhu cầu của Herzberg đặc biệt đúng trong công việc. Chúng đồng thời phản ánh một số điểm khác biệt mà mọi người muốn có được từ công việc của họ, điều này trái ngược với cấp bậc về nhu cầu của Maslow khi phản ánh tất cả các nhu cầu trong cuộc sống của một con người.

Dựa trên mô hình này, Herzberg đã sáng tạo ra thuật ngữ: làm giàu thêm công việc (job enrichment) – quá trình tái cơ cấu công việc để tạo nên các động lực bằng cách đa dạng hóa các nhiệm vụ của người lao động đồng thời kiểm soát các nhiệm vụ đó. Điều này liên quan chặt chẽ tới cách thiết kế một công việc  và là sự“Mở rộng công việc” (Sự tăng số lượng các nhiệm vụ mà nhân viên đảm nhận). Lưu ý thuật ngữ “Mở rộng công việc” có nghĩa là một loạt các nhiệm vụ được thực hiện để giảm bớt sự nhàm chán, chứ không phải là dồn quá nhiều nhiệm vụ cho một người khiến họ bị quá tải.

LÝ THUYẾT X VÀ LÝ THUYẾT Y CỦA MCGREGOR

Douglas McGregor (1957) đã phát triển một quan điểm triết học của nhân loại với Thuyết X và thuyết Y – hai quan điểm đối lập về cách mọi người xem xét hành vi nhân học trong công việc và cuộc sống. McGregor cho rằng các tổ chức và những người quản lý tuân theo một trong hai cách tiếp cận sau:

Lý thuyết X:

  • Con người vốn không ưa thích công việc và sẽ né tránh nó bất cứ khi nào có thể.
  • Con người phải bị cưỡng chế, kiểm soát, chỉ đạo, hoặc đe dọa trừng phạt để khiến họ hoàn thành các mục tiêu của tổ chức.
  • Con người thích được hướng dẫn, không muốn chịu trách nhiệm, có ít hoặc không có tham vọng.
  • Trên tất cả, con người tìm kiếm sự an toàn
  • Trong một tổ chức được giả định với lý thuyết X, nhiệm vụ của việc quản lý là ép buộc và kiểm soát nhân viên.

Lý thuyết Y:

  • Công việc là điều hiển nhiên như vui chơi và nghỉ ngơi.
  • Mọi người sẽ tự điều chỉnh bản thân nếu họ cam kết với các mục tiêu (họ không hề lười biếng).
  • Cam kết với mục tiêu tạo ra lợi ích và thành tựu cho họ.
  • Mọi người học cách chấp nhận và tìm kiếm trách nhiệm.
  • Mỗi người đều sở hữu sự sáng tạo, tính khéo léo và trí tưởng tượng. Con người có khả năng vận dụng những năng lực trên để giải quyết vấn đề của tổ chức.
  • Con người luôn ẩn chứa tiềm năng.

Trong một tổ chức với những giả định lý thuyết Y, vai trò của việc quản lý là giúp phát triển tiềm năng bên trong mỗi nhân viên và giúp họ giải phóng tiềm năng để hướng tới mục tiêu chung.

Lý thuyết X là quan điểm quản lý truyền thống đã được áp dụng đối với lực lượng lao động xưa cũ. Ngày nay, hầu hết các tổ chức đều đang vận hành theo quan điểm sáng suốt của lý thuyết Y (cho dù họ có thể chưa áp dụng một cách tốt nhất). Một ông chủ có thể đang áp dụng lý thuyết X, nhưng một nhà lãnh đạo thực sự lại vận dụng linh hoạt lý thuyết Y vào tổ chức của mình.

Chú ý rằng tất cả lý thuyết của Maslow, Herzberg, và McGregor đều có mối liên hệ với nhau:

  • Lý thuyết của Herzberg là một phiên bản nhỏ của lý thuyết Maslow có nội dung tập trung vào môi trường làm việc.
  • Lý thuyết X của McGregor được hình thành dựa trên việc những người lao động đang trong cấp thấp (1-3) theo tháp nhu cầu Maslow do phương pháp quản lý tồi. Trong khi lý thuyết Y của ông áp dụng cho những nhân viên trên cấp độ 3 do phương pháp quản lý tiến bộ.
  • Lý thuyết X của McGregor cũng được hình thành dựa trên việc các công nhân buộc phải lao động trong tình trạng bất mãn và các “nhân tố làm trong sạch môi trường” của Herzberg không được đảm bảo. Trong khi thuyết Y của ông phát triển dựa trên việc các công nhân đang hài lòng hoặc có động lực thúc đẩy.

 

Featured Image -- 3492

 

 

Tham khảo: http://www.saga.vn/lanh-dao-va-cac-thuyet-ve-hanh-vi-con-nguoi~31672

 

Tháp nhu cầu Maslow


Exploring Psychology - Khám Phá Tâm Lý Học

Tháp Nhu Cầu là một trong những học thuyết nổi tiếng nhất về động lực. Phát minh bởi nhà tâm lý học Abraham Maslow, Tháp Nhu Cầu được mô tả dưới dạng kim tự tháp, các tầng nền bao gồm các nhu cầu căn bản nhất và càng lên tới đỉnh thì các nhu cầu càng phức tạp hơn.
The hierarchy of needs is one of the best-known theories of motivation. Created by psychologist Abraham Maslow, the hierarchy is often displayed as a pyramid, with the most basic needs at the bottom and more complex needs at the peak.

a3d3f9fc954843fae108a5d4265c6f9e

View original post 1,608 more words

Theo Bill Gates, có 9 loại thông minh khác nhau và nếu biết mình thuộc loại nào, bạn sẽ dễ đạt được thành công


19907_1_other_wallpapers_informative_left_vs_right_side_of_the_brain

Chúng ta thường hay nhầm tưởng rằng những người thông minh là những người có chỉ số IQ cao. Nhưng thực chất, có khả năng cảm thụ âm nhạc tốt hay có năng khiếu trong các hoạt động thể chất cũng là một loại trí thông minh. Đây là những điều mà Bill Gates đã ước mình biết được sớm hơn.

Tỷ phú Bill Gates đã xây dựng sự nghiệp của mình dựa trên thế mạnh về logic và các kỹ năng toán học. Ông cũng tự định vị bản thân là một nhà lập trình xuất sắc, và ông có sự khéo léo để giải quyết các vấn đề kỹ thuật một cách dễ dàng.

Mặt khác, ông cũng tự đánh giá bản thân có những điểm yếu ở các lĩnh vực khác, như khả năng giao tiếp không tốt.

Trong một loạt các bài đăng trên Twitter gần đây, Bill Gates chia sẻ những điều ông mong muốn được biết sớm hơn, kể từ khi mới bắt đầu xây dựng sự nghiệp.

“Trí thông minh có nhiều hình thức khác nhau”, Gates chia sẻ. “Nó không phải là một chiều, và không quá quan trọng như tôi tưởng.”

Trong những năm 1980, giáo sư tâm lý học Howard Gardner thuộc Đại học Harvard đã đề xuất một quan điểm mới về các loại hình trí thông minh của con người. Trong đó trí thông minh được biểu hiện dưới 9 hình thái, lĩnh vực khác nhau:

 

1. Trí thông minh về không gian: Dễ dàng hình dung, mô tả cảnh quan, tưởng tượng thế giới theo chiều không gian 3D.

2. Trí thông minh Tự nhiên: Nhanh chóng hiểu được cơ chế của sự sống, sinh vật và các hiện tượng thiên nhiên.

3. Trí thông minh Âm nhạc: khả năng thẩm âm tốt, nhạy cảm với nhịp điệu và âm thanh

4. Trí thông minh Logic – Toán học: nhanh nhạy với số liệu, khả năng suy luận tốt, tổng hợp thông tin thành các giả thiết và có khả năng chứng minh chúng.

5. Trí thông minh triết học: Thường có những đắn đo, suy ngẫm về các vấn đề mang tính triết học như các câu hỏi: ý nghĩa của cuộc đời là gì?

6. Trí thông minh cảm xúc: Có khả năng thấu cảm, nhận biết cảm xúc của người khác và nhanh chóng hiểu ý nghĩ của họ.

7. Trí thông minh vận động: Khả năng điều khiển vận động của cơ thể, thể hiện sự khéo léo trong các hoạt động thể chất.

8. Trí thông minh Ngôn ngữ: Khả năng dùng từ ngữ để biểu đạt tốt, dễ dàng viết văn hoặc phát biểu ý kiến.

9. Trí thông minh nội tâm: Hiểu rõ bản thân, làm chủ cảm nhận về bản thân cũng như luôn xác định được điều mình muốn.

 

Nếu như có thể đánh giá đúng trí thông minh của mình thuộc loại nào, bạn sẽ đạt được rất nhiều lợi ích trong việc phát triển bản thân hay xây dựng sự nghiệp.

Việc xác định chính xác năng khiếu của mình, phải bắt đầu bằng việc ngừng so sánh với những người xung quanh, và tìm ra môi trường làm việc phù hợp nhất đối với bản thân. Bạn cũng cần đánh giá các kỹ năng mà bạn nên tập trung trau dồi để đạt được hiệu quả cao nhất.

Trong chuỗi suy tư của mình, Bill Gates rút ra kinh nghiệm đối với bản thân ông:

“Đây là điểm cốt lõi trong thế giới quan của tôi. Nhờ việc nhận định giá trị ưu việt của bản thân ở đâu, mà tôi có thể vượt qua những thời khắc khó khăn và giữ được tình yêu với công việc. Có thể, cách này cũng sẽ hiệu quả với bạn.”

Kết thúc loạt chia sẻ ngắn về việc định vị bản thân và các loại hình trí thông minh, Bill Gates có một lưu ý mạnh mẽ muốn nhắn nhủ: “Đây là thời đại tuyệt vời để sống, tôi hy vọng bạn tận dụng tối đa thời cơ của mình.”

 

Tham khảo: http://soha.vn/theo-bill-gates-co-9-loai-thong-minh-khac-nhau-va-neu-biet-minh-thuoc-loai-nao-ban-se-de-dat-duoc-thanh-cong-20170607175843861.htm