Các Di Sản Lịch Sử – Văn Hóa Của Tỉnh Bình Dương


Tỉnh Bình Dương có điều kiện tự nhiên khá đa dạng: rừng cây, núi đá, sông suối, hồ nước và các vùng trũng của ven sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, Sông Bé tạo nên các cảnh quan đẹp với những vườn cây trái nổi tiếng như: Sầu riêng, măng cụt, bưởi… thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, xã hội và du lịch. Trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển hơn 300 năm, đã tạo nên các di sản văn hóa phong phú như: Các di tích khảo cổ, kiến trúc nghệ thuật, di tích lịch sử…Nhiều cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo như: đình, chùa, miếu, nhà thờ và đặc biệt là các công trình kiến trúc nhà cổ bằng gỗ lâu đời…Có các làng nghề truyền thống như: Sơn mài, gốm sứ, điêu khắc gỗ,…đã tạo nên các sản phẩm có giá trị nghệ thuật, văn hóa độc đáo hấp dẫn trong và ngoài nước, là điều kiện thuận lợi để khai thác phát triển ngành du lịch địa phương.

Về đặc điểm tự nhiên-xã hội

Trên bản đồ Việt Nam, tỉnh Bình Dương thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ, với diện tích tự nhiên 2.716 km2, dân số 1.995.817 người (2016), chiếm 0,83% diện tích cả nước. Phía Bắc tiếp giáp tỉnh Bình Phước, phía Đông tiếp giáp tỉnh Đồng Nai, phía Nam tiếp giáp thành phố Hồ Chí Minh và phía Tây tiếp giáp tỉnh Tây Ninh. Tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của tổ quốc, vì thế có những điều kiện thuận lợi trong quá trình phát triển đô thị và sớm tiến lên một tỉnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa. Điều kiện tự nhiên đã tạo cho tỉnh một địa thế rất thuận lợi để phát triển, có bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng và đồi núi thấp với mức chênh lệch độ cao giữa các vùng không quá lớn. Nền địa chất ổn định vững chắc, nhiều sông suối nhưng không sâu và rộng, nên rất thuận tiện cho việc phát triển các công trình giao thông và sản xuất công nghiệp. Bình Dương xưa vốn là rừng nhiệt đới, chiếm phần lớn diện tích tự nhiên, có rừng dày và rừng thứ sinh phủ kín, phân nữa còn lại là đồn điền cao su, ruộng lúa và vườn cây ăn trái. Đó là rừng thuộc hệ thống đồng bằng của miền Đông Nam Bộ, nổi tiếng giàu nhất nước về các loài cây gỗ quí. “ … rừng mang tính phong phú bậc nhất, chứa nhiều loại danh mộc và cây gỗ tốt”, “số người sống bằng nghề lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đông hơn số người sống bằng nghề nông nghiệp trồng lúa”Bình Dương được bao bọc bởi 3 sông lớn: sông Sài Gòn ở phía Tây làm ranh giới với tỉnh Tây Ninh, Sông Bé ở phần phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bình Phước và sông Đồng Nai ở phía Đông, làm ranh giới với tỉnh Đồng Nai; do đó Bình Dương dễ dàng nối kết với các cảng biển lớn ở phía Nam Tổ quốc. Với hệ thống dòng chảy trên đã tạo cho Bình Dương một hệ thống giao thông thủy rất tốt trong quá trình giao thương buôn bán và phát triển. Bình Dương có hệ thống giao thông đường bộ phát triển sớm, tương đối thuận lợi và ổn định. Có quốc lộ 13 đi Bình Phước nối vào quốc lộ 14 đi Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung, nối vào Quốc lộ 1 đi thành phố Hồ Chí Minh.

Trong địa bàn tỉnh còn có các tỉnh lộ Tân Vạn- Mỹ Phước, 742, 743, 744, 745, 746… tạo thành mạng lưới giao thông liên hoàn, thông suốt. Tạo điều kiện cho Bình Dương nối với các tỉnh bạn trong hệ thống giao thông xuyên Việt, xuyên Á trong tương lai.

Các di sản lịch sử – văn hóa của tỉnh Bình Dương

Khái niệm về di sản văn hóa: Di sản văn hoá: “Bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác…”. Di sản văn hóa là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam. Tỉnh Bình Dương, có một quá trình lịch sử phát triển hơn 300 năm, từ khi Chúa Nguyễn vào Đàng Trong phân chia địa giới hành chính, lập phủ Gia định năm 1698. Năm 1808, huyện Phước Long nâng lên thành Phủ bao gồm 4 huyện, trong đó có huyện Bình An là vùng đất Bình Dương ngày nay. Trong suốt chiều dài lịch sử, mọi tầng lớp cư dân từ nhiều miền khác nhau của đất nước ta đã hội tụ về đây, cùng cư dân bản địa chung lưng đấu cật, khai phá, xây dựng nên vùng đất Bình Dương ngày càng phát triển phồn vinh và giàu đẹp. Trong quá trình đó, người dân đã sáng tạo nên những Di sản lịch sử – văn hóa đặc sắc của vùng đất Thủ Dầu Một- Bình Dương xưa và nay. Hiện tại, tỉnh Bình Dương có khoảng 175 ngôi chùa và tịnh xá, 112 ngôi đình làng và hàng trăm cơ sở tín ngưỡng, thờ tự khác. Toàn tỉnh có 54 di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng, trong đó có 12 di tích cấp Quốc gia và 42 di tích cấp tỉnh; với loại hình phong phú đa dạng: Lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ và danh lam thắng cảnh. Đối với công tác Bảo tàng, đã sưu tầm và gìn giữ di sản văn hóa với nhiều bộ sưu tập hiện vật có giá trị cao với 18.233 tài liệu, hiện vật các loại 4 . Công tác kiểm kê di sản văn hoá phi vật thể trong năm 2015 đã được thực hiện tốt như: Lập hồ sơ về “Võ thuật Tân Khánh Bà Trà”; xây dựng đề án “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ, giai đoạn 2015-2020”; hoàn thành hồ sơ khoa học về “Nghề Sơn mài ở Bình Dương” để trình Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia. Năm 2017, đã thu hút 4,5 triệu lượt khách đến tham quan, học tập và nghiên cứu di sản lịch sử – văn hóa, đạt doanh thu 1.280 tỷ đồng.

Di sản vật chất (đình, chùa, nhà cổ, mộ cổ, danh lam thắng cảnh)

Di chỉ khảo cổ

Bình Dương có vị trí nằm giữa vùng trung du và châu thổ nên có môi trường sinh thái thuận lợi cho con người sinh sống, dọc theo các bãi bồi ven sông Đồng Nai, sông Sài gòn đã phát hiện nhiều di chỉ khảo cổ quan trọng như: Di chỉ Cù Lao Rùa, Mỹ Lộc, Dốc Chùa (Tân Uyên), di chỉ Bà Lụa ( Thủ Dầu Một), Vịnh Bà Kỳ (Bến Cát)…Trong đó di chỉ Dốc Chùa, Cù Lao Rùa được công nhận là di tích cấp quốc gia, bởi nó chứa đựng các hiện vật khảo cổ có giá trị cao của thời tiền sử, của sự phát triển đỉnh cao của trung tâm thời đại kim khí của vùng đất Bình Dương nói riêng và vùng Đông Nam Bộ nói chung. Ngoài ra, tại di chỉ Bưng Sình- Phú Chánh (Tân Uyên), đã phát hiện liên tiếp 5 chiếc trống đồng Đông Sơn, là tỉnh có số lượng trống đồng nhiều nhất (06 cái) so với các tỉnh trong khu vực Nam Bộ. Qua các di chỉ khảo cổ, có thể khẳng định “Thời tiềnsơ sử Bình Dương trải qua hơn 1.500 năm tồn tại và phát triển đã tích tụ những vết tích vật chất và tinh thần để có thể chứng minh đây là một cộng đồng cư dân bản địa có trình độ tổ chức, có các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp có tính chuyên hóa cao…”

Di sản kiến trúc nghệ thuật

Đình

Ngôi đình là trung tâm sinh hoạt của làng xã Việt Nam, có thể xem đình như là một trụ sở hành chính, nơi thờ tự, nhà văn hóa của làng, qui mô của ngôi đình, vẻ đẹp và sự sang trọng của nó cho biết sự giàu có của làng đó; địa điểm chọn xây dựng ngôi đình là nơi đẹp nhất của làng người Việt. “ Theo thống kê của đoàn khảo sát do Sở Văn hóa-Thông tin tỉnh Bình Dương tổ chức thực hiện, hiện nay trong toàn tỉnh có 112 ngôi đình…là con số đáng tin cậy vì theo thống kê của thực dân Pháp năm 1863 toàn vùng Bình Dương có 111 làng.”Bình Dương có các ngôi đình nổi tiếng như: đình Phú Long (Lái Thiêu), đình Tân An, đình Phú Cường ( Thủ Dầu Một), đình Long Hưng, đình Tân Trạch (Tân Uyên)… Nổi tiếng có đình Phú Long được xây dựng vào năm 1842, trên tổng diện tích 5.828m2, đình thờ Thần Hoàng Bồn Xứ, được ban sắc thần thời vua Tự Đức (thứ 5). Là một công trình nghệ thuật độc đáo mang đậm nét Nam Bộ. Kiến trúc đình theo lối chữ Tam, mái lợp ngói âm dương, tổng diện tích xây dựng là 1.258m2. Với phong cách trang trí mang mỹ thuật thể hiện qua loại hình tranh ghép gốm đặc sắc, là nơi có nghề gốm sứ phát triển lâu đời. Trong hai cuộc kháng chiến, đình là cơ sở hoạt động cách mạng của địa phương, đình được công nhận là di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia. Ngoài ra còn có, đình Tân An tọa lạc tại khu 1, phường Tân An, thành phố Thủ Dầu Một. Đình do dân 4 làng Tương Hiệp, Tương An, Tương Hòa và Cầu Định chung sức xây dựng vào năm 1820 để thờ Tiền Quân Cơ Nguyễn Văn Thành. Ngôi đình được xây dựng trên một khuôn viên rộng rãi với cảnh quan thiên nhiên tĩnh mịch và mái ngói rêu phong tạo nên nét cổ kính của ngôi đình. Trước đình có cây đa trăm tuổi, với bộ rễ chằng chịt cuốn lấy chiếc cổng rêu phong cũ kỹ. Về kiến trúc ngôi đình được làm toàn bằng gỗ, theo lối chữ Tam, dân gian gọi là đình ba nóc. Tất cả đều làm theo lối nhà xuyên tính, hai mái, hai chái, có 40 cột, hành lang rộng có 30 cột đúc vôi gạch; đình Tân An cũng được công nhận là di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia. Đình làng gắn liền lễ hội kỳ yên, cúng tế là dịp để nhân dân địa phương đến lễ bái cầu làng xóm bình yên, quốc gia thịnh vượng, mùa màng tươi tốt. Biểu thị tấm lòng của người dân đến người có công xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước, truyền thống uống nước nhớ nguồn. Tổ chức các trò chơi dân gian, đua ghe, đua xuồng, hát bội, văn nghệ. Lễ vật là hương hoa, trái cây, con gà, con lợn,…Nhìn chung, đình làng Bình Dương góp phần quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa, nơi sinh hoạt tinh thần phong phú của người dân Bình Dương.

Chùa

Vào những năm đầu thế kỷ XVII, khi người Việt vào khai phá vùng đất phương Nam, các tăng sĩ người Việt, người Hoa cũng theo vào truyền đạo và dựng chùa, gồm đủ các hệ phái Phật giáo Bắc tông, Nam tông và du tăng khất sĩ. Những ngôi chùa được xây đựng đầu tiên như: chùa Châu Thới (Dĩ An)-năm 1681, chùa Hưng Long (Tân Uyên)-năm 1695, chùa Hội Khánh -năm 1741, chùa Long Thọ (1756) ở Thủ Dầu Một, chùa Long Hưng (1768) ở Bến Cát… Theo số liệu điều tra của Ban Tôn giáo tỉnh ở Bình Dương có 175 cơ sở thờ tự.Trong đó chùa Hội Khánh là công trình kiến trúc bằng gỗ lớn nhất tỉnh Bình Dương, với diện tích xây dựng 1,222m2. Chùa được xây dựng năm 1741. Chùa Hội Khánh là công trình chạm trổ tinh vi, khéo léo và độc đáo. Đặc biệt có bộ tượng bằng gỗ Thập Bát La Hán và Thập Điện Minh Vương có giá trị nghệ thuật cao. Từ năm 1923-1926, cụ Nguyễn Sinh Sắc thân sinh Bác Hồ, cùng các vị Tú Cúc, Hòa thượng Từ Văn lập nên Hội Danh Dự yêu nước tại chùa, để tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước và chữa bệnh, hốt thuốc cho người dân trong vùng. Các ngôi chùa trên đất Bình Dương gắn liền gắn liền với đời sống tâm linh, văn hóa, kiến trúc, nghi lễ mang nét đặc thù giữa Phật giáo và cư dân địa phương.

Nhà cổ

Theo ghi chép trong địa chí Bình Dương xuất bản năm 1991 “trở lại quá khứ 50 năm về trước hơn phân nữa diện tích của tỉnh Bình Dương ngày nay có rừng cây và rừng thứ sinh phủ kín… rừng mang tính phong phú bậc nhất, chứa nhiều loại danh mộc và cây gỗ tốt”,… Chính những điều kiện đó, trên tỉnh Bình Dương có hàng chục ngôi nhà cổ hoàn toàn làm bằng gỗ mà không sử dụng một cây đinh nào và tồn tại trên 100 năm. “ Trên địa bàn Sông Bé có nhiều gỗ quí, nên Thủ Dầu Một ngày nay mới được coi là “Thủ Đô” của Nam Bộ về nhà cửa và chùa chiền cổ, được xây dựng từ 1 hai thế kỷ trước, bằng đủ loại danh mộc bền đẹp, theo kiểu cách thuần túy Việt Nam và chạm trổ công phu trang nhã…”. Nhất là các ngôi nhà cổ của họ Trần ở thành phố Thủ Dầu Một, trong đó nhà Trần Công Vàng được xem là cổ nhất có kết cấu, trang trí nội thất còn nguyên vẹn nhất. Tại Cù lao Bạch Đằng (Tân Uyên) có ngôi nhà ông Đỗ Cao Thứa, nhà ông Dương Văn Bảnh (xây dựng đầu thế kỷ XX)… Để giữ gìn những ngôi nhà cổ này, tỉnh Bình Dương đã lập hồ sơ xếp hạng di tích 5 ngôi nhà cổ. Nhà cổ Trần Văn Hổ (Tự Đẩu ), nhà cổ Trần Công Vàng, nhà cổ ông Nguyễn Tri Quan (TP. Thủ Dầu Một) xây dựng năm 1890, nhà cổ ông Đỗ Cao Thứa (Bạch Đằng, Tân Uyên ) xây dựng năn 1890.

Nhà cổ Trần Công Vàng được xây dựng vào năm 1892 (Nhâm Thìn), trên tổng diện tích 1.333m2, kiến trúc kiểu chữ Đinh. Nhà làm bằng các loại gỗ quí được chạm khắc tinh xảo, lắp ráp bằng hệ thống mộng, nêm chứ không dùng đinh hoặc bù lon. Phần tranh trí nội thất rất phong phú và đa dạng, theo phong cách cổ truyền của người Việt. Cách bày trí thể hiện sự đề cao việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, giáo dục đạo đức cho con cháu, khuyên chăm chỉ làm ăn, cố gắng học hành để thành người có ích cho xã hội.

Nhà cổ Trần Văn Hổ được xây dựng năm Canh Dần (1890), trên tổng diện tích 1.296m2, kiến trúc theo lối chữ đinh. Nhà được trang trí các bao lam, cửa võng, hoành phi chạm trổ tinh vi, độc đáo… có giá trị văn hóa, nghệ thuật đặc sắc.

Nhà cổ Bình Dương vẫn nối tiếp truyển thống của kiến trúc dân tộc, đa số nhà kiểu chữ đinh, được xây dựng vào những năm 90 của thế kỷ XIX. “ Trong số trên 10 ngôi nhà cổ mà chúng tôi đến tìm hiểu thì tại thị xã Thủ Dầu Một đã có 7 ngôi (xã Tân An 3 ngôi, phường Phú Cường 4 ngôi)”.Về mặt kỹ thuật, không thể không nhắc đến một nét thủ công truyền thống mà ai cũng công nhận là sự sáng tạo tài tình của người xưa, đó là kỹ thuật lắp ráp các cột, kèo, xuyên, trính,… không sử dụng đinh có thể gỡ ra ráp lại dễ dàng. Ngoài sự độc đáo về hình thức, trang trí nội thất bên trong còn mang đậm triết lý nhân sinh, giáo dục lễ giáo gia đình, mang đậm chất văn hóa Nam Bộ.

Di tích lịch sử cách mạng

Bình Dương có vị trí đặc biệt quan trọng, phía Tây và Bắc vừa tiếp giáp với vùng rừng núi Tây Ninh, Bình Phước; phía Đông và Nam tiếp giáp với khu trung tâm đô thị là thành phố Hồ Chí Minh và Biên Hòa là trung tâm quân sự đầu não của kẻ thù trước năm 1975. Với địa thế đó, trong suốt hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Bình Dương sớm hình thành các chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, các phong trào đấu tranh cách mạng, trong 9 huyện, thị, thành phố của tỉnh Bình Dương đều có các căn cứ cách mạng nổi tiếng như: chiến khu D, chiến khu Long Nguyên, Tam Giác Sắt, Thuận An Hòa…. Từ đây, hình thành những đoàn quân cách mạng tấn công kẻ thù ghi lại những chiến công vang dội, đánh dấu những giai đoạn lịch sử oai hùng của dân tộc như: Chiến thắng Phước Thành, Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Bông Trang – Nhà Đỏ,… Trong đó nổi bật có Nhà tù Phú Lợi do chế độ Ngô Đình Diệm và đế quốc Mỹ xây dựng năm 1957, với diện tích 77.082m2 để giam cầm các chiến sĩ cách mạng và những người yêu nước lúc bây giờ. Tại đây, vào ngày 1 tháng 12 năm 1958, Mỹ-Diệm đã gây ra vụ đầu độc tù nhân chính trị. Sự kiện này gây ra sự phẩn nộ trong nước và thế giới, làm dấy lên làn sóng đấu tranh của nhân dân Việt Nam giành lấy độc lập, tự do cho dân tộc. Nhà tù Phú Lợi là một chứng tích tố cáo tội ác của chiến tranh xâm lược.

Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh ở Dầu Tiếng, đây là một di tích tiêu biểu thể hiện sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Trong Bộ chỉ huy có ba đồng chí trong Bộ Chính trị: Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng và Phạm Hùng trong 5 ngày (26-30/4/1975) chỉ huy, làm việc tại đây trong thời gian chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh Lịch sử. Di tích lịch sử cách mạng là những điểm son chói lọi phản ánh sinh động quá trình đấu tranh cách mạng kiên cường của quân và dân ta, tinh thần yêu nước nồng nàn, những chiến công oanh liệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trên đất Bình Dương.

Danh lam thắng cảnh

Bình Dương, có địa hình nhấp nhô là nơi chuyển tiếp từ cao nguyên xuống đồng bằng tạo nên địa thế uyển chuyển; và có ba con sông lớn chảy qua sông Đồng Nai, Sài Gòn và Sông Bé tạo nên cảnh quan hấp dẫn trong du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng. Từ hơn thế kỷ, Bình Dương có vùng cây trái Lái Thiêu nổi tiếng khắp Nam Bộ, các thắng cảnh được xếp hạng di tích như: núi Châu Thới, núi Cậu – Lòng Hồ Dầu Tiếng. Dọc theo các dòng sông, suối lớn đang hình thành các khu du lịch sinh thái như: khu du lịch Hồ Bình An (Dĩ An), khu du lịch Thanh Cảnh (Thuận An ), khu du lịch Phương Nam (Vĩnh Phú – Thuận An), khu du lịch Hàn Tam Đẵng (Tân Định – Tân Uyên), khu du lịch Bạch Đằng (Tân Uyên). Đặc biệt, Bình Dương có khu Du lịch Đại Nam, là một công trình tôn vinh và vọng ngưỡng lịch sử – văn hóa từ xưa đến nay của đất nước Việt Nam. Với tổng diện tích giai đoạn 1 là 261ha, giai đoạn 2 là 450ha, khu Du lịch Đại Nam có chùa, thành, biển hồ, sông núi, vui chơi giải trí,… tất cả làm toát lên vẽ đẹp của một khu du lịch có tầm cỡ quốc gia và trong khu vực.

Về các làng nghề truyền thống:

Bình Dương là vùng đất có nhiều làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng tồn tại gần 200 năm; với nguồn tài nguyên phong phú như: đất cao lanh, rừng có nhiều loại gỗ quí, con người cần cù, khéo tay…đã tạo điều kiện phát triển các nghề thủ công phát triển như: Gốm sứ, sơn mài, điêu khắc gỗ, khai thác lâm sản, đóng ghe thuyền, nghề nấu mía đường, nghề ép dầu đậu phộng, nghề đục đá ong, đan lát mây tre, rèn sắt, dệt chiếu… là những nghề nổi tiếng ở tỉnh Thủ Dầu Một Bình Dương. Sản phẩm từ các nghề thủ công không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ mà còn được đem trao đổi, buôn bán với các địa phương khác trên cả nước, nhất là ở Nam kỳ lục tỉnh. Nghề làm gốm: Từ rất sớm những người dân sống trên vùng đất Bình Dương đã biết làm gốm do có nguồn nguyên liệu tại chổ, có đội ngũ thợ thủ công lành nghề. Nghề gốm không chỉ có một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của địa phương mà nó còn tạo nên việc làm và cả việc xác lập một sắc thái văn hóa mang một phong cách nghệ thuật của dòng gốm Nam bộ. Tỉnh Bình Dương có hơn 100 cơ sở gốm sứ, được coi là một trong hai trung tâm gốm sứ nổi tiếng của khu vực Đông Nam Bộ, với nhiều cơ sở gốm sứ nổi tiếng như: Gốm sứ Minh Long I, Cường Phát, Phước Dũ Long, với các làng gốm Tân Phước Khánh, Lái Thiêu, Tân Uyên,… Đặc biệt công ty gốm sứ Minh Long I đã xây dựng một trung tâm Minh Sáng Plaza, đây là một trung tâm thương mại dịch vụ gốm sứ hiện đại đầu tiên của Bình Dương, chỉ cách thành phố Hồ Chí Minh 20 km, nằm trong khuôn viên 25.000m2 , nơi đây giới thiệu 15.000 sản phẩm gốm đa dạng, phong phú về mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc mang đậm yếu tố truyền thống, đặc sắc, tiện dụng và hiện đại, các sản phẩm cao cấp: Hồn Việt, Sơn Hà Cẩm Tú, Vinh Qui Bái Tổ, Hoa Sen… Và sự ra đời của Trung tâm thương mại Minh Sáng Plaza, đã tạo cho sản phẩm gốm sứ của Bình Dương, một đẳng cấp riêng mà không sản phẩm gốm sứ trong nước có thể sánh được. Sản phẩm đã được xuất khẩu sang các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Á… Nghề mộc, điêu khắc gỗ đã đ ư ợ c cư dân người Việt ở miền Bắc, miền Trung vốn có tay nghề đã lần lượt đến Bình Dương khai thác thế mạnh ở đây là giàu gỗ quý (cẩm lai, giáng hương…) tạo nên một nghề điêu khắc gỗ nổi tiếng cho Bình Dương. Qua tài liệu, xung quanh Phú Cường có 22 cơ sở đóng thuyền, cưa gỗ, làm mộc với tên gọi là “ An Nhất thuyền” đã tạo ra các sản phẩm nổi tiếng như: Gường lèo, tủ thờ cẩn ốc, bộ salon- Louis, nhà gỗ, xây dựng đình, chùa… “Qua công trình mang dấu ấn những bàn tay tài nghệ độc đáo của lớp thợ Thủ Dầu Một.” Sau này Pháp mở trường Bá Nghệ ở Thủ Dầu Một (1901) nhằm đào tạo thợ thủ công, nghề mộc càng có điều kiện phát triển trên cơ sở tiếp thu những kỹ thuật hiện đại, kết hợp với những truyền thống vốn đã có tạo nên những sản phẩm nổi tiếng không những thị trường trong nước mà còn cả trên thị trường quốc tế. Nghề sơn mài đã sớm hình thành và phát triển ở Bình Dương, tập trung ở các làng như: Tương Bình Hiệp, Tân An và Định Hòa…. Năm 2016, làng sơn mài Tương Bình Hiệp được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Theo tài liệu từ năm 1945, Bình Dương có 40 lò gốm, 10 cơ sở sơn mài, 80 gia đình làm nghề guốc, 300 gia đình làm nghề điêu khắc. Và hiện nay Bình Dương “có 32 làng nghề (mới), 9 nghề truyền thống, 55 làng nghề truyền thống với 45.611 hộ, cơ sở tham gia 46 loại ngành nghề truyền thống, thu hút 103.182 lao động, giá trị sản lượng đạt 4.802 tỷ đồng/năm”. Nghề truyền thống Bình Dương dù gặp rất nhiều khó khăn trong cơ chế thị trường và bị sự tác động của sản xuất công nghiệp hiện nay. Nhưng qua từng giai đoạn lịch sử đã đứng vững và khẳng định được vị trí của mình trong cơ cấu kinh tế của tỉnh và đang làm tăng thêm giá trị kinh tế, bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống trên từng sản phẩm, giải quyết việc làm cho người lao động, bảo đảm một phần an sinh xã hội và bảo tồn được nghề thủ công truyền thống ra đời từ những ngày đầu khai phá của vùng đất Bình Dương. Ẩm thực (nem Lái Thiêu, bánh bì bèo Mỹ Liên, Măng cụt Lái Thiêu, bưởi Bạch Đằng, bánh tráng Phú An)

Ẩm thực:

Nghệ thuật ẩm thực của Bình Dương được thể hiện qua các món ăn mang đậm tính Nam Bộ như: Gỏi măng cụt, mít hầm, rau biền tép um, bánh bao nướng và nem Lái Thiêu, bánh tráng Phú An, bánh bèo bì Mỹ Liên, cơm thố, bánh xèo….Theo thông báo số 374/TB-TBKLVN ngày 29/8/2012 của Công ty cổ phần Kỷ lục Việt Nam gửi Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc công bố TOP đặc sản Việt Nam lần thứ I năm 2012, trong đó tỉnh Bình Dương có 02 đặc sản được lọt vào các TOP nói trên đó là: Bánh bèo bì nằm trong TOP 50 món ăn đặc sản và Măng cụt Lái Thiêu nằm trong TOP 50 trái cây đặc sản nổi tiếng Việt Nam. Ông Paul Doumer, trong thời gian cai quản sứ Đông Dương (1898-1902) đã khen trái măng cụt của Thủ Dầu Một “…là một vùng trồng cây ăn trái, có loại cây ăn trái rất ngon là trái măng cụt, cung cấp cho Sài Gòn và Chợ Lớn, tới mùa trái cây ghe thuyền tấp nập chuyên chở suốt đêm… loại trái cây đáng được nói kỹ vì nó không chỉ làm bụng dạ cồn cào mà còn rất ngon, đặc biệt là rất đẹp; đó là quả măng cụt,… Đối với ông trái măng cụt là một sự ưu ái của thiên nhiên đối với vùng nhiệt đới nắng nóng đã tạo nên một loại trái cây ngon đặc biệt mà không ở đâu sánh được “Thiên nhiên đã rất xảo diệu khi chỉ cho những vùng nóng như thiêu như đốt những trái cây ngọt ngào,…”

Di sản văn hóa tinh thần ( tín ngưỡng, lễ hội, tôn giáo, đờn ca tài tử)

Văn hóa – Nghệ thuật:

Tỉnh Bình Dương nằm trong khu vực Đông Nam Bộ, nghệ thuật biểu diễn truyền thống cũng mang những đặc trưng nổi bật của vùng đất này. Các loại hình biểu diễn nghệ thuật truyền thống có khả năng khai thác thu hút khách bao gồm: Cải lương, tuồng cổ Nam Bộ, thơ ca, hò vè, đờn ca tài tử…Đặc biệt đờn ca tài tử có quá trình hình thành và phát triển sớm trong cư dân Bình Dương. Theo số liệu điều tra của Bảo tàng năm 2009, tỉnh Bình Dương có 56 câu lạc bộ và 5 nhóm đờn ca tài tử. Loại hình nghệ thuật này hầu như có mặt trong các dịp lễ hội, các sự kiện quan trọng trong đời sống mỗi cá nhân hay trong lúc nhàn rỗi. Đờn ca tài tử Nam Bộ đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2012, và được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 12 năm 2013. Năm 2017, Bình Dương đã tổ chức thành công festival đờn ca tài tử toàn quốc lần thứ 2.

Về hoạt động lễ hội:

Trên vùng đất tỉnh Bình Dương, trong quá trình khai phá lập làng, lao động sản xuất, đấu tranh giải phóng dân tộc đã hình thành nhiều lễ hội đặc sắc như: Lễ hội cúng đình, chùa, miếu, tổ nghề, dòng họ.v.v…các lễ cúng tế là dịp cho người dân đến lễ bái cầu xóm làng bình yên, quốc gia thịnh vượng, mùa màng tươi tốt. Biểu thị tấm lòng của người dân đến với người có công xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước, truyền thống uống nước nhớ nguồn. Tổ chức các trò chơi dân gian, đua ghe, đua xuồng, hát bội, văn nghệ. Lễ vật là hương hoa, trái cây, con gà, con lợn,… Lễ hội là dịp để người dân gởi gấm ước nguyện về gia đình bình an, được mua may bán đắt, bệnh tật tiêu trừ, tai qua nạn khỏi, bảo hộ cuộc sống, việc làm…Lễ vật, biểu hiện tấm lòng thành, hoàn toàn tự nguyện, lễ hội là được xem hát tuồng, hát chặp, cải lương, hồ Quảng, múa bông, địa nàng,…Nếu chùa, miễu của người Hoa còn có tục cho vay tiền, xin lộc, đấu giá lồng đèn, đấu giá vinh dự bưng lư hương, bài vị,… Các lễ hội cúng đình, cúng chùa, cúng miếu,…đều do ban nghi lễ của cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo tổ chức, quản lý. Nghi lễ không đơn thuần phục vụ đối tượng là các vị thần thánh và người đã khuất, người còn sống, gia chủ và cư dân địa phương cũng được quan tâm. Do vậy, mỗi khi ở chùa, đình, miếu,… tổ chức lễ, cũng chính là lễ của cả làng. Mọi người cùng nhau đến để giúp các việc lớn nhỏ, xem hát…buổi lễ do vậy trở thành một lễ hội của cả làng và khu vực xung quanh. Về lễ hội gắn với di tích và cơ sở tín ngưỡng của địa phương như lễ hôi kỳ yên, lễ phật đản của đình, chùa (Hội Khánh, Châu Thới ) lễ rướt kiệu Bà của chùa Bà Thiên Hậu, miễu thờ Ông Bổn…kinh phí tổ chức đều do nhân dân tự nguyện đóng góp. Lễ hội chùa bà Thiên Hậu rằm tháng giêng hàng năm ở Thủ Dầu Một, Lái Thiêu, Búng (Thuận An) thu hút đông đảo nhân dân từ các nơi đến. Nguồn kinh phí tổ chức, thùng tiền công đức do Ban nghi lễ, Hội tương tế, quản lý và chi tiêu, nhà nước không can thiệp vào. Trong đó chính quyền địa phương vận động sử dụng quỹ công đức vào công tác từ thiện- xã hội: Nuôi dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, cấp học bổng cho học sinh nghèo hiếu học, xây nhà tình thương, bếp ăn tình thương, giúp đỡ người nghèo, trẻ mồ côi, người khuyết tật, người già neo đơn, thiên tai,…

Tình trạng bảo vệ và phát huy di sản lịch sử – văn hóa trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã nêu cụ thể về việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa: “Di sản vǎn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu vǎn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị vǎn hóa truyền thống (bác học và dân gian), vǎn hóa cách mạng, bao gồm cả vǎn hóa vật thể và phi vật thể. Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại”.Thực hiện nghị quyết trên, công tác Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã được tổ chức quản lý, bảo tồn, phổ biến tuyên truyền, giới thiệu giá trị các di sản văn hóa như: sưu tầm, khảo sát, lập hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích, bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy hiệu quả các giá trị của di tích để phục vụ cho nhiệm vụ chính trị và phục vụ cho mọi tầng lớp nhân dân tham quan, du lịch. Tỉnh Bình Dương đã đầu tư cả ngàn tỷ đồng để trùng tu, tôn tạo, chống xuống cấp các di sản lịch sử – văn hóa: Nhà cổ Trần Công Vàng, Trần Văn Hổ, Nhà tù Phú Lợi, Chùa Hội Khánh, Đình Phú Long; sưu tầm, mua hiện vật bổ sung cho di tích nhà cổ Trần Văn Hổ, di tích Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh, địa đạo Tam giác sắt (Tây Nam Bến Cát); di tích Nhà tù Phú Lợi, di tích Địa đạo Tam Giác Sắt, Sở Chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh, Chiến khu Đ. Và các di sản giao cho huyện, thị, thành phố quản lý, bảo quản như: Di tích căn cứ Vườn Trầu, Địa điểm Mỹ rãi bom B52 lần đầu tiên, Vườn cây cao su thời Pháp thuộc, di tích lịch sử Rừng Kiến An; huyện Tân Uyên có di tích chiến khu Vĩnh Lợi; Thuận An có di tích (Chiến khu Thuận An Hòa, miếu Mộc Tổ, đình An Sơn); Bến Cát có di tích Chiến thắng Bàu Bàng; Thành phố Thủ Dầu Một có (Đình Phú Cường, Nhà cổ Nguyễn Tri Quan, lò lu Đại Hưng, trường Trung cấp Mỹ thuật Bình Dương),… Hàng năm thực hiện chương trình “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” phối hợp giữa Sở Giáo dục – Đào tạo và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Các di tích được giao về cho các trường học nơi có di tích thực hiện chăm sóc, vệ sinh. Các di sản văn hóa thường xuyên đón khách tham quan, mỗi năm trung bình từ 150.000 đến 200.000 lượt khách đến tham quan, hội trại, tổ chức lễ kết nạp đoàn viên,… Xây dựng các bộ phim tư liệu về di tích: Nhà cổ Trần Công Vàng, Trần Văn Hổ, Nhà tù Phú Lợi, Chùa Hội Khánh, Đình Phú Long, Đình Tân An, Lò Lu Đại Hưng và phối hợp với phòng Du lịch sở VHTTDL đã in và phát hành tờ bản đồ Du lịch Bình Dương và tập gấp giới thiệu các di tích tiêu biểu của tỉnh Bình Dương đến với du khách trong và ngoài nước. Các di sản văn hóa như đình, chùa luôn mở cửa đón khách đến tham quan, lễ bái vào mùa lễ hội, rằm tháng giêng, lễ kỳ yên hoặc các ngày cúng lớn trong năm. Một số di tích được địa phương tổ chức các ngày lễ lớn của đất nước diễn ra tại di tích: Thuận An Hòa, đình An Sơn, Dinh tỉnh trưởng tỉnh Phước Thành, Vườn cây cao su thời Pháp thuộc, di tích vườn Trầu, địa điểm Mỹ rải bom B52, núi Cậu lòng hồ Dầu Tiếng… Một số di sản có kết nối các tuor du lịch lữ hành, có khách trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch nhiều là di tích nhà tù Phú Lợi, Lò Lu Đại Hưng, đình Tân An (TDM), nhà cổ, nhà Bảo tàng, làng nghề truyền thống.v.v… Việc xã hội hóa hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh bước đầu thực hiện đạt được một số kết quả khả quan. Nguồn kinh phí xã hội hóa chủ yếu hỗ trợ công tác trùng tu, sửa chữa nhỏ cho các di tích tôn giáo, tín ngưỡng như: đình, chùa,… và công tác tu bổ, tôn tạo chủ yếu lót gạch nền, trùng tu ngôi miếu, nơi thờ tự, nhà lễ tân, mở rộng gian chánh điện và chăm sóc cơ sở vật chất góp phần gìn giữ, tôn tạo và phát huy giá trị của di sản.

Kết luận

Di sản lịch sử – văn hóa là sản phẩm của những điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế và chính trị quá hơn 300 năm hình thành, xây dựng và phát triển của tỉnh Bình Dương. Các sản phẩm này khá đa dạng từ các di tích khảo cổ, các di tích lịch sử cách mạng, các di tích kiến trúc tôn giáo cho đến các công trình kiến trúc nhà cổ,…Di sản lịch sử- văn hóa là sản phẩm của lịch sử, nó chứa đựng những giá trị điển hình, những tinh hoa tri thức của tiền nhân. Mỗi đất nước, mỗi dân tộc, mỗi địa phương tùy theo tình hình, hoàn cảnh, đặc điểm về tự nhiên, văn hoá xã hội của mình mà tạo nên sự phong phú đa dạng của di sản lịch sử – văn hoá của mình. Do đó, việc Bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa là một nhiệm vụ quan trọng trong việc giáo dục truyền thống của địa phương, phổ biến các tri thức khoa học, tri thức sống góp phần nâng cao sự cảm thụ và nhận thức trong nhân dân.

Phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm khẳng định nét đặc trưng văn hóa riêng của Bình Dương, góp phần vào công cuộc đổi mới, phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Di sản lịch sử – văn hoá còn được xem là một tiềm năng kinh tế, nhất là phục vụ cho ngành du lịch. Kinh tế du lịch hiện nay đang chiếm một tỉ trọng ngày càng lớn trong nền kinh tế quốc dân và địa phương. Di sản lịch sử – văn hóa là sản phẩm du lịch đặc thù, gắn kết vào những tuyến du lịch hấp hẫn, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của một trong những ngành kinh tế của tỉnh. Đồng thời, từng bước làm thay đổi cơ cấu kinh tế, cộng đồng cư dân nơi có di tích và lễ hội, sẽ mang lại cho họ những lợi ích vật chất cụ thể.

Thực tế cho thấy, những di tích có lễ hội luôn mang lại những nguồn thu có hiệu quả kinh tế. Vậy, Di sản văn hóa đóng một vai trò không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế của các địa phương trong tỉnh. Bình Dương có vị trí nằm ở trung tâm của vùng Đông Nam Bộ, vùng kinh tế trọng điểm 10 phía Nam, là khu vực năng động và phát triển nhất nước. Có hệ thống giao thông kết nối thuận lợi với các tuyến giao thông quan trọng trong Vùng như đường xuyên Á từ cửa khẩu Mộc Bài, cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất (hiện tại) và Long Thành (tương lai) cùng các đô thị lớn trong vùng kinh tế trọng điểm như Biên Hòa (Đồng Nai), Vũng Tàu (Bà Rịa Vũng Tàu),…

Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội tương đối phát triển so với một số địa phương trong vùng. Môi trường đầu tư thuộc loại hấp dẫn nhất trong toàn quốc với chỉ số PCI thuộc loại cao nhất trong cả nước là một lợi thế giúp Bình Dương thuận lợi hơn trong quá trình thu hút các nhà đầu tư phát triển du lịch. Nguồn nhân lực tương đối dồi dào đồng thời so với các địa phương khác trong Vùng, Bình Dương có sức hấp dẫn lớn đối với nguồn nhân lực, đó là điều kiện tương đối thuận lợi trong quá trình phát triển kinh tế. Bình Dương là một tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa thuộc vào nhóm nhanh nhất trong Vùng, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình dịch vụ du lịch trong tương lai. Đây là điều kiện thuận lợi để khai thác phát triển các sản phẩm di sản lịch sử – văn hóa phục vụ khách tham quan du lịch.

Tài liệu tham khảo:

  1. Trần Bạch Đằng (chủ biên) (1991), Địa chí Tỉnh Sông Bé, Nxb Tổng Hợp Sông Bé
  2. Phan Thanh Đào (2004), Nhà cổ Bình Dương, Hội Văn học-nghệ thuật Bình Dương.
  3. Quyết định số 81/2007/QĐ-TTg ngày 05/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020.
  4. Sở Văn hóa- Thông tin tỉnh Bình Dương (1998), Sơ khảo về tín ngưỡng, lễ hội dân gian và truyền thống tỉnh Bình Dương (lưu hành nội bộ), XN In tỉnh Bình Dương.
  5. Quyết định số 74/2007/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 26/7/2007 về Ban hành quy chế về quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
  6. Hội KHLS Bình Dương (2008), Bình Dương danh lam cổ tự, XN in Nguyễn Minh Hoàng.
  7. Bùi Chí Hoàng (Chủ biên)(2010), Khảo cổ học Bình Dương từ tiền sử đến sơ sử, Nxb Khoa học xã hội.
  8. Quyết định số 14/2010/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 04/5/2010 về Ban hành quy định trình tự, thủ tục xét công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh BìnhDương.
  9. Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Bình Dương đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2303/QĐ-UBND ngày 15/8/2011.
  10. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ IX, nhiệm kỳ 2011-2015;
  11. Văn bản số 2675/UBND-VX ngày 12/9/2011 của UBND tỉnh Bình Dương về việc xây dựng các đề án “Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù Bình Dương” và “Đề án tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch” giai đoạn 2011 – 2015.
  12. Nghị quyết số 41/2011/NQ-HĐND của Hội đồng Nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 08/8/2011 Về quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Bình Dương đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
  13. Chương trình số 31/Ctr-TU ngày 31/10/2011 của Tỉnh ủy Bình Dương Phát triển văn hóa, thể thao, du lịch; đầu tư, xây dựng và sử dụng có hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao, du lịch tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011-2015.
  14. Kế hoạch số 862/KH-UBND ngày 06/4/2012 của UBND tỉnh về triển khai thực hiện Chương trình phát triển văn hóa, thể thao, du lịch; đầu tư, xây dựng và sử dụng có hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao, du lịch tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011-2015
  15. Quyết định số 1372/QĐ-UBND ngày 22/5/2012 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Đề án xã hội hóa hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Bình Dương đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020.
  16. Hội KHLS tỉnh Bình Dương (2015), Bình Dương 20 năm phát triển, Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương chặng đường 20 năm phát triển.
  17. Quyết định số 33/2016/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 31/8/2016 về Ban hành Quy chế Quản lý và tổ chức lễ hội trên địa bàn tỉnh BìnhDương.
  18. http://www.sovhttdl.binhduong.gov.vn, Ngành văn hóa, thể thao và du lịch Bình Dương chặng đường 20 năm phát triển, Ngày truy cập 5/8/2016.
  19. wwww.dulichbinhduong.org.vn, Du lịch sinh thái miệt vườn, Ngày truy cập 2/8/2016.
  20. http://www.baobinhduong.vn, Phát huy hiệu quả du lịch làng nghề truyền thống: Phát triển du lịch làng nghề – Lợi thế và khó khăn, Ngày truy cập 27/7/2016.
  21. Paul Doumer “ Xứ Đông Dương” (hồi ký), sách tái bản, 2016, Nxb Thế Giới.
  22. .Nguyễn Hiếu Học (2018), Dấu xưa đất Thủ, tùy bút-tiểu luận, tái bản lần thứ 3, Nxb Văn hóa- văn nghệ.

Ghi chú NguoiDenTuBinhDuong: bài viết lượt bỏ các phần ghi chú nhỏ bên dưới mỗi đoạn, quý đọc giả cần tư liệu đầy đủ xin tham khảo link bên dưới và website. Chân thành cảm ơn.

Theo : TS. Nguyễn Văn Thủy

Bài gốc : http://sugia.vn/portfolio/detail/1751/cac-di-san-lich-su-van-hoa-cua-tinh-binh-duong.html

Chú Nguyễn Văn Tùng ( Tùng Yuki) và Võ Học


Diễn viên, vệ sĩ Tùng Yuki bỏ việc, lên đường học hỏi tinh hoa võ thuật

Tạm gác lại công việc đóng phim cũng như quản lý công ty vệ sĩ cho những ngôi sao Việt Nam và quốc tế, Tùng Yuki (Nguyễn Văn Tùng) tham gia gameshow truyền hình Con đường võ học để tìm hiểu tinh hoa võ thuật Việt Nam.
Ông trùm ma túy trong phim 'Tam Giác Vàng' mong muốn tìm lại chính mình từ võ thuật
Ông trùm ma túy trong phim ‘Tam Giác Vàng’ mong muốn tìm lại chính mình từ võ thuật
Tùng Yuki (Nguyễn Văn Tùng) là gương mặt quen thuộc của khán giả truyền hình với hàng loạt vai diễn ấn tượng trong: Dốc tình, Bí mật Tam Giác Vàng, Bỗng dưng muốn khóc, Ngôi nhà hạnh phúc, Thiên đường vắng em, Chuyện tình công ty quảng cáo, Vừa đi vừa khóc… Sở hữu vẻ ngoài phong độ, ông thường được giao những vai chính diện, bởi hình ảnh đạo mạo, trí thức, nghiêm túc. Nhìn lại lịch sử phim truyền hình Việt, hầu như 90% những vai diễn cần mẫu nhân vật điềm đạm đóng vai người bố gương mẫu, doanh nhân thành đạt trên phim truyền hình Việt đều do ông đảm nhận. Có lẽ sẽ không quá lố nếu gọi vui Tùng Yuki là “ông bố quốc dân của phim truyền hình Việt”.
Diễn viên, vệ sĩ Tùng Yuki bỏ việc, lên đường học hỏi tinh hoa võ thuật - ảnh 1
Tùng Yuki là cái tên sáng giá không những trong làng diễn viên mà còn trong nghề vệ sĩ
Trước khi trở thành diễn viên, Tùng Yuki từng được biết đến là gương mặt đại diện ấn tượng cho nghề vệ sĩ Việt với hơn 20 năm trong nghề. Ông chính thức trở thành vệ sĩ chuyên nghiệp năm 1996 khi đầu quân về công ty vệ sĩ mà sau này cái tên đó cũng gắn liền với nghệ danh của ông. Ông từng làm vệ sĩ cho các ngôi sao nổi tiếng quốc tế như Lê Minh, Cổ Thiên Lạc, SNSD, Jang Dong Gun, Hoa hậu Trương Tử Lâm… và mới đây nhất là diễn viên So Ji Sub.
Nguyễn Văn Tùng có một thời gian dài tập luyện chăm chỉ ở lò võ Vịnh Xuân Quyền khi mới vào nghề, từ đó đến nay ông luôn mong mỏi “đắm chìm” trong tinh thần thượng võ của những môn phái trên đất nước Việt Nam.
Cuối cùng sau nhiều năm chờ đợi, ông đã tìm được “lý tưởng” của mình khi nhận lời mời tham gia vào chương trình Con đường võ học, chương trình truyền hình thực tế đầu tiên về võ thuật của Việt Nam. Đồng hành cùng ông trong chương trình này là “độc cô cầu bài” Muay Thái Nguyễn Trần Duy Nhất.
Diễn viên, vệ sĩ Tùng Yuki bỏ việc, lên đường học hỏi tinh hoa võ thuật - ảnh 2
Trong khi Duy Nhất tham gia học võ và giao đấu thì Tùng Yuki bằng những kinh nghiệm võ thuật của mình sẽ trực tiếp quan sát và tư vấn cho chàng trai trẻ
Nam doanh nhân 56 tuổi chia sẻ: “Khi nhận được lời mời tham gia vào hành trình Con đường võ học, tôi đã vô cùng háo hức vì nó đúng với sở thích cũng như đam mê từ bé của mình. Xuất thân từ lò võ nên việc tham gia một chương trình về võ thuật như vậy là điều mà tôi nghĩ không chỉ riêng tôi mà bất cứ võ sĩ nào cũng mong ước. Tuy nhiên, xã hội hiện tại quá nhiều bạo lực khiến bản thân người lớn tuổi như tôi khá nhiều trăn trở. Mong rằng võ thuật sẽ giúp tôi và các bạn cân bằng lại tinh thần, rèn luyện sức khỏe và bảo vệ cái yếu bằng tinh thần thượng võ”.
Xem thêm Video : Chú Tùng Yuki và Duy Nhất găp Thầy – Võ Sư Hồ Tường (TAKHADO) tại Tân Phước Khánh – Bình Dương.

TÌM HIỂU NGUỒN GỐC HẨU – LINH VẬT CỦA NGƯỜI HOA PHƯỚC KIẾN Ở BÌNH DƯƠNG


Cộng đồng người Hoa ở Bình Dương gồm 4 nhóm ngôn ngữ chính: Triều Châu,
Quảng Đông, Phước Kiến và Sùng Chính. Mỗi nhóm lại có một nét độc đáo, đặc trưng
riêng: Người Quảng Đông tự hào với điệu trống múa lân, người Sùng Chính nhộn nhịp
với điệu múa sư tử, người Triều Châu rộn ràng cùng dàn nhạc Tiều và người Phước
Kiến tự hào với điệu múa Hẩu. Hẩu là linh vật mà người Phước Kiến sùng kính, là
niềm tự hào của họ nhưng cũng là nỗi e sợ của các nhóm người Hoa khác. Nguồn gốc
của linh vật Hẩu và nghệ thuật múa lốt 1 Hẩu nằm trong tri thức của hai nhóm họ
Vương và họ Lý – hai nhóm họ trong cộng đồng người Phước Kiến, song ý kiến của
hai họ lại không giống nhau. Bài viết này thử tìm về, lý giải nguồn gốc Hẩu qua các
lăng kính khác nhau để có thể đưa ra được câu trả lời thoả đáng, toàn diện nhất.
1. Nguồn gốc Hẩu qua tên gọi Hẩu có khá nhiều tên gọi, xuất phát từ nhiều vùng khác nhau. Người Phước Kiến họ Lý gọi tên là Lân, trong khi cũng cùng là người Phước Kiến nhưng họ Vương lại gọi tên là Hẩu. Qua tỉnh Đồng Nai, cộng đồng người Phước Kiến ở đây gọi chung bằng cái tên con Càng Cúp/Càng Kít trong khi đó những nhóm còn lại, dựa vào hình dáng cái mặt tròn tựa cái nia mà gọi là con Nia. Vậy đâu mới là tên gọi chính của linh vật này?
Khu vực cư trú đầu tiên của người Hoa Phước Kiến ở Bình Dương chính là khu
vực Lò Chén, phường Chánh Nghĩa 2 . Ở đây, người Phước Kiến sống thành cộng đồng
khá ổn định với đầy đủ những thiết chế về kinh tế, văn hóa. Truyền thống văn hóa,
phong tục tập quán, nghi thức cúng kiếng của họ được bảo lưu khá tốt. Quan trọng
hơn, trong khi các nhóm khác chỉ có thể đọc tên thì nhóm họ Lý vẫn viết được tên của
linh vật này là chữ 獅 (âm Hán – Việt đọc là “Sư” – con Sư tử).
Theo tư liệu điền dã cá nhân, tên gọi Hẩu xuất phát đầu tiên từ vùng Tân Phước
Khánh (thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Tân Phước Khánh là vùng đất mà quá
trình giao lưu, tiếp biến văn hoá của người Hoa và người Việt diễn ra với tốc độ khá nhanh.
Múa lốt: theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 1992, “lốt” là xác bọc ngoài của một số động vật, là vỏ bên ngoài để che giấu con người thật. Múa lốt là hình thức múa con người mang vỏ bọc ngoài của động vật; như múa lân, sư, rồng, hẩu là hình thức múa đội lốt ….được tạo hình giống lân, sư, rồng hay hẩu 2

Xem thêm: Hội Khoa học lịch sử tỉnh Bình Dương, Huỳnh Ngọc Đáng (chủ biên) (2012), Người Hoa ở Bình Dương, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật.
(*) Giảng viên bộ môn Lý luận chính trị và Khoa học xã hội nhân văn, trường Đại học cảnh sát nhân dân.
Email: nguyenquocduyhcs@gmail.com.

Trong quá trình cộng cư cùng nhau, người Việt nhiều lần thấy con vật lạ lùng
trong lễ hội chùa ông Bổn 3 mà người Hoa gọi là Lân. Tuy nhiên Lân trong ý thức của
người Việt khác hoàn toàn với Lân này, để tránh nhầm lẫn và hình dáng của linh vật
này khá giống Hổ nên đọc trại âm thành Hẩu.
Bên cạnh đó, trong tất cả các tài liệu và từ điển đều không thấy nhắc tới tên con
vật nào là Hẩu, mặc dù hình dáng hoặc truyền thuyết có ít nhiều điểm giống. Vậy, có
thể khẳng định, trong hai tên Lân và Hẩu thì Lân là tên gọi đầu tiên, chính thống; Hẩu
là tên gọi xuất hiện sau này. Tuy Lân là tên gọi truyền thống nhưng hiện nay chỉ có
cộng đồng người Hoa Phước Kiến họ Lý sống tại khu vực Lò Chén còn gọi; Hẩu tuy là
tên gọi có sau nhưng hiện nay được dùng phổ biến hơn và có lẽ do tên gọi lạ tai, âm
đọc mang ít nhiều chất “Hoa”, lại không bị nhầm lẫn với con Lân mà người Việt gọi
nên được ưa chuộng hơn. Dần dần, tên gọi Hẩu trở thành tên chính thức mỗi khi người
ta nhắc tới con vật linh của cộng đồng người Hoa Phước Kiến và chúng tôi cũng sử
dụng tên gọi này là tên gọi chính thức trong đề tài của mình.
2. Nguồn gốc Hẩu qua truyền thuyết
Truyền thuyết về con Hẩu của họ Lý: truyền thuyết kể lại rằng Hẩu là con thú
dữ, thường xuyên quấy phá, giết hại dân lành. Biết chuyện, Thái Thượng Lão Quân 4
đã sai Thổ Địa xuống thu phục nó. Cuộc chiến đã diễn ra rất gay cấn, quyết liệt.Cuối
cùng Thổ Địa phải sử dụng hai lá bùa của Thái Thượng Lão Quân mới hàng phục
được Hẩu. Hẩu bị thu phục và trở thành linh vật hộ vệ cho cộng đồng. Dấu hiệu để biết
Hẩu đã được thu phục là cái lục lạc đeo trên cổ và hai tấm bùa, một tấm dán ở trán,
một tấm gắn dưới cằm để Hẩu không thể hả miệng cắn người (Vì vậy khi tạo hình Hẩu
không bao giờ được để Hẩu há miệng mà chỉ có hàm răng trắng xoá và hai răng nanh
dữ tợn nhô ra). Truyền thuyết này cũng được tái hiện trong một bài múa biểu diễn của
đoàn Hẩu họ Lý như một cách để bảo vệ di sản một cách sinh động, hiệu quả.
Truyền thuyết về con Hẩu của họ Vương: gắn liền với hành trình tu tiên và hàng
yêu phục quái của Huyền Thiên Thượng Đế. Truyện Bắc Du Chơn Võ kể rằng Huyền
Thiên Thượng Đế là một phần hồn của Ngọc Hoàng. Trong quá trình tu tập, phần tu đã
đắc nhưng ngũ tạng chưa được tinh sạch do ăn trái cây và uống nước suối. Diệu Lạc
Thiên Tôn bèn sai một thần tướng mổ bụng lấy bao tử và ruột ra, thế bằng một cái áo
tiên và một cái dây đai mới dứt phàm trần. Không dè, ruột ấy hóa thành con rắn, bao tử
hóa ra con rùa, hai con ấy đều thành tinh quấy nhiễu dân lành. Bắc phương Chơn Võ
trong quá trình thu phục 36 yêu quái theo lệnh Ngọc Hoàng đã thu phục hai con yêu 2 quái thành hai tùy tướng đắc lực của mình và hai con được Ngọc Hoàng phong là
Thủy (Qui) Hỏa (Xà) nhị tướng, thường gọi là Qui – Xà tướng quân. Hình dạng của
Hẩu hiện nay là cách phối hợp đầu Rùa, mình Rắn và mỗi lần tổ chức lễ hội chùa ông
Bổn, rước Huyền Thiên Thượng Đế tuần du quanh khu vực cư trú của cả cộng đồng thì
luôn có Hẩu đi trước mở đường và đây chính là tái hiện lại quá trình thu phục 36 thiên
tướng của thầy trò Huyền Thiên Thượng Đế.
Ông Bổn: Có cách giải thích, “bổn” là cách đọc trại của “bản” – là gốc, “ông Bổn” nghĩa là ông tổ của một cộng đồng, một khu vực mà người Hoa cư trú. Cũng có cách lý giải “ông Bổn” chính là Bổn Đầu Công – vị thần đứng đầu trong một cộng đồng hay một khu vực mà người Hoa cư trú. Vì vậy mỗi khu vực lại có một “ông Bổn” riêng: là Phước Đức Chánh  thần; là Châu Đạt Quan – một vị quan đời Nguyên (người Hoa Phước Kiến ở khu vực Chợ Lớn), là Tam Bảo Thái giám Định Hoà – một vị quan đời Minh (người Triều Châu, Hải Nam ở miền Tây Nam Bộ)… Ở Bình Dương, “ông Bổn” của cộng đồng người Hoa Phước Kiến là Thất phủ đại nhân – bảy ông tổ của người Phước Kiến và “ông Bổn” của người Hoa Phước Kiến họ Vương là Huyền Thiên Thượng Đế 4 Thái Thượng Lão Quân (太上老 君 ): là tôn hiệu một vị thần tiên tối cao trong Đạo giáo, là một trong ba Tam Thanh gồm: Ngọc Thanh Nguyên Thuỷ Thiên Tôn, Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn và Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn.3

Theo truyền thuyết Phật giáo Đại thừa, sư tử chúa lông vàng (kim mao sư vương) là vật cưỡi của Văn Thù Bồ Tát, theo đó, nó là linh vật hỗ trợ Phật pháp. Ở đây, Hẩu là linh vật khác với sư tử thường. Trong kho tàng linh vật nhà Phật có con Kim Tì La có hình tướng và lai lịch đáng lưu ý. Đây là con vật ngoại dạng, là dạng của rắn và cá sấu, dòng dõi của nó là con quỷ Dạ Xoa. Kim Tì La vốn hung ác, tài phép siêu việt, sau đã cải tà quy chính thành kẻ bảo hộ cho Phật. Ở Trung Quốc, theo truyện Phong Thần, Hẩu vốn là Kim Hoa Tiên, một vị tiên đã bị Từ Hàng đạo nhân (Bồ Tát Quan Âm) hóa thành con Kim Mao Hẩu để làm vật cưỡi 5 .
3. Nguồn gốc Hẩu qua hình dáng
Ngoại hình Hẩu nổi bật với khuôn mặt dữ tợn và thân mình khá dài. Ngoại hình
Hẩu được lưu truyền qua câu: “đầu Hổ, mình Rắn, chân Nai, đuôi Bò” gọi là “tứ bất
tướng”. Trải qua hàng thế kỷ, hai họ Vương và họ Lý người Phúc Kiến vẫn giữ truyền
thống múa cũng như kỹ thuật làm con Hẩu của mình.
Làm Hẩu quan trọng và khó nhất là khâu làm đầu. Để tạo ra đầu Hẩu, người
Phúc Kiến đã lấy chính nguyên liệu và kỹ thuật làm gốm để làm. Đầu tiên là nắn
khuôn, nắn cốt 6 đầu Hẩu từ đất sét. Mỗi cốt đầu Hẩu cần chừng 30kg đất sét thành
phẩm đã lọc qua tạp chất. Đất sét đó lại được trộn với thạch cao và adao, nhào thêm
một ngày để đất vừa độ dẻo. Nặn mặt Hẩu dễ mà khó. Dễ là chỉ cần tạo hình được chỗ
gồ lên của trán, hai má, mũi, chỗ lõm xuống của hai mắt và cái miệng thật rộng cùng
với hai răng nanh dữ tợn nhe ra. Khó là làm sao cũng từ một quy tắc chung đó mà mỗi
góc lại có một hình dáng riêng, mỗi con lại mang một thần thái riêng. Cốt Hẩu thực ra
là một cái khuôn âm bản. Để làm ra đầu Hẩu thực, theo cách làm truyền thống, người
ta dán lên khuôn âm nhiều lớp giấy và vải bằng hồ. Đầu Hẩu truyền thống dày khoảng
15 lớp, nặng từ 3 – 4kg.
Hẩu có đầu của Hổ nhưng có bờm như Sư tử. Trước đây bờm của Hẩu hầu hết
được tạo bằng những sợi dây chén 7 . Thân Hẩu là miếng vài dài 2,5 x 3,5m, có 3 hoặc
4 sợi dây trên lưng là dây cương. Là hóa thân của Hổ, thân Hẩu bắt buộc phải màu
vàng. Trên thân Hẩu có hai sợi dây chạy dọc hai bên mép vải (để tạo độ đằm) và hai
sợi dây chạy dọc sống lưng tượng trưng cho hai dây cương. Đuôi Hẩu được làm từ
đuôi bò phơi khô, cột vào một cái que chừng 30cm, khi múa lòn qua đầu người múa
đuôi để đuôi Hẩu lúc nào cũng nhỏng lên. Trước đây người múa đuôi phải cột xà cạp
chân để tạo hình chân Nai cho Hẩu nhưng sau này không thấy sử dụng. Nhìn tổng thể,
Theo: Huỳnh Ngọc Trảng(1997),” Nghi lễ của múa Hẩu”, Hội Khoa học và Lịch sử Việt Nam, tạp chí “Xưa và nay”, (số 45B).6 Cốt: được hiểu là cái chính, cái cốt lõi, cái khung xương để làm nên đầu Hẩu.7 Dây chén: Loại dây nỉ dùng để cột 10 chiếc chén gốm thành một xâu.53tạo hình Hẩu gợi tới thân hình dẻo dai, màu lông vàng óng cùng cái bờm dữ tướng của con Sư tử chúa lông vàng (Kim Mao sư vương).

4. Nguồn gốc Hẩu qua động tác múa
Hẩu có ba động tác múa cơ bản là: bộ múa thông thường, bộ xá và bộ lạy. Sau
một thời gian bị thất truyền, một vài năm trở lại đây, Hẩu đã có lại một vài bài múa
biểu diễn như bài múa diễn lại truyền thuyết Thổ Địa thu phục Hẩu, bài múa tái hiện
lại cảnh dân làng chiến đấu với thú dữ và bài múa “Tứ quý hưng long” để chúc phúc
trong gia đình.
Những bậc thầy về múa Hẩu đều khẳng định: Hẩu có bộ thế của Hổ. Từ cách di
chuyển, các động tác rình mồi, vồ mồi, các bộ thế múa đều học và mô phỏng các động
tác của con Hổ. Đây cũng là yêu cầu mà mỗi võ sư đặt ra cho các học trò của mình khi
dạy về các động tác múa của Hẩu. Đó là người múa Hẩu, qua từng động tác phải làm
sao toát ra được khí chất của Hổ, phát ra được thế uy trấn áp mọi sinh vật sống khác,
kể cả con người. Ở tư thế hạ tấn phải như Hổ đang trườn, ở tư thế trung tấn như Hổ
đang khoan thai bước đi và ở tư thế cao phải như Hổ đang đe dọa hoặc sắp phóng tới
vồ mồi. Muốn được như vậy thì chân của người múa bước phải “ra” thế, tay phải cầm
đầu Hẩu sao cho đầu phải hơi chúc xuống đất, do vậy tuy mặt Hẩu quét sang ngang
nhưng lúc nào cũng gườm gườm, uy dũng khác người.
Đứng trước con mồi, Hẩu hoàn toàn thể hiện mình là con thú dữ, là chúa sơn
lâm. Khi phát hiện con mồi, Hẩu không bao giờ bắt ngay mà nó lặng lẽ di chuyển, áp
sát và vờn đến khi con thịt kiệt sức nó mới khoan thai nhấm nháp chiến lợi phẩm.
Từng động tác rình, vờn, vồ; bộ thế bước tới, nhảy lùi, vươn người đều là những động
tác mô phỏng động tác của Hổ.
Trong bài bản biểu diễn của Hẩu cũng có những bài bản mô phỏng, tái hiện quá
trình con người chiến đấu với Hổ, với thú dữ. Người điều khiển dùng đao phạt dưới
chân, dùng gậy đâm vào đùi hoặc dùng ba chia đâm vào hai bên trái, phải và trên trán.
Hẩu tùy vào từng động tác mà phải nhảy lên hoặc nghiêng trái, nghiêng phải, lùi ra sau
để né tránh.Cốt tinh của Hổ, Hẩu không biết leo trèo, chỉ chơi đùa dưới đất và khi chơi đùa Hẩu cũng có những động tác như những con Hổ con đang nô giỡn. Chơi một mình, nó
ngó nghiêng, gườm gườm vạn vật như tò mò, như muốn khám phá hoặc hai con đua
tài với nhau qua những động tác lăn tròn dưới đất hoặc bốn năm con chụm lại giống
như cách một bầy Hổ con đang quần nhau trên đồng cỏ mênh mông.
5. Nguồn gốc Hẩu qua lễ hội
Hẩu là linh vật mang tính nghi lễ, chủ yếu dùng để phục vụ cho các nghi lễ,
không dùng để múa biểu diễn phục vụ vui chơi giải trí như múa Lân, múa Sư, muá
Rồng. Hẩu chỉ xuất hiện trong lễ hội Thiên Hậu Thánh Mẫu và lễ hội chùa ông Bổn
của hai họ Vương và họ Lý (nhóm Phước Kiến) cũng như chỉ gói gọn trong cộng đồng
người Hoa Phước Kiến.
Trong dịp cộ Bà Thiên Hậu (15/1 ÂL), với sự góp mặt của rất nhiều các đoàn
Lân, Sư, Rồng của các nhóm người Hoa thì đoàn Hẩu của người Phước Kiến luôn luôn
đi đầu mở đường. Theo tín ngưỡng, người Hoa Bình Dương công nhận mỗi bang có
4cốt tinh của một con vật: người Phước Kiến cốt tinh con Hổ, người Sùng Chính (Hẹ)
có cốt tinh con Chó, người Triều Châu có cốt tinh con Ngựa và người Quảng Đông có
cốt tinh con Dê. Sở dĩ Hẩu luôn luôn đi đầu mở đường bởi một mặt, Hẩu là linh vật trừ
tà, đi trước để đánh đuổi tà ma, tiễu trừ yêu quái, mở đường cho đoàn rước. Mặt khác,
Hẩu có cốt tinh con Hổ, nếu nó đi sau những linh vật của các bang khác như Lân, Sư,
Rồng thì nó sẽ “ăn thịt” hết các con kia và trong năm đó các nhóm người Hoa khác sẽ
không làm ăn được.
Trong lễ hội chùa ông Bổn họ Lý hay họ Vương, Hẩu cũng là linh vật mở đường và thêm một vị trí hộ tống ông Bổn tuần du qua khu vực cộng đồng người Phước Kiến cư trú để thanh tẩy và ban phước lành. Là thanh tẩy âm hồn tán khí hay là mô phỏng quá trình thu phục 36 thần tướng của Huyền Thiên Thượng Đế, trong cả hai lễ hội đều có hình thức lắc kiệu 8 . Người ta tin tưởng rằng, lắc kiệu là Ông đang tả xung, hữu đột, trừ yêu, diệt quái và quan trọng hơn, lắc kiệu là để Ông vui mà càng lắc Ông càng vui thì tại sao lại không lắc? Và múa Hẩu, lắc kiệu đã trở thành điểm nhấn đặc sắc tạo nên một không khí đầy cuồng nhiệt, thần bí trong đêm lễ hội.
Hẩu là linh vật dữ, ngoài người Phước Kiến, các gia đình trong các nhóm khác
không ai dám mời Hẩu tới múa trong nhà. Trong quan niệm của người Phước Kiến,
Hẩu là con vật trừ tà nên vào dịp đầu xuân năm mới, họ mời Hẩu vào nhà, xua tà khí,
đón điềm lành. Trong dịp hộ tống Thất Phủ Đại Nhân trong lễ hội Phước An miếu
ngày 16/1 của họ Lý hay lễ hội Huyền Thiên Thượng Đế ngày 24 – 27/2 của họ
Vương, Hẩu là con vật phò tá của ông Bổn, có nhiệm vụ tiễu trừ tà ma để ông Bổn ban
phước lành nên các gia đình thường mời Hẩu vào múa trong nhà và điều này cũng chỉ
diễn ra trong các gia đình nhóm Phước Kiến.
6. Nguồn gốc Hẩu qua thực tế cuộc sống
Múa Hẩu nói riêng, múa lốt nói chung không phải tự nhiên có mà nó xuất phát
từ nhu cầu thực tế của cuộc sống, ở đây là nhu cầu đấu tranh, chiến đấu với thú dữ, bảo
vệ dân làng. Trong dân gian, có rất nhiều truyền thuyết về các linh vật khác đã đề cập
đến mặt này như truyền thuyết về múa Lân, múa Sư đều là những hành động để chống
lại thú dữ ăn thịt người hay quấy phá dân làng. Ở Hẩu, tuy không rõ rệt nhưng ẩn sâu
dưới lớp vỏ văn hoá về con vật dữ được Thổ Địa thu phục hay Qui Xà tướng quân thì
cũng đều là con vật được mang ra để chống lại thú dữ. Để trấn áp lại thú dữ, người ta
phải sáng tạo ra hình dáng một con vật nhìn còn dữ dằn hơn cả loài dữ dằn nhất mà họ
biết chúa sơn lâm – Hổ. Từ trí tưởng tượng, những người nghệ nhân/lao động đã tập
hợp những nét đáng sợ nhất của những con vật đáng sợ là họ biết để tạo ra Hẩu. Việc
một linh vật là sản phẩm tập hợp nhiều bộ phận của nhiều con vật không phải là điều
lạ khi rất nhiều linh vật như Rồng là tập hợp của các đặc điểm: đầu trâu, sừng hươu,
mắt tôm, vuốt chim ưng, thân rắn, đuôi sư tử; Lân là sự kết hợp của: đầu rồng, mình
ngựa, đuôi trâu; Phụng có: đầu gà, hàm én, cổ rắn, lưng rùa, đuôi công, lông ngũ sắc…
đều là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú của người xưa và là sự kết hợp của rất
nhiều loài vật thấy trong hiện thực. Việc Hẩu có đầu Hổ, mình Rắn, đuôi Bò, chân Nai
Lắc kiệu: là “điệu múa” của những người khiêng kiệu. Mỗi một kiệu gồm có hai người khiêng (nhóm Phước Kiến họ Lý) và bốn người khiêng (nhóm Phước Kiến họ Vương); nhóm hai hoặc bốn người trên phối hợp tung kiệu lên cao, hạ kiệu xuống đất một cách nhịp nhàng.85mà dân gian thường gọi là “tứ bất tướng” càng minh chứng cho điều trên.

Người Phước Kiến đã dùng chính tình yêu với đất, tình yêu và kinh nghiệm
trong nghề gốm để tạo ra Hẩu. Mỗi một công đoạn tạo ra Hẩu, mỗi một bộ phận trên
người Hẩu đều có liên quan đến đất, đến gốm. Đầu Hẩu được tạo ra từ khuôn đất sét,
tóc Hẩu được làm từ những sợi dây (cột) chén, kỹ thuật làm Hẩu được áp dụng từ kỹ
thuật làm gốm, dụng cụ làm Hẩu cũng là những dụng cụ của nghề gốm và đuôi là hình
ảnh một góc nghi lễ hiến tế của cộng đồng làm gốm đối với vị thần bảo hộ nghề. Và
cuối cùng, khi Hẩu ra đời, được khai sinh qua nghi lễ khai quang điểm nhãn 9 , chính nó
lại quay lại bảo hộ nghề gốm, bảo vệ những con người làm ra gốm và là biểu trưng
sống động cho sự lao động cần mẫn và sự gắn bó cũng như tình yêu với đất, với gốm
của người Phước Kiến.

Tóm lại
Hẩu là linh vật có lai lịch đặc biệt và vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá
tinh thần của người Hoa Phước Kiến nói riêng, người Hoa Bình Dương nói chung. Nó
không phải là con vật có thật trong thực tế, không phải là Hổ hay Qui – Xà tướng
quân, không phải Kim Mao sư vương hay con vật dữ chuyên quấy phá dân lành nhưng
Hẩu lại chính là tất cả những con vật đó. Hẩu ra đời từ thực tế khó khăn, thử thách của
cuộc sống và tron thực tế lao động. Chính thực tế cuộc sống, vừa là nhu cầu, vừa là
người thầy tuyệt vời thúc đẩy con người sáng tạo. Đêm đêm, đoàn người mặc lốt Hẩu
nhảy múa hòa với tiếng trống, chiêng huyên náo là cách mà người xưa đánh đuổi thú
dữ mỗi khi chúng vào làng.

Khi Đạo giáo thâm nhập vào dân gian, lên khuôn các nghi lễ tín ngưỡng cũng đồng thời lên khuôn, tạo lý lịch cho nhiều nhân vật, linh vật thông qua các câu chuyện. Tùy vào điều kiện và nhu cầu mà từng cộng đồng đã tiếp nhận và kể tiếp câu chuyện sao cho phù hợp với văn hóa của mình. Những truyền thuyết thêu dệt xunh quanh tên gọi, thần tích, lai lịch của Hẩu cũng là một sự sáng tạo để tăng thêm sự ly kỳ nhưng cũng là để thể hiện sự tôn sùng đặc biệt của người Phước Kiến đối với linh vật của họ. Không những thế, người Phúc Kiến, thông qua Hẩu đã kể lại câu chuyện về cuộc sống, về những khó khăn, thử thách và bản lĩnh của họ khi đối mặt và vượt qua những khó khăn, thử thách đó. Câu chuyện về Hẩu là câu chuyện về bản lĩnh, về trí lực, về lòng can đảm của người Phúc Kiến khi đã chiến đấu, thu phục được vị chúa tể của núi rừng chỉ bằng những vũ khí thô sơ.
Tuy là loại hình nghệ thuật nặng tính nghi lễ, song múa Hẩu vẫn là một loại hình nghệ thuật. Nó không chỉ đáp ứng cho nhu cầu tâm linh mà còn đáp ứng cho nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của quần chúng nhân dân. Khi đời sống vật chất của người dân còn nhiều khó khăn, khi các loại hình văn hoá nghệ thuật đáp ứng cho đời sống tinh thần còn nghèo nàn thì ngày lễ hội hàng năm lại dường như là những món ăn tinh thần duy nhất. Múa Hẩu, với vai trò là một loại hình nghệ thuật dân gian vừa thể hiện văn hoá nghệ thuật dân gian. Đó là nghệ thuật múa mô phỏng, là việc trình diễn các động tác múa võ, là nghệ thuật sử dụng các loại nhạc cụ… Đồng thời múa Hẩu cũng lại vừa thoả mãn nhu cầu làm phong phú đời sống tinh thần của người dân. Hẩu cùng nghệ thuật múa Hẩu là sợi dây gắn kết cộng đồng; là mạch ngầm gìn giữ di sản cộng Khai quang điểm nhãn: là nghi thức “mở mắt” cho linh vật, là sự ấn chứng cho sự ra đời của Hẩu. Thực hiện nghi thức là thầy pháp và lễ vật bắt buộc phải có một con gà trống trắng mào lá. Thực hiện nghi thức, thầy pháp dùng dao, lấy một ít máu từ mào gà, hoà cùng bột chu sa, một ít nước rồi dùng hỗn hợp đó điểm lên mắt, má, miệng, thân, đuôi Hẩu.

. Tôi không thể quên được hình ảnh một cậu bé chỉ mới khoảng 3 tuổi cởi trần say
sưa đánh trống Hẩu trong một lần điền dã qua khu Lò Chén. Đó là một minh chứng
sống động cho việc giữ gìn di sản một cách “động” là việc hết sức đúng đắn. Di sản
chỉ có thể sống, được bảo vệ, duy trì bằng chính những thực hành của cộng đồng đang
nắm giữ di sản. Người Phước Kiến nói riêng, người Hoa nói chung rất hiểu điều đó
nên họ luôn cố gắng truyền lửa, truyền nhiệt huyết cho thế hệ trẻ tiếp nối. Vì thế Hẩu
cũng như nghệ thuật múa Hẩu luôn được bảo vệ, duy trì và phát triển.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hội Khoa học lịch sử tỉnh Bình Dương, TS. Huỳnh Ngọc Đáng (chủ biên), (2012),
Người Hoa ở Bình Dương, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật.
3. Huỳnh Ngọc Trảng, (1997), “Nghi lễ của múa Hẩu”, Hội Khoa học và Lịch sử Việt
Nam , tạp chí “Xưa và nay”, (số 45B).
4. Tư liệu điền dã cá nhân.

 

NGUYỄN QUỐC DUY(*)

Tham khảo:

http://sugia.vn/portfolio/detail/1696/tim-hieu-nguon-gc-hau-linh-vat-cua-nguoi-hoa-phuoc-kien-o-binh-duong.html

http://sugia.vn//assets/file/lich-su-viet-nam/Ngu%E1%BB%93n%20g%E1%BB%91c%20H%E1%BA%A9u.pdf

 

Tìm hiểu thời kỳ Vàng Son của Làng Nghề Sơn Mài truyền thồng Tương Bình Hiệp- Bình Dương


Văn minh lúa nước Việt Nam đã sản sinh ra làng và văn hóa làng. Từ sự tụ cư,
trồng lúa hoa màu đã giúp người dân ổn định cuộc sống. Tranh thủ những lúc nông
nhàn, họ làm ra những sản phẩm phục vụ cho chính đời sống sinh hoạt của mình
bằng bộ óc sáng tạo và đôi tay khéo léo của mình, lâu dần nhu cầu sử dụng tăng
cao, cần phải có một lực lượng chuyên môn hóa cao tập trung sản xuất, do đó họ
tách khỏi công việc làm nông để hình thành nên nghề mới- nghề thủ công. Ban đầu
sản xuất ra những dụng cụ sinh hoạt và lao động nông nghiệp thiết yếu hàng ngày
với tính chất tự sản tự tiêu. Dần dần các sản phẩm được đem ra ở chợ làng bến
sông. Xa hơn chút nữa là ra khỏi khu vực cư trú để trở thành sản vật trao đổi với
giá trị tương ứng rồi tiến bước dài nữa thành thương phẩm bán buôn đi khắp nơi.
Trải qua thời gian dài số lượng người tham gia sản xuất ngày càng đông tạo nên
một làng chuyên làm nghề.

Bình Dương một vùng đất trù phú nằm ở miền Đông Nam Bộ, có được vị trí
địa lý thuận lợi, thiên nhiên ưu đãi, thêm dân cư quy tụ đông từ miền Trung, miền
Bắc vào đã giúp cho nơi đây hình thành nhiều nghề nổi danh như gốm sứ, sơn mài,
điêu khắc. Trong đó có sự xác lập của làng nghề sơn mài truyền thống Tương Bình
Hiệp đã tồn tại hàng trăm năm và từng trong giai đoạn cực thịnh vàng son.

1.1 Tiền đề ra đời nghề truyền thống
Sự tụ cư, truyền thống lao động. Bình Dương xưa kia là vùng đất hoang vu,
rừng rậm hàng ngàn rặm, mới chỉ có một vài dân tộc ít người đến sinh sống như
Stiêng, Mạ, Mnông, Khơme. Họ chỉ có “số dân ít ỏi, vừa có kỹ thuật sản xuất thấp
kém, họ sống chủ yếu nhờ vào đốn chặt cây rừng lập thành nương rẫy tỉa lúa, theo
phương thức du canh du cư, kết hợp hái lượm và săn bắt thú rừng, dựa vào thiên
nhiên, sống rải rác đây đó theo từng buôn sóc cách xa nhau, do đó một vài vùng
đất cao ở bìa rừng và một số gò đồi được vỡ hoang trồng trọt, đại bộ phận đất đai
còn lại đều là rừng rậm, cỏ dày, chưa được khai phá” 2 . Tuy nhiên đến cuối thế kỷ
XVI, đầu thế kỷ XVII lớp cư dân người Việt từ miền Bắc, miền Trung phiêu tán về
vùng Đông Nam bộ, trong đó có địa bàn Bình Dương tìm vùng đất mới để lập
nghiệp đã khiến cho vùng đất này trở nên nhộn nhịp, đông đúc hơn bao giờ hết.

Họ 1 Học viên cao học, Khoa Lịch sử, Trường Đại học KHXH&NV, TP.HCM. Nơi công tác: Trường TC Mỹ thuật – Văn hóa Bình Dương, địa chỉ email: andyphuong130@gmail.com
2 Huỳnh Lứa, Vài nét về tiến trình khai phá vùng đất Bình Dương trong các thế kỷ XVII-XVIII và nửa đầu thế kỷ  XIX, Tạp chí Khoa học lịch sử Bình Dương, số 12/2005, tr.4bao gồm nhiều thành phần xã hội khác nhau và lìa bỏ quê hương với nhiều nguyên
nhân khác nhau. Ở Thuận Hóa mấy năm mất mùa đói kém, nhà nước phải liên tục
xuất lúa kho chNn cấp cho dân đói, còn binh sĩ và nhân dân ly tán và sinh sống
hoang mang, lưng chừng. Chính vì nghèo đói khổ sở mà những người dân nghèo
miền Thuận Quảng phải rời bỏ quê hương, đi tìm vùng đất mới tìm kế sinh nhai.
Vùng đất Đồng Nai- Gia Định trong đó có vùng đất Bình Dương ngày nay, lúc này
đang là vùng đất gần như hoang hóa, màu mỡ phì nhiêu không có người cai quản
nên thu hút nhiều tầng lớp, thành phần dân cư. Những người nông dân, thợ thủ
công, dân nghèo, thầy lang, thầy đồ nghèo, người trốn tránh binh dịch, sưu thuế, tội
phạm vượt ngục, binh lính đào ngũ, rã ngũ đã kéo vào phương Nam- vùng đất
Đông Nam Bộ. Có lẽ ngay từ năm tháng đầu tiên, Bình Dương là một trong những
nơi dừng chân của đoàn quân di cư người Việt cùng với các địa bàn khác như Mô
Xoài, Cù Lao Phố, Bến Nghé. Bởi ngày ấy dân di cư thường theo những cửa biển,
con sông để tìm những vùng đất định cư. Và Bình Dương, đặc biệt là vùng chung
quanh thị xã Thủ Dầu Một, trong đó có làng Tương Bình Hiệp là vùng giáp sông
Đồng Nai, sông Sài Gòn là những nơi định cư lý tưởng thuở đầu khai phá. Trong
việc khai phá vùng đất mới, trồng lúa và trồng cây ăn trái là nghề chính bởi vì ở
đây có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi. Bên cạnh đó, lưu dân nơi đây còn làm thêm
nhiều nghề khác nữa như buôn bán, đánh bắt cá, săn bắt thú rừng, khai thác gỗ.

Ngoài cư dân người Việt vùng Thuận Quảng vào đây khai phá còn có một
lực lượng người Hoa bất phục triều đình nhà Thanh những thập kỷ cuối thế kỷ XIX
chạy sang nước ta lánh nạn cũng được chúa Nguyễn cho phép vào vùng đất này
sinh sống. Người Hoa gốc ở các tỉnh ven biển Đông Nam Trung Quốc nên thế
mạnh làm nông nghiệp là không cao nên khi đến đây họ kinh doanh buôn bán và
làm nghề thủ công như làm đồ gốm là chủ yếu. Họ đã …khai phá đất hoang, lập
chợ phố thương mãi, giao thông với người Tàu, người Nhật Bổn, Tây Dương,
thuyền buôn tụ tập đông đảo…Bình Dương là một vùng đất mới chỉ hình thành cách đây hơn 300 năm,chính thức bằng sự kiện Thống suất Chưởng cơ Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh từ thuở mang gươm đi mở cõi 3 năm 1698 tại vùng đất Đồng Nai- Gia Định. Trong đó vùng Tương An (Tương Bình Hiệp ngày nay) có sự nhập cư từ miền ngoài vào
(giai đoạn 1698-1720) và nghề làm sơn cũng được hình thành trong khoảng thời
gian này. Tương truyền, những cư dân xa xứ này đến vùng đất mới nhưng nơi chôn
rau cắt rốn vẫn là nỗi nhớ của họ. Việc mưu sinh trên đất mới tạm ổn định, trong
những thời gian rảnh rỗi việc đồng áng, những người lưu dân này đã thực hiện
những bức sơn mài đầu tiên để tưởng nhớ đến quê cha đất tổ, đó chính là những
bức tranh vẽ cảnh đất nước, rặng tre làng, hàng cau, đình làng. Tương Bình Hiệp
vốn là một làng nhỏ làm tranh cổ ở huyện Bình An, từ việc làm những bức sơn mài
3 Thơ Huỳnh Văn Nghệ, Nhớ Bắcđầu tiên đó đã được những người giàu có trong vùng biết đến và họ đã đặt mua những bức tranh tương tự đem về trưng bày trong nhà, từ đó mà hình thành nên trung tâm sơn mài của Bình Dương.

Tài nguyên thiên nhiên tại tỉnh Sông Bé (cũ) bao gồm: đất, rừng bạt ngàn với
nhiều loại gỗ quý như cNm lai, giáng hương…cung cấp nguồn nguyên liệu dồi dào
cho nghề mộc gia dụng, nghề chạm khắc gỗ và sơn mài- những nghề có quan hệ
mật thiết với nhau cũng chính là một yếu tố thúc đNy khả năng phát triển ngành
nghề truyền thống.

Vị trí địa lý. Làng Tương Bình Hiệp nằm kế con sông Sài Gòn thơ mộng trù
phú, thuận tiện cho việc di chuyển trên sông. Ngày xưa khi phương tiện đi lại chưa
phong phú như bây giờ, đường thủy chính là cách vận chuyển đa năng, hợp lý với
số lượng chuyên chở cực kỳ lớn. Tương Bình Hiệp cách quốc lộ 13 chưa đến 1km,
đây là con đường huyết mạch nối liền các tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh, Bình
Dương, Bình Phước, trung chuyển hàng hóa, giao lưu kinh tế giữa các vùng , xa
hơn nữa là gần biên giới Campuchia giúp cho việc nhập khNu loại sơn Nam Vang
của nước bạn đem về sản xuất các sản phNm sơn mài.. Làng cách trung tâm tỉnh lỵ
Thủ Dầu Một chưa đến 4km, đây là nơi tập trung sôi động các hoạt động kinh tế,
chính trị, xã hội…

Trường Mỹ thuật bản xứ Thủ Dầu Một. Thuở sơ khai nghề sơn mài chỉ là
nghề sơn, mang tính chất cha truyền con nối. Lúc đầu nghề sơn chỉ là một bộ phận
phụ thuộc của nghề mộc, được dùng sơn phủ bên ngoài để tăng độ bền của vật
dụng. Về sau yếu tố thẫm mỹ được chú trọng và nâng cao, nghề sơn mới tách dần
khỏi nghề mộc và trở thành nghề độc lập mang tính chuyên môn cao 4 . Nhưng từ
khi Thực dân Pháp qua xâm lược và nhìn thấy được nguồn tài nguyên phong phú,
tay nghề của những thợ ở đất Thủ rất điêu luyện nên chúng đã cho thành lập một
trường nhiều nghề vào năm 1901 để đào tạo ra một đội ngũ lành nghề nhằm phục
vụ cho những mục đích mang tính thực dụng của “chính quốc”. Đó là trường Mỹ
thuật bản xứ Thủ Dầu Một (École d’art indigène de Thu Dau Mot) chuyên dạy vẽ,
mộc, điêu khắc, chạm trổ gỗ để có điều kiện phát triển các sản phẩm hàng hóa về
sơn mài và đồ gia dụng trang trí nội thất đem xuất khẩu. Mục tiêu xa xôi khi Pháp
mở bất cứ ngôi trường nào ở Việt Nam hầu như để là“dựng chiêu bài “khai hóa”,
tuyên truyền che giấu âm mưu xâm lược. Mục tiêu gần gũi, thiết thực là sản xuất,
cung cấp tại chỗ cho bọn cầm quyền những hàng tiêu dùng và trang trí nội thất” 5 .
Thạc sĩ-họa sĩ Nguyễn Văn Minh, Đặc điểm hình thành nghề sơn mài Bình Dương , Tham luận Bảo tồn và phát huy nghệ thuật sơn mài Bình Dương, Sở VH-TT-DL Bình Dương, 2011, tr 285 Thái Kim Điền,Truyền thống sơn mài Bình Dương và định hướng trong xu thế hội nhập, Tạp chí Khoa học lịch sử Bình Dương, số 5, tháng 1/2007, tr. 26
4Đây chính là một trong những yếu tố hết sức quan trọng cho Tương Bình Hiệp
phát triển mạnh mẽ sơn mài về sau do đội ngũ nghệ nhân và thợ lành nghề có điều
kiện để tiếp xúc và học tập tại trường Bá Nghệ. Ngôi trường này kết hợp dạy tri
thức nghề sơn truyền thống với kiến thức mỹ thuật kỹ thuật hiện đại của châu Âu,
mang đến những màu sắc mới lạ và kiểu dáng đẳng cấp cao của sơn mài. “Trải qua
nhiều giai đoạn trường đã đào tạo ra khá nhiều học sinh và sau này trở thành lớp
nghệ nhân đất Thủ với tay nghề giỏi, có kiến thức về văn hóa nghệ thuật cũng như
những nghệ nhân về sơn mài như thầy Nguyễn Văn Thạnh, Hồ Hữu Thủ, Lê Thành
Nhơn, GS Trần Văn Cang. Nhiều học sinh tốt nghiệp ở thời kỳ đầu trở thành
những nghệ nhân sơn mài, số được giữ lại trường làm nhà giáo nổi tiếng như:
Trương Văn Thanh, Nguyễn Thanh Lễ, Nguyễn Văn Yến, Nguyễn Văn Thạnh,
Nguyễn Hữu Sang, Trương Văn Cang…Là chiếu nôi đào tạo sơn mài chính quy,
hình thành đội ngũ nghệ nhân, họa sĩ tiêu biểu có trình độ, tay nghề, trình độ quản
lý chuyên trách đã gầy dựng, tham gia sản xuất ở các trụ cột các nơi như làng sơn
mài Tương Bình Hiệp, Tân An, xưởng Thành Lễ là nơi đào tạo tin cậy, là niềm tự
hào của dân tộc và địa phương nơi đây” 6 . Trong những học sinh đang theo học, có
những cá nhân xuất sắc xuất thân từ làng nghề Tương Bình Hiệp đã tiếp thu gặt hái
những kiến thức trường lớp sau này về làm giàu tại mảnh đất của tổ tiên. Từ khi
nghệ thuật sơn mài được áp dụng thành công tại trường Mỹ thuật Đông Dương Hà
Nội từ những năm 30 của thế kỷ XX, được miền trong tiếp nhận đã mang lại những
thành công rực rỡ cho sơn mài Tương Bình Hiệp- Bình Dương. Đặc biệt trước năm
1975, với sự ra đời có công ty Thành Lễ, Trần Hà tập hợp những nghệ nhân nơi
đây đã giúp cho sản phNm sơn mài Bình Dương nói chung, Tương Bình Hiệp nói
riêng nổi danh trên thế giới. Từ năm 1945-1960, mỗi năm các xưởng sơn mài ở
Thủ Dầu Một sản xuất được khoảng 40.000 sản phNm lớn nhỏ, trị giá 25 triệu đồng
miền Nam. Phần lớn các sản phNm được xuất cảng sang Pháp, Mỹ, Tây Đức,
Singapore 7 …Nơi đây đã sản sinh ra rất nhiều nghệ nhân tài năng, ví dụ: tranh sơn
mài cẩn trứng của Nguyễn Văn Muội thực hiện năm 1957, tranh sơn mài đề tài
cảnh đồng quê của nghệ nhân Hồ Thị Lui thực hiện năm 1965, tranh sơn mài đề tài
“Quan trạng về làng” của nghệ nhân Nguyễn Văn Chí thực hiện năm 1965, đây là
những sản phNm sơn mài tiêu biểu hiện nay vẫn còn được lưu giữ tại bảo tàng tỉnh
Bình Dương.

Ngày 30 tháng 04 năm 1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất
nước nhân dân hai miền nam bắc được sống trong bình yên, đất nước có được
những điều kiện thuận lợi để phát triển mọi mặt về kinh tế, văn hóa, xã hội. Sau
Nguyễn Văn Quý, Phát huy nghệ thuật sơn mài truyền thống Bình Dương (từ năm 1986 đến nay), Luận văn Thạc sĩ, Đại học Mỹ thuật Tp.HCM, 2012, tr.227
Huỳnh Thị Ngọc Tuyết (1993), Tiểu thủ công nghiệp vùng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định và phụ cận từ năm 1954 đến năm 1975, Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Lịch sử, Viện Khoa học xã hội tại Tp.HCM, tr.191 6 năm 1975 sơn mài Tương Bình Hiệp phát triển đạt đến thời kỳ vàng son huy hoàng nhất vào khoảng từ 1980-1990. Đây được xem là thời gian nhà nhà làm sơn mài, người người làm sơn mài- lời cửa miệng mà người dân thường nhắc tới.
1.2 Đỉnh cao làng nghề truyền thống .Thời gian sau giải phóng đất nước vẫn còn bộn bề nhiều khó khăn, nhưng nhờ sự quyết tâm của mọi tầng lớp nhân dân, kinh tế tỉnh Sông Bé đã từng bước đi lên vững chắc. Ngay từ năm 1977 Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I đã xác định:
Nhiệm vụ của công nghiệp, tiểu và thủ công nghiệp ở tỉnh ta là tận dụng mọi năng
lực sản xuất và mọi hình thức tổ chức của cả Nhà nước và tư nhân làm ra ngày
một nhiều hàng hóa có chất lượng phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân
trong tỉnh, trao đổi với các tỉnh bạn và xuất khẩu. Từ cơ sở nghị quyết của Đại hội
Đảng bộ, ngành tiểu thủ công nghiệp đã khai thác mở rộng sản xuất các mặt hàng
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có thế mạnh tại địa phương như gốm sứ, sơn
mài… Phát động sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân hiểu rõ chính sách khuyến
khích sản xuất hàng tiêu dùng, mở các hội nghị cải tiến về tổ chức và quản lý trong
các xí nghiệp quốc doanh, công ty hợp doanh và hợp tác xã tiểu, thủ công nghiệp;
khuyến khích nhân dân, kể các nhà tư sản dân tộc khôi phục lại các cơ sở cũ, xây
dựng thêm cơ sở mới, mở rộng sản xuất các mặt hàng dựa vào nguồn nguyên liệu
sẵn có tại địa phương.

Làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp đạt đến đỉnh cao của sự nổi tiếng xuất
khẩu nhiều quốc gia nhờ chất lượng cao, đề tài phong phú, chất liệu đa dạng, vận
dụng hiệu quả thành tựu khoa học kỹ thuật để tăng năng suất lao động, cải thiện sự
đồng đều trong các sản phẩm, giảm thời gian không cần thiết. Vào khoảng thời
gian 1980-1990, cả làng có tới 774 hộ lấy nghề sơn mài làm thu nhập chính 8 . Giai
đoạn này người dân Tương Bình Hiệp chủ yếu tập trung đầu tư, phát triển sản xuất
dựa vào sơn mài. Từ những năm 1980-1990, sơn mài và gốm sứ trở thành thế
mạnh, chiếm 30-35% thu nhập quốc dân về công nghiệp toàn tỉnh 9 . Đến năm 1987
nhờ đường mới đổi mới của Đảng nghề truyền thống sơn mài đã phát huy, các cơ
sở sơn mài được mở ra, chẳng bao lâu làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp, Tân
An trở nên tấp nập, nhất là Tương Bình Hiệp chủ yếu là làm sơn mài xuất khẩu. Từ
năm 1987-1990 hàng sơn mài làm không kịp giao cho khách, nhiều cơ sở phải lấy
của cơ sở khác để giao. Giai đoạn này là thời hoàng kim của sơn mài Bình Dương.
Phải nói là 80% số hộ dân ở Tương Bình Hiệp, Tân An làm nghề sơn mài 10 .
8ẩ Lê Cảm Hưởng, Vực dậy làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp, Báo Sài Gòn giải phóng, Tp.HCM, 2002, số ra ngày 19/7, tr.69 Nguyễn Văn Minh, Nghệ thuật sơn mài ứng dụng Bình Dương, NXB Mỹ thuật, 2015, tr.37 10 Hiệp hội đầu tư và phát triển các doanh nghiệp tỉnh Bình Dương, Bình Dương thời đổi mới, NXB Thanh Niên, 2002, tr.316Về đề tài, chất liệu. Làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp nổi tiếng với việc sử dụng sơn ta- sơn Phú Thọ với độ bền lâu dài, các sản phNm phong phú về đề tài, chất liệu.

Đề tài thể hiện có: Tứ thời (mai, lan, cúc, trúc); tứ hữu: liên áp (vịt bơi bên
hoa sen), cúc điệp (bướm đậu trên hoa), mai điểu (chim đậu cành mai); tùng hạc;
ngư tiều canh mục, vinh quy bái tổ; long lân quy phụng, hổ, ngựa; các đề tài thiên
nhiên trời mây sông nước, làng quê, cây đa, bến nước, gặt lúa, đồng ruộng; cảnh
đẹp thiên nhiên: vịnh Hạ Long, Kinh thành Huế, hồ Hoàn Kiếm, Văn Miếu Quốc
Tử Giám; các đề tài về lịch sử: Hai Bà Trưng, Bác Hồ, quảng trường Ba Đình; đề
tài xã hội gia đình: tình mẫu tử, thiếu nữ, tuổi thơ; đề tài tôn giáo: tượng Phật, đền
chùa, bát tiên, Phúc lộc thọ 11 …Hiện nay chúng ta dễ dàng bắt gặp tranh sơn mài
chân dung Đại tướng Võ Nguyên Giáp bày bán tại các cửa hàng của làng nghề.
Chất liệu thể hiện cho đến những năm 80 vật liệu làm cốt ngoài ván ép, gỗ mít
còn có thêm vải (làm các loại bình lớn), nhựa (làm các loại đĩa, vòng đeo tay…).
Chất liệu chính là sơn Phú Thọ pha với sơn Nam Vang. Nghệ thuật thể hiện ngoài
những kỹ thuật truyền thống, còn có thêm các cách vẽ mỏng, vẽ phủ… Kỹ thuật
khắc trũng giai đoạn này được sử dụng nhiều do nhu cầu thị trường, nhất là các
mặt hàng tranh mỹ nghệ các thể loại, bình phong (paravent), bình hoa và đĩa trang
trí. Đến những năm 90 sử dụng ván ép là vật liệu làm cốt, vóc vì đây là giai đoạn
xuất khẩu nhiều tranh mỹ nghệ (nhất là tranh bộ, ghép 2, 4 hoặc 6 tấm và liễn thờ,
câu đối). Kỹ thuật phổ biến là vẽ tranh kết hợp cNn vỏ trứng, cNn vỏ ốc các
loại…xuất hiện loại màu ma rông, được sùng sơn phủ nền cho các loại tranh. Các
loại sơn công nghiệp bắt đầu có mặt trên thị trường.

Dù đề tài hay chất liệu có phong phú đến đây thì sơn mài Tương Bình Hiệp
vẫn đảm bảo được 25 công đoạn truyền thống, làm nên sự khác biệt giữa sơn mài
nơi đây với các địa phương khác. Quá trình sản xuất sơn mài bao gồm: 1. Mài
nhám, 2. Trét, trám lỗ thủng, 3. Lót sớ gỗ, 4. Phất vải, 5. Mài nhám vải, 6. Hom sớ
vải, 7. Hom chu lần I, 8. Mài hom chu I, 9. Hom chu lần II, 10. Mài hom chu II, 11.
Hom chu III, 12. Mài hom chu III, 13. Lót I, 14. Mài lót I, 15.Lót II, 16. Mài lót II,
17. Lót III, 18. Mài lót III, 19. Quang chu, 20. Mài quang chu, 2. Vẽ hình, 22. Phủ
sơn cánh gián, 23. Mài phủ và sữa chữa, 24. Mài sửa chữa đợt II, 25. Đánh bóng.
Đây là những điểm khác biệt rõ ràng giữa nghề sơn (lúc sơ khai) và sơn mài về sau
này.ẩ Về thị trường tiêu thụ, ngay từ đầu đã khẳng định đây thật sự là thời kỳ vàng
sơn của làng nghề sơn mài truyền thống Tương Bình Hiệp nên các sản phẩm sơn
11 Cao Xuân Phách, Một vài tư liệu về nghề sơn mài truyền thống ở Bình Dương, Hội Khoa học lịch sử tỉnh Bình Dương, số 12/2005, tr.38mài từ năm 1983 sống lại với mức độ mạnh mẽ hơn. Tiêu biểu cho giai đoạn phát triển sơn mài của Bình Dương phải kể đến sự đóng góp của làng Tương Bình Hiệp, với nhiều cơ sở quốc doanh, tư doanh mọc lên như nấm. Về mặt kinh tế, hàng sơn mài ở Sông Bé chiếm tỷ trọng 70% số lượng hàng sơn mài xuất khẩu cả nước, chiếm 2/3 thu nhập lượng hàng tiểu thủ công nghiệp địa phương. Đồng thời nuôi sống hàng chục ngàn công nhân trong tỉnh 12 . Thị trường xuất khNu của làng nghề trong giai đoạn này rất phong phú ở các châu lục: Á, Phi, Âu, Mỹ với các
quốc gia ưa chuộng hàng thủ công mỹ nghệ như: Nhật Bản, Trung Quốc, Đài
Loan, Nga, Mỹ…

Sự phát triển của nghề sơn mài còn kéo theo một số nghề phụ trợ cho nó cũng
phát triển theo như nghề rèn, nghề đẽo đòn gánh, nghề tiện. Nghề rèn sản xuất ra
các loại dao băm lưỡi cưa, dao tách ốc dùng trong công đoạn cNn vỏ trai sơn mài.
Đẽo đòn gánh để làm phương tiện chuyên chở gánh một số sản phẩm hộp, khay,
bình nhỏ trong các hộ gia đình làm sơn mài. Nghề tiện để tiện ra các đồ cốt vóc
phục vụ cho sơn mài…Từ nghề sơn mài đời sống người nâng được nâng lên, đã
giúp cho nhiều gia đình trở nên sung túc, giàu có. Các nghệ nhân được kính trọng-
ví dụ như bác Tám Khiêm, các thợ kỹ thuật làm việc không ngơi tay, những người
học việc, người già, phụ nữ, em nhỏ đều có thể tham gia làm nghề và có thu nhập
ổn định.

Tuy nhiên hiện nay sơn mài Bình Dương nói chung, làng nghề Tương Bình Hiệp nói riêng đang gặp phải rất nhiều khó khăn để có thể tồn tại và phát triển như nguồn nguyên liệu và đầu ra cho sản phẩm. Sơn ta Phú Thọ ngày càng đắt, sử dụng nhiều thì người sản xuất không có lãi, sản phNm bán ra không thể gắn giá trên trời.

Hiện nay đầu ra cho các sản phẩm sơn mài gặp rất nhiều trắc trở, chỉ có những
công ty doanh nghiệp mới có đơn xuất hàng mang giá trị lớn, còn những hộ gia
đình nhỏ lẻ chỉ có thể làm gia công, hoặc nhận những đơn đặt hàng có giá thấp.
Chính điều này đã khiến nhiều người lầm tưởng về chất lượng hàng sơn mài.

Nhiều ý kiến chủ quan cho rằng vì người dân nơi đây chạy theo số lượng, hàng làm
ra phải thực hiện gấp rút nên cắt xén nhiều công đoạn nên hàng dởm không chất
lượng, khiến tiếng tăm của sơn mài Tương Bình Hiệp bị mất đi và giảm sút uy tín
niềm tin đối với khách hàng. Nhưng khi nghiên cứu vào thực chất tình hình hiện tại
của làng nghề này mới thấy rằng, làng nghề muốn bảo tồn và phát triển được trước
tiên phải đảm bảo ổn định về mặt kinh tế. Thứ nhất, khi kinh tế phát triển đồng
nghĩa với thu nhập của người dân ổn định, người dân sẽ càng gắn bó và bám trụ
với nghề “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, người không phụ nghề, nghề không phụ
người. Thứ hai, khi sản phẩm sơn mài bán ra được nhiều, giá thành cao tự nhiên sẽ
Nguyễn Thị Thùy Linh, Nghề sơn mài ở xã Tương Bình Hiệp thị xã Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương- Hiện trạng và xu hướng phát triển, Trường Đại học Mở TPHCM, 2010, tr.13
12ẩ có nhiều người tìm đến học nghề, thu hút học sinh vào học các trường mỹ thuật có
đào tạo ngành sơn mài, có như thế mới tính đến chuyện bảo tồn lâu dài nghề truyền
thống được. Làng nghề không chỉ có ý nghĩa trong bài toán phát triển kinh tế, tạo
việc làm, tăng thu nhập cho người dân mà nó còn có ý nghĩa về mặt văn hóa- giá
trị văn hóa phi vật thể của quốc gia.

Làng nghề truyền thống Tương Bình Hiệp đã trở thành một biểu tượng, nét
đẹp văn hóa tô điểm làm phong phú đa dạng hơn trong nền văn hóa của dân tộc.
Để giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị thiết thực của làng nghề cần phải có
những biện pháp cụ thể. Nhà nước và địa phương cần tạo mọi điều kiện thuận lợi
về nguồn vốn, hỗ trợ nguyên vật liệu, biện pháp cải thiện môi trường và đặc biệt
chú trọng đến thị trường tiêu thụ của làng nghề truyền thống vì thị trường tiêu thụ
là cái quyết định sự sống còn của làng nghề. Hỗ trợ kịp thời các thủ tục hải quan
thông thoáng, nhanh chóng để xuất hàng cho đối tác nước ngoài trong thời gian
sớm nhất. Có như thế nghề sơn mài và làng nghề sơn mài truyền thống Tương
Bình Hiệp mới có thể hồi sinh, phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn đương đại.
Mới đây Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa có Quyết định số 1328/QĐ-
BVHTTDL, công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể 13 quốc gia đối với nghề
sơn mài ở làng Tương Bình Hiệp vì nó chứa đựng giá trị văn hóa quan trọng. Đây
là niềm vui không chỉ cho địa phương mà còn là niềm tự hào của đất Thủ- không
hổ danh là cái nôi của sơn mài phương Nam.

Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Trong đó điều tạo nên giá trị cốt lõi là phải giữ cho được bản sắc như thuở ban đầu nghề thủ công truyền thống.

13Theo UNESCO, “Di sản văn hóa phi vật thể” được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức,kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ.Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người. ( Vũ Quốc Tuấn, Làng nghề trong công cuộc phát triển đất nước,NXB Tri thức, 2011, tr.96)

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Thái Kim Điền, Truyền thống sơn mài Bình Dương và định hướng trong xu
thế hội nhập, Tạp chí Khoa học lịch sử Bình Dương, số 5, tháng 1/2007, tr.
26
2. Nguyễn Thị Thùy Linh, Nghề sơn mài ở xã Tương Bình Hiệp thị xã Thủ Dầu
Một tỉnh Bình Dương- Hiện trạng và xu hướng phát triển, Trường Đại học
Mở TPHCM, 2010, tr.13
3. Huỳnh Lứa, Vài nét về tiến trình khai phá vùng đất Bình Dương trong các
thế kỷ XVII-XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, Tạp chí Khoa học lịch sử Bình
Dương, số 12/2005, tr.4
4. Hiệp hội đầu tư và phát triển các doanh nghiệp tỉnh Bình Dương, Bình
Dương thời đổi mới, NXB Thanh Niên, 2002, tr.316
5. Hiệp hội Sơn mài điêu khắc Bình Dương, Tập san nội bộ, 2006
6. Lê Cảm Hưởng, Vực dậy làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp, Báo Sài Gòn
giải phóng, Tp.HCM, 2002, số ra ngày 19/7, tr.6
7. Thạc sĩ-họa sĩ Nguyễn Văn Minh, Đặc điểm hình thành nghề sơn mài Bình
Dương , Tham luận Bảo tồn và phát huy nghệ thuật sơn mài Bình Dương, Sở
VH-TT-DL Bình Dương, 2011, tr 28
8. Nguyễn Văn Minh, Nghệ thuật sơn mài ứng dụng Bình Dương, NXB Mỹ
thuật, 2015, tr.37
9. Thơ Huỳnh Văn Nghệ, Nhớ Bắc
10. TS.Trần Nhu, Những làng nghề truyền thống ở tỉnh Bình Dương, Kỷ yếu hội
thảo khoa học Thủ Dầu Một – Bình Dương 300 năm hình thành và phát
triển, 1998, tr.116
11. Cao Xuân Phách, Một vài tư liệu về nghề sơn mài truyền thống ở Bình
Dương, Tạp chí Hội Khoa học lịch sử tỉnh Bình Dương, số 12/2005, tr.38
12. Nguyễn Văn Quý, Phát huy nghệ thuật sơn mài truyền thống Bình Dương
(từ năm 1986 đến nay), Luận văn Thạc sĩ, Đại học Mỹ thuật Tp.HCM 2012,
tr.22
13. Vũ Quốc Tuấn, Làng nghề trong công cuộc phát triển đất nước, NXB Tri
thức, 2011, tr.96
14. Huỳnh Thị Ngọc Tuyết (1993), Tiểu thủ công nghiệp vùng Sài Gòn-Chợ
Lớn-Gia Định và phụ cận từ năm 1954 đến năm 1975, Luận án Phó tiến sĩ
Khoa học Lịch sử, Viện Khoa học xã hội tại Tp.HCM, tr.191

Họ và tên độc giả cộng tác: Nguyễn Thị Phượng, học viên cao học khoa Lịch
sử-Trường Đại học KHXH&NV.TPHCM
Nơi công tác: Trường TC Mỹ thuật – văn hóa Bình Dương
Số 210, đường Bạch Đằng, P.Phú Cường, TP.TDM, BD
Địa chỉ email: andyphuong130@gmail.com. SĐT: 0937 353 503

HÌNH ẢNH MINH HỌA

Tác giả tự chụp tại làng sơn mài Tương Bình Hiệp, tháng 5/2016

a1Công đoạn vẽ lên bình sản phẩm sơn mài

a2

Công đoạn đánh bóng sản phẩm sơn mài

a3Một số sản phẩm đã hoàn thành

 

Tham khảo bài viết gốc hoàn chỉnh tại đây:

http://sugia.vn//assets/file/2016/TH%E1%BB%9CI%20K%E1%BB%B2%20V%C3%80NG%20SON%20C%E1%BB%A6A%20S%C6%A0N%20M%C3%80I%20T%C6%AF%C6%A0NG%20B%C3%8CNH%20HI%E1%BB%86P.pdf

Bài viết bị lỗi font chữ và format , vui lòng xem bài viết chính trên website để có thể xem ở chế độ tốt hơn.

http://sugia.vn/portfolio/detail/1636/tim-hieu-thoi-ky-vang-son-cua-lang-nghe-son-mai-truyen-thong-tuong-binh-hiep-binh-duong.html

VĂN HÓA HÁN – NÔM Ở ĐÌNH THẦN DẦU TIẾNG


Trong sắc phong của đình Dầu Tiếng lại ghi địa danh “Định Thành”: sắc cho “Thần Hoàng Bổn Cảnh Định Thành” vào năm Tự Đức V(1853). Được biết trước năm 1946, Dầu Tiếng là tên gọi chung của một vùng đất không có địa giới rõ ràng cho đến năm 1949 một đơn vị hành chính được thành lập mang tên quận Dầu Tiếng thuộc tỉnh Thủ Dầu Một. Đến năm 1977 đổi tên thành huyện Dầu Tiếng thuộc tỉnh Sông Bé và từ năm 1999 thuộc tỉnh Bình Dương cho tới nay.

Trước năm 1871, thôn Định Thành vào thời Minh Mạng có tên thôn Bảo Định thuộc tổng Bình Thạnh Thượng, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định. Sau khi đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, người Pháp sắp sếp lại các đơn vị hành chính.Tổng Bình Thạnh Thượng thuộc hạt Thanh tra (đơn vị hành chánh tương đương cấp tỉnh) Sài Gòn và thôn Định Thành(trước kia là thôn Bảo Định thuộc xứ Dầu Tiếng) là một trong 12 thôn của tổng Bình Thạnh Thượng thuộc Sài Gòn.

Đến năm 1871, khi quân Pháp đánh chiếm hết Nam Kỳ lục tỉnh, tổng Bình Thạnh Thượng được sáp nhập vào tỉnh Thủ Dầu Một. Tổng Bình Thạnh Thượng

(trong đó có thôn Định Thành) về sau trở thành quận Dầu Tiếng (1946) rồi huyện Dầu Tiếng (1977) của tỉnh Thủ Dầu Một. Kể từ năm 1997 thuộc Bình Dương. Nghị định số 101/1994/QĐ-CP chuyển xã Định Thành thành thị trấn Dầu Tiếng.

Như vậy, đình Dầu Tiếng từ khi xây dựng và nhận sắc phong ở thôn Định Thành, tổng Bình Thạnh Thượng thuộc tỉnh Gia Định. Đến năm 1871, nghĩa là 140 năm trước đây mới thuộc về đất Dầu Tiếng, tỉnh Thủ Dầu Một, Bình Dương.

Về tên gọi Dầu Tiếng cũng giống như tên gọi Thủ Dầu Một, Dầu Tiếng là một địa danh nôm na, dân dã thuần Việt trong đó có thành tố “dầu” tức là cây dầu Rái(Dầu Lông). Theo tư liệu truyền khẩu có tên Dầu Tiếng là vì vùng đất này có cây Dầu nổi tiếng.Thuở ấy nơi đây là rừng rậm hoang vu có nhiều cây gỗ, nhiều nhất là cây dầu. Ở bờ sông Sài Gòn, tại khu vực cầu Tàu có một cây Dầu lớn ba bốn người ôm không xuể, không hiểu vì giông bão hay vì sao đã đổ xuống, thân nằm vắt ngang qua chỗ dòng sông hẹp làm thành một chiếu cầu tự nhiên. Dân ghe đi thuyền cũng như dân ở hai bên bờ sông không thể không nói tới cây dầu nổi tiếng này. Từ đó nhân dân trong vùng đất sinh ra cây Dầu nổi tiêng gọi là Dầu Tiếng1.

Đình được xây dựng bên bờ trái sông Sài Gòn nơi có cây Dầu nổi tiếng nói trên nên cũng được gọi tên đình là đình Dầu Tiếng. Sau khi chiếm nước ta, người Pháp lập các đồn điền cao su và đến năm 1917 đồn điền Michelin được thành lập.Họ xây nhà máy nước cạnh ngôi đình nên năm 1920 đình phải dời đến bến Vịnh cách đó khoảng 2km về phía sau hạ lưu sông Sài Gòn. Đến năm Mậu Thìn(1952), trận bão lụt lớn làm hư ngập ngôi đình nên một lần nữa ngôi đình được di dời về địa điểm hiện nay trên một ngọn đồi cao ráo có nhiều cây cổ thụ.Trải qua bao thăng trầm của lịch sử của đất nước và địa phương,vùng đất Dầu Tiếng và cả đình Dầu Tiếng luôn gắn liền với lịch sử đấu tranh chống áp bức bóc lột của thực dân và những cuộc kháng chiến chống xâm lược của địa phương và đất nước. Đồng thời đây củng là vùng đất chịu nhiều tàn phá của chiến tranh cho đến những trận chiến ác liệt cuối cùng trước ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Khi quân ta tiến chiếm và giải phóng huyện Dầu Tiếng ngày 13/3/1975, ngôi đình và nhiều cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi trong khuôn viên của đình bị hư hại và gãy đổ nặng nề hơn bởi bom đạn của máy bay quân đội Sài Gòn. Được bết khu vực đình là nơi trú quân, tập kết lực lượng của quân giải phóng (trong đó có các chiến sĩ lãnh đạo như Tám Núi, Tư Ký – Trần Văn Ký) để chuẩn bị tiến chiếm huyện lỵ Dầu Tiếng.

Sau khi hòa bình lặp lại, đến năm 1978 ông Trần Văn Ký với cương vị chủ tịch xã Định Thành cùng với nhiều cán bộ lão thành, các vị cao niên và nhân dân địa phương quyết tâm góp công góp của xây dựng lại ngôi đình. Công việc trùng tu ngôi đình tiến hành qua nhiều năm 1985, 2002, 2006, 2008…đình Dầu Tiếng mới có được qui mô kiến trúc khang trang như ngày nay.

Nội dung liển đối, hoành phi chữ hán – nôm đình Dầu Tiếng:

Cặp đối cổng đình:

聖 德 巍 峨上下正直

神恩 浩蕩尊 罳順理保安 寧

Thánh đức nguy nga thượng hạ tòng tâm thượng chánh trực

Thần ân hạo đãng tôn ty thuận lý bảo an ninh

Tạm dịch:

Đức của thánh cao vời, trên dưới một lòng cùng hướng theo là để giữ điều ngay thằng.

Ơn của thần rộng lớn, người sang, kẻ hèn thuận theo là để giữ được sự an lành.

Các cặp câu đối khu vực Bình phong:

白山涯水長永伴

世外桃源伙神仙

Bạch sơn nhai thủy trường vĩnh bạn

Thế ngoại đào nguyên hỏa thần tiên

Tạm dịch:

Núi tuyết với bờ nước làm bạn lâu dài mãi mãi

Nhiều đời quen biết nhau thì cùng là thần tiên

為 國 捐 驅 君 臣 纪 功 名

拾 男 成 仁 貞 忠 同 日 月

Vị quốc quyên khu quân thần kỷ công danh

Thập nam thành nhân trinh trung đồng nhật nguyệt

Tạm dịch:

Giúp cho đất nước, vua và bề tôi góp sức gỡ mối công danh

Thu thập trai tráng với tấm lòng trung thành qua ngày tháng

朗 月 中 天 好 張 帜(幟)

朝 市 罷 回 榔 邊 息

Lãng nguyệt trung thiên hảo trương sí

Triêu thị bãi hồi lang biên tức

Tạm dịch:

Trăng sáng giữa trời thích giăng cờ

Chợ sớm tan về nghỉ bên cau

私公道恩怨 分明

事嚴正 萬民得福

Tư công đạo ân oán phân minh

Sự nghiêm chính vạn dân đắc phước

Tạm dịch:

Chuyện riêng chuyện chung đường ân oán rõ ràng

Việc nghiêm khắc chính trực ngàn dân được phúc

曠前 神虎一聲吼山後百獸四驚 逭

泠 月高照科 玻 上 獨 憐隻 影胃 寒 霜

Khoáng tiền thần Hổ nhất thanh hống sơn hậu bách thú tứ kinh hoán

Linh nguyệt cao chiếu khoa pha thượng độc liên chích ảnh vi hàn sương.

Tạm dịch:

Thần Hổ thanh thản gầm một tiếng trên núi thì trăm thú phải sợ hãi trốn tránh

Trăng sáng chiếu rọi như pha lê trên cao, một mình thương xót bóng người lẻ loi ngoài sương lạnh.

風 棬 浮 雲 國 金 龍

浪 濁 翶 騰 出 神 龟

Phong quyển phù vân quốc kim long

Lãng trọc cao đằng xuất thần quy

Tạm dịch:

Gió cuốn trên mây, đất nước như con rồng vàng

Con sóng đùa giỡn, rùa thần nhảy chồm lên

Các cặp đối gian Tiền điện:

普 見 人 間 歌 聖 母

惠 從 天 上 降 麟 兒

Phổ kiến nhân gian ca Thánh Mẫu

Huệ tòng thiên thượng giáng lân nhi2

Tạm dịch:

Khắp cả nhân gian ca Thánh Mẫu

Huệ ở trên trời giáng cháu con

天賦 五 行 千 年在

地承 寶物 萬 世流

Thiên phú ngũ hành thiên niên tại

Địa thừa bảo vật vạn thế lưu

Tạm dịch:

Trời ban cho năm chất (Kim- Mộc- Thủy- Hỏa- Thổ) tồn tại ngàn năm.

Đất nhận lấy vật quý lưu lại ngàn đời.

深山五嶽聚 秀 靈

瑞氣 行雲 降吉 祥

Thâm sơn ngũ nhạc tụ tú linh

Thụy khí hành vân giáng cát tường

Tạm dịch :

Núi cao thăm thẳm hội tụ linh thiêng đẹp đẽ

Khí tốt đẹp mây bay giáng xuống điềm lành

天扶越國基圖盛

地接南南春色多

Thiên phù Việt quốc cơ đồ thịnh

Địa tiếp Nam đô xuân sắc đa

Tạm dịch:

Trời giúp cho cơ đồ nước Việt được thịnh vượng

Đất nối tiếp kinh đô trời Nam nhiều sắc xuân.

帝乘恩 因 人 施 雨 露

天 官 賜福 隨時降 禎 祥

Thượng đế thừa ân nhân nhân thi vũ lộ

Thiên quan tứ phúc tùy thời giáng trinh tường

Tạm dịch:

Nhờ ơn thượng đế thi ân tới muôn người

Thiên quan ban phước thời giáng đều tốt lành

Bài vị gian Tiền điện:

十類孤魂

Thập loại cô hồn

Tạm dịch: bài vị tại miếu thờ các cô hồn các đãng.

五行娘 娘

Ngũ Hành Nương Nương

Tạm dịch: Bàn thờ của năm vị nương nương

Hoành phi gian Tiền điện:

亭社成定

Đình xã Thành Định

Tạm dịch: Đình làng xã Định Thành

Các cặp câu đối gian Chánh điện:

貫 雨 光 賢 德 行 碌

不負人神一 庀 心

Quán vũ quang hiền đức hành lục

Bất phụ nhân Thần nhất phỉ tâm

Tạm dịch:

Người tài giỏi đức độ làm việc cần cù

Không làm trái lòng Thần lòng người

洋洋 在上 恩扶世上 得 平 安

櫂櫂 厥靈 德護 生 靈 皆 康 泰

Dương dương tại thượng ân phù thế thượng đắc bình an

Trạc trạc quyết linh đức hô sinh linh giai khang thái

Tạm dịch:

Ơn trên phong phú phù hộ nhân dân được bình an

Đức linh trong sáng che chở muôn loài được khỏe mạnh.

聖 德 如 天 高 眾 度 天 秋 同 襶 德

神 功若地 厚群生 萬 代 共 欽 功

Thánh đức như thiên cao chúng độ thiên thu đồng đới đức.

Thần công nhược địa hậu cần sinh vạn đại cộng khâm công.

Tạm dịch:

Đức của thánh như trời cao chúng dân ngàn thu đều mang lấy đức.

Công của thần tựa đất dày muôn loài vạn thuở đều ghi nhớ công.

定 爵 列三 曹 報 應 有 時 分善 惡

城 神 随 六 合 英 赫 正 大 顯 靈 通

Định tước liệt tam tào báo ứng hữu thời phân thiện ác

Thành thần tùy lục hợp anh hách chính đại hiển linh thông

Tạm dịch:

Định chức tước thành ba bậc ứng theo thời cuộc chia ra thành thiện ác.

Thành Thần chia theo sáu bậc hợp với người tài giỏi vẻ vang uyên bác.

(Lục hợp có thể không dịch, Lục hợp gồm trời-đất-đông-tây-nam-bắc)

定居 樂 業 恩 良 煖

城 池 堅 固 護 庶 民

Định cư lạc nghiệp ân lương noãn

Thành trì kiên cố hộ thứ dân

Tạm dịch:

An cư lạc nghiệp ơn thần tốt lành, ấm áp.

Thành trì kiên cố che trở nhân dân.

Bài vị: 神 : Thần

Tạm dịch: Bài vị của Thần Hoàng Bổn Cảnh.

Hoành phi gian chánh điện:

大 浩光恩

Đại hạo quang ân

Tạm dịch: Ân chiếu sáng vô cùng to lớn

循 儀 古 例

Tuân nghi cổ lệ

Tuân theo nghi lễ lệ xưa

鐘 鼓 和 諧

Chung cổ hòa giai

Chuông trống hài hòa

琴 鼓 座

Cầm cổ tọa

Tòa đàn trống

Cặp câu đối ở bàn thờ Hậu Hiền:

恭 請 後 賢 列 位 座 位

Cung thỉnh Hậu hiền liệt vị tọa vị

Cung thỉnh các vị Hậu hiền tọa vị

基 業 創 成 民 歡 暢

萬 家 飽 暖 賴 神 恩

Cơ nghiệp sáng thành dân hoan sướng

Vạn gia bão noãn lại thần ân

Tạm dịch:

Cơ nghiệp tạo nên dân vui sướng

Muôn nhà no ấm nhờ ân thần

Cặp đối ở bàn thờ Tây hiến:

恭 請 西 獻 列 位 座 位

Cung thỉnh Tây hiến liệt vị tọa vị

Cung thỉnh các vị Tây hiến tọa vị

為 國 犧 牲 男 兒 務

大 夫 氣 魄 壯 如 山

Vị quốc hy sinh nam nhi vụ

Đại phu khí phách tráng như sơn

Tạm dịch:

Vì nước hy sinh việc nam nhi

Đại phu khí phách mạnh như núi

Cặp câu đối ở bàn thờ Hữu Ban:

恭 請 右 班 列 位 座 位

Cung thỉnh Hữu ban liệt vị tọa vị

Cung thỉnh các vị Hữu ban tọa vị

常 念 身 負 君 臣 記

力 除 奸 邪 扶 正 道

Thường niệm thân phụ quân thần ký

Lực trừ gian tà phù chính đạo

Tạm dịch:

Thường niệm mình mang nghĩa vua tôi

Sức trừ gian tà phò chính đạo

Cặp câu đối trên bàn thờ Đông hiến:

恭 請 東 獻 列 位 座 位

Cung thỉnh Đông hiến liệt vị tọa vị

Cung thỉnh các vị Đông hiến tọa vị

誓 保 山 河 長 永 在

社 稷 安 危 民 有 責

Thệ bảo sơn hà trường vĩnh tại

Xã tắc an nguy dân hữu trách

Tạm dịch:

Thề giữ non sông mãi tồn tại

Xã tắc an nguy dân gánh vác

Cặp câu đối trên bàn thTiền Hiền:

恭 請 前 賢 列 位 座 位

Cung thỉnh Tiền hiền liệt vị tọa vị

Cung thỉnh các vị Hiền hiền tọa vị

開 荒 闢 地 除 荊 刺

墾 成 耕 地 發 黎 民

Khai hoang tịch địa trừ kinh cức

Khẩn thành canh địa phát lê dân

Tạm dịch:

Khai hoang mở đất trừ gai góc

Canh tác đất đai phát muôn dân

Cặp câu đối trên bàn thờ Hậu bối.

衆 庶 虔 誠 求 百 福

鼓 樂 笙 歌 度 昇 平

Chúng thứ kiền thành cầu bách phúc

Cổ nhạc sanh ca độ thăng bình

Tạm dịch:

Dân chúng kính thành cầu trăm phúc

Trống nhạc đàn ca độ thăng bình

Đình thần Dầu Tiếng có ý nghĩa lịch sử luôn gắn liền với sự hình thành và phát triển của vùng đất Định Thành thôn xưa và thị trấn Dầu Tiếng ngày nay. Trong thời gian mở đất lập làng, đình là trung tâm sinh hoạt văn hóa xã hội và tín ngưỡng của cộng đồng dân tộc định cư tại đây. Trong thời gian đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đình là một trong những cứ điểm quan trọng của lực lượng giải phóng chống kẻ thù xâm lược .Sau khi đất nước giải phóng, đình lại tiếp tục được khôi phục và duy trì các sinh hoạt văn hóa truyền thống của địa phương. Trong những năm gần đây, đình còn là một địa điểm tham quan du lịch của du khách trong và ngoài tỉnh khi đến Dầu Tiếng.

Trải qua hơn 300 năm hình thành và phát triển vùng đất Định Thành Thôn xưa, Dầu Tiếng ngày nay ở mỗi thời kỳ có hoàn cảnh lịch sử khác nhau nhưng đình vẫn luôc là nơi nhân dân đến hội họp và chiêm bái thần để cầu cho mư thuận gió hòa, cây trái xanh tươi, mùa màng được bội thu. Đình còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa về chữ hán nôm được ghi lại tại đình, là một trong những di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của tỉnh Bình Dương.

ĐNH

Đậu Ngọc Hải (*)

1(*)Ban quản lý Di tích và Danh thắng Bình Dương. Email: hai.ngochai86@gmail.com

Theo TS. Huỳnh Ngọc Đáng thì có cách giải thích khác: Nguyên hai chữ Dầu Tiếng được ghi chép trong sách vở triều Nguyễn là “ Du tỉnh ”có nghĩa là giếng dầu. Vùng này có nhiều dầu, dầu từ thân cây chảy ra đọng lại thành vũng như giếng. Dầu giếng lâu ngày đọc trại thành Dầu Tiếng…

2麟兒 (Lân nhi): tức kỳ lân, một loài thú nhân từ trong truyền thuyết. Thường dùng “Lân nhi”để ca ngợi con cái của người khác, ngày xưa thành viên vương thất cũng dùng để chỉ con cái của mình

 

Theo http://www.Sugia.vn

 

Cây cổ thụ ôm chặt cứng chiếc xe máy suốt 25 năm ở Bình Dương


Cây cổ thụ ôm chặt cứng chiếc xe máy suốt 25 năm ở Bình Dương

Thời gian gần đây trên mạng xã hội lan truyền hình ảnh lạ mắt, một chiếc xe máy Yamaha cũ bị bộ rễ chằng chịt của cây cổ thụ quấn chặt. Nhiều phỏng đoán, nhiều câu chuyện mang màu sắc huyền bí đã được cư dân mạng đưa ra để lý giải. Vậy sự thật ra sao?

Theo tìm hiểu, được biết cây cổ thụ và chiếc xe máy trên nằm trong vườn nhà một người đàn ông tên Tâm ở TP Thủ Dầu Một, Bình Dương. Ông Tâm cho biết đây là “tác phẩm” được tạo ra một cách tình cờ từ 25 năm trước.
Cây cổ thụ ôm chặt cứng chiếc xe máy suốt 25 năm ở Bình Dương - Ảnh 2.

 

Ông Tâm kể khoảng thời gian đó ông bắt đầu mở quán bán cháo vịt trong vườn nhà. Để không gian quán rộng rãi, ông Tâm dắt chiếc xe máy hiệu Yamaha tựa vào gốc cây.

Thời điểm đó, chiếc Yamaha vẫn chạy tốt nhưng ông Tâm không có nhu cầu sử dụng nên cứ để xe cạnh gốc cây ngày này qua ngày khác. Một thời gian sau đó, có sợi rễ nhỏ của cây cổ thụ bám lên chiếc Yamaha. Thấy vui mắt ông Tâm để nguyên vậy. Suốt 25 năm qua tán lá cổ thụ che mưa nắng cho xe máy. Đến giờ, chiếc xe máy không thể nhúc nhích vì rễ cổ thụ ôm chặt.

Cây cổ thụ ôm chặt cứng chiếc xe máy suốt 25 năm ở Bình Dương - Ảnh 3.

Chiếc xe đã có hơn 50 năm tuổi

Ông Tâm cho hay có nhiều người trả giá hàng chục triệu để bê nguyên “tác phẩm” này đi trồng tại các khu du lịch nhưng ông không bán. Ông chia sẻ thêm, ông đã mua lại chiếc xe này từ một người bạn. Đây là một trong những chiếc xe máy đầu tiên của hãng Yamaha nhập vào Việt Nam hơn 50 năm trước.

“Chiếc xe Yamaha đó là xe đầu tiên tôi mua được. Hồi đó giá của nó tương đương 1.000 con vịt chứ đâu có ít. Bây giờ tôi có nhiều xe, tôi cũng xây được luôn biệt thự nhưng chiếc xe máy đó gắn bó với tôi từ những ngày gian khó nên tôi quyết không bán” – ông Tâm chia sẻ.

 

Theo Vũ Quang – Helino

http://cafef.vn/cay-co-thu-om-chat-cung-chiec-xe-may-suot-25-nam-o-binh-duong-20180529162647827.chn

 

Bình Dương và ‘tầm nhìn Thủ Dầu Một’


Bình Dương không xem việc Thủ Dầu Một lên đô thị loại I như “bánh vẽ” để tiêu tiền ngân sách, mà là để phát triển có tầm nhìn chiến lược, có định hướng rõ ràng trong liên kết vùng Đông Nam Bộ và TP.HCM…

 

Bình Dương và tầm nhìn Thủ Dầu Một - Ảnh 1.

 

Thành phố Thủ Dầu Một lên đô thị loại I khiến người dân nơi đây vui mừng khi họ được thụ hưởng nhiều dịch vụ, công trình thiết thực. Các doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài cũng rất ấn tượng về sự vươn lên của Thủ Dầu Một nói riêng và Bình Dương nói chung.

Điển hình là những tuyến “xe buýt xanh” theo phong cách Nhật Bản chạy bằng khí nén thiên nhiên thân thiện với môi trường, có hệ thống WiFi, có bãi giữ xe miễn phí…

Nó gây ấn tượng mạnh so với xe buýt thông thường khi giao tiếp giữa tài xế và hành khách rất thân thiện. Không khó để chứng kiến cảnh tài xế nở nụ cười nói “Xin chào!” khi khách lên xe và hành khách nói “Cảm ơn” tài xế khi xuống trạm.

“Xe buýt xanh” hiện là mong muốn của nhiều tỉnh nhưng chưa làm được, và trong khi cư dân nơi khác đang mơ ước thì người dân Bình Dương đã được tận hưởng.

Chỉ trong vòng một năm qua, Thủ Dầu Một đã xây dựng mới 30 công viên, vườn hoa từ các khu “đất vàng”, trụ sở cũ.

Năm 2018, Thủ Dầu Một sẽ xây thêm 36 công viên, vườn hoa từ quỹ đất công ở những vị trí đắc địa mà nếu bán các khu đất này, Bình Dương sẽ thu được nguồn tiền không nhỏ. Thế nhưng tỉnh này quyết định dành nó để tạo không gian xanh chăm sóc “giá trị tinh thần” cho người dân, một cách nhìn rất khác biệt hướng tới phục vụ người dân.

Người ta gọi vui các quyết định đó là “tầm nhìn Thủ Dầu Một”!

Tiêu biểu nhất cho tầm nhìn này phải kể đến chuyện quy hoạch. Đi một vòng thành phố này sẽ dễ dàng nhận ra bất cứ quy hoạch nào – từ phát triển công nghiệp, đô thị đến dịch vụ – đều có nghiên cứu rất bài bản chứ không manh mún, tự phát.

Điển hình là thành phố mới Bình Dương với khu đô thị làm hạt nhân, còn xung quanh là các khu công nghiệp, dịch vụ. Điều này đảm bảo vừa phát triển kinh tế vừa phát triển được đô thị mới.

Không chỉ “nghĩ riêng” cho mình, Bình Dương còn nhìn rộng ra cho khu vực, cho tương lai của cả vùng khi luôn xây dựng hạ tầng cơ sở theo hướng liên kết vùng, mà tuyến đường Mỹ Phước – Tân Vạn là một minh chứng.

Để làm được như Bình Dương thì không chỉ cần tầm nhìn của các cấp chính quyền, mà lãnh đạo nơi đây còn phải “dám làm, dám chịu”, đặt lợi ích của người dân lên trên. Bình Dương không xem việc đưa Thủ Dầu Một lên đô thị loại I như “bánh vẽ” để tiêu tiền ngân sách, để giải quyết “khâu oai”.

Trong khi nhiều địa phương đang đau đầu về chuyện thu phí BOT thì Bình Dương quyết định làm đường không thu phí, hoặc mua lại các dự án BOT để xóa trạm thu phí. Chi phí xây dựng được tỉnh “linh hoạt” tính toán vào chi phí của các khu công nghiệp, đô thị. Cách làm này nhận được sự đồng thuận vì giảm gánh nặng cho doanh nghiệp và mang lại hiệu quả lâu dài.

Thủ Dầu Một nói riêng và Bình Dương nói chung phát triển “nóng” nhưng không vội. Đó là một kiểu phát triển có tầm nhìn chiến lược, có định hướng rõ ràng trong liên kết vùng Đông Nam Bộ và TP.HCM, chứ không chỉ cục bộ địa phương.

MINH LUẬN – TuoiTre.vn

Bình Dương xây dựng khu công nghiệp khoa học công nghệ


Với kinh nghiệm hơn 20 năm phát triển công nghiệp, tỉnh Bình Dương có kế hoạch xây dựng một khu công nghiệp khoa học công nghệ và nghiên cứu tuyến đường sắt chuyên dụng, tạo bước đột phá trong vận chuyển hàng hóa.

 

Bình Dương xây dựng khu công nghiệp khoa học công nghệ - Ảnh 1.

Đồ họa mô phỏng một trung tâm logistics

Đây là các ý tưởng mạnh mẽ, góp phần xây dựng đô thị thông minh, nâng cao năng suất lao động và tạo ra giá trị gia tăng nhiều hơn cho các khu công nghiệp (KCN) của Bình Dương.

Thu hút chất xám

Theo quy hoạch phát triển các KCN tỉnh Bình Dương đến năm 2020, KCN Lai Hưng có diện tích 600ha tại huyện Bàu Bàng. Dự kiến, diện tích của KCN này sẽ được tỉnh Bình Dương dành để thu hút các doanh nghiệp khoa học công nghệ (KHCN) vào đầu tư. Qua đó hình thành nên một KCN riêng cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực có hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng cao, thúc đẩy các trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, thu hút được các lao động tri thức và có tay nghề.

Hiện nay, Bình Dương đang phối hợp với đối tác Hà Lan để nghiên cứu và triển khai những phần việc đầu tiên.

“Để có một KCN khoa học công nghệ đúng nghĩa thì cần có sự chuẩn bị rất bài bản, từ hạ tầng công nghệ, con người, cơ chế chính sách… chứ không phải chỉ đặt tên là có ngay KCN KHCN” – một cán bộ trực tiếp tham gia chuẩn bị KCN chia sẻ.

Theo chuyên gia, điều quan trọng để xây dựng KCN KHCN là phải có những chính sách tốt để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư và sáng tạo, hình thành được một cộng đồng doanh nghiệp thông minh, tương tác, phối hợp được với nhau để tạo ra những sản phẩm có giá trị cao. Đây là một thách thức nhưng cũng là một cơ hội đặt ra với Bình Dương sau khi đã có kinh nghiệm hơn 20 năm phát triển công nghiệp khá thành công.

KCN KHCN tỉnh Bình Dương có vị trí khá thuận lợi khi nằm liền kề với 2 trục giao thông quan trọng kết nối với TP.HCM là quốc lộ 13 và đường Mỹ Phước – Tân Vạn. Ngoài ra, tuyến nhánh của đường Hồ Chí Minh cũng đi qua KCN này tạo ra sự kết nối dễ dàng với Bình Phước và các tỉnh Tây Nguyên. Các yếu tố kỹ thuật như nguồn điện ổn định, đường truyền internet tốc độ cao, các nguồn năng lượng tái tạo… cũng được Bình Dương chuẩn bị để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp vào KCN khoa học công nghệ.

Giải pháp đột phá vận chuyển hàng hóa

Một trong những yếu tố hàng đầu nhà đầu tư quan tâm và tác động nhiều tới giá thành sản phẩm, năng suất lao động là việc vận chuyển nguyên liệu, hàng hóa từ các KCN tới các cảng và ngược lại. Hiện nay, việc vận chuyển hàng hóa bằng container tới các cảng ở Bình Dương nói riêng và khu vực lân cận nói chung chủ yếu phụ thuộc vào đường bộ (chiếm tới 70%). Trong khi việc vận chuyển container bằng đường bộ tới các cảng hiện nay thường xuyên đối mặt với nguy cơ kẹt xe, tai nạn giao thông… nên giảm sức cạnh tranh đáng kể trên trường quốc tế.

Bình Dương xây dựng khu công nghiệp khoa học công nghệ - Ảnh 2.

Đồ họa: TUẤN ANH

Theo tìm hiểu, hiện các bộ phận chức năng tỉnh Bình Dương đang đề xuất và nghiên cứu xây dựng một tuyến đường sắt chuyên dùng để vận chuyển container giữa KCN và các cảng. Ý tưởng này cũng phù hợp với quy hoạch chi tiết đường sắt khu vực đầu mối TP.HCM đã được Chính phủ phê duyệt. Theo đó, Bình Dương nghiên cứu để đề xuất thực hiện một số đoạn của các tuyến đường sắt này với tổng chiều dài khoảng 100km. Khi hình thành, tuyến đường sắt này sẽ kết nối các KCN của Bình Dương thẳng với các cảng tại Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai và TP.HCM.

Theo các chuyên gia, để vận chuyển một container từ Bình Dương tới cảng ở TP.HCM bằng đường bộ hiện nay phải mất ít nhất 8-10 giờ. Trong khi nếu vận chuyển container bằng đường sắt, với tốc độ thiết kế 120km/h cho tàu chở hàng, có thể chỉ mất 2 giờ đã tới cảng.

Bình Dương cũng nghiên cứu triển khai 3 trung tâm logistics lớn nằm dọc tuyến đường sắt chuyên dùng được quy hoạch gồm: trung tâm logistics nằm kế bên KCN KHCN tại Bàu Bàng, một trung tâm logistics tại VSIP 2 và trung tâm tại Thái Hòa. Các trung tâm logistics này sẽ là đầu mối tiếp nhận và phân phối hàng hóa, nguyên liệu cho các KCN lân cận.

Tuyến đường sắt chuyên dùng sẽ tạo thuận lợi tốt hơn cho doanh nghiệp vận chuyển hàng hóa, đồng thời góp phần giảm áp lực cho hệ thống giao thông đường bộ trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam.

 

B.SƠN – TuoiTre.vn