NHÂN KỶ NIỆM 10 NĂM TÁI LẬP TỈNH 1.1.1997- 1.1.2007: TÌM HIỂU NGUỒN GỐC ĐỊA DANH BÌNH DƯƠNG

xe-ngua-pho-phuong-sai-gon-xua-pasoto-10

Địa chí Sài Gòn – Gia Định xưa cùng các tập san sử địa xuất bản tại Sài Gòn trước năm 1975 cho rằng Bình Dương là một địa danh lịch sử, xuất phát từ thời Trung cổ Trung Quốc. Bình Dương là đất khởi nghiệp của vua Nghiêu và sau này là kinh đô của ông khi lập nền thịnh trị cho Trung Quốc cổ. Do điển tích Đường Ngu, đào đường, tên chữ là Phóng Huân, mẹ là Khanh Đô có thai 14 tháng mới sinh ra ông. 20 tuổi đã làm vua, đóng đô tại đất Bình Dương. Khi làm vua, Nghiêu chỉ ở nhà tranh, vách đất, ăn mặc như thứ dân, ngày cày ruộng cùng dân, đêm đọc sách Thánh hiền, suốt thời gian cai trị dân chúng thái bình, thịnh trị, không trộm cắp, trên dưới hòa thuận an lành. Có thể nói, ngay từ lúc mới xuất hiện Bình Dương vốn đã đẹp rồi. Từ Bình Dương xuất hiện việt Nam là vào khoảng năm 1692 khi Lễ Thành Hầu, Nguyễn Hữu Cảnh được lệnh Hiển Tông Hoàng Đế sang kinh lược đất Cao Miên và thiết lập hệ thống quản lý hành chánh cho vùng đất này, lấy đất Nông Nại đặt là Gia Định phủ, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Côn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn. Dinh Phiên Trấn được chia làm hai tổng là: Tân Bình và Bình Dương. Khi mới thành lập quy chế còn lỏng lẻo, người hai huyện được phép sinh sống làm ăn xen kẽ nhau. Như người huyện Phước Long có thể sang lập nghiệp trong huyện Tân Bình, vì thế trong huyện Tân Bình có tổng Phước Lộc. Và huyện Tân Bình sang lập nghiệp bên huyện Phước Long, vì thế trong huyện Phước Long có tổng Bình An. Sau này Bình An và Phước Lộc thành huyện. Huyện Bình An và huyện Bình Dương tuy thuộc hai tỉnh khác nhau, nhưng cùng ở hai bên bờ sông Sài Gòn, về phía bắc huyện Bình An xứ Dầu Tiếng ở ngay tả ngạn sông Sài Gòn kể từ rạch Thị Tính tới biên giới Campuchia đương thời thuộc địa phận Bình Dương. Đó chính là địa phận tổng Dương Hòa Hạ, một trong sáu tổng của huyện Bình Dương. (Dương Hòa Hạ, Dương Hòa Thượng, Dương Hòa Trung, Bình Trị Thượng, Bình Trị Hạ, Bình Trị Trung). Như vậy, địa danh Bình Dương xuất hiện ở Việt Nam trong sự chia cắt dinh Phiên Trấn. Bình Dương thời ấy là cả một vùng đất rộng lớn kể từ bắc Sài Gòn chạy dài và một phần đất Long An, Gia Định cho đến giáp với Tây Ninh. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí! Trong phần nói về tỉnh Gia Định xưa cũng có nghi ”… Năm Mậu Dần (1698) vua Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế lại lệnh cho Thống suất chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược đất ấy năm Canh Tuất (1790) bắt đầu đắp thành bát quái ở trên gò thôn Tân Khai, tổng Bình Dương gọi là Gia Định Kinh…” cũng là sách Đại Nam Nhất Thống Chí trong phần nói về huyện Bình Dương ghi tiếp ”Bản triều lúc đầu đặt làm tổng Bình Dương, năm Gia Long thứ 7 mới thăng huyện”. Như vậy có thể nói địa danh Bình Dương đã có vào khoảng năm 1692 -1790 cách nay hơn 300 năm. Còn sách viết về ”Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh với cuộc khai sáng miền Nam Việt Nam cuối thế kỷ thứ 17 đã viết: Về phần cư dân người Việt vùng Gia Định thuở ấy đa số là người tứ xứ, nhưng nhiều nhất là dân Quảng Bình (…) theo nối vết chân kinh lược của thống suất Nguyễn Hữu Cảnh thì nhận thấy nhiều vùng đất miền khai sáng đều được ghép chữ bình hoặc chữ tân vào đằng trước hoặc đằng sau địa danh mới để đặt tên như: Bình Long và chữ bình vốn xuất xứ từ huyện Tân Bình ở tỉnh Quảng Bình. Ta cũng biết Bình Dương và Tân Long là hai huyện của phủ Tân Bình tỉnh Gia định xưa. Sự lắp ghép chuyển dịch này vẫn còn tiếp diễn, ta có thể dễ dàng tìm thấy hàng loạt địa danh bắt đầu bằng chữ Bình và chữ Tân trên địa bàn miền Nam và đặc biệt ở vùng đất Bình Dương ngày nay như: Bình Hòa, Bình Chuẩn, Bình Nhâm…; Tân Thới, Tân Định, Tân Khánh. Sự chuyển dịch này đã không dừng lại hai chữ Tân và Bình mà còn nhiều địa danh khác thuộc vùng Nam bộ, ví như tên xã Hưng Định của huyện Thuận An hiện nay, mặc dầu không liên quan đến bình và tân nhưng cũng phán nào để minh chứng cho nguồn gốc của một địa danh. Xã Hưng Định được phôi thai từ thời vua Gia Long (1802-1819), do công của ông tổ có tên là Bình, quê ở Quảng Bình làm quan giữ chức Tri Châu. Sau khi về hưu, ông cùng gia đình đến vùng đất Lái Thiêu để sinh sống. Lúc đó, ở vùng đất này còn là vùng rừng và đầm lầy rộng lớn, gia đình ông đã khai hoang và lập làng. Làng mới này mang tên hai người con của ông: Làng Hưng Định (Nguyễn Thị Hưng và Nguyễn Văn Định) làng Hưng Định xưa bây giờ là xã Hưng Định.

khonganhchothudaumot

Sự chuyển dịch tên gọi thân quen để đặt tên cho vùng đất mới cũng là một điều dễ hiểu, một mặt đó như là một sự nhắc nhở một chút tướng vọng về quê cũ, mặt khác như là một niềm an ủi khi phải rời xa quê hương mà mơ ước đến một tương lai ngày một tươi sáng hơn. Nếu đem so sánh với một số địa danh Nam bộ nhượng Nai, về nguồn gốc xuất xứ cũng như về ý nghĩa lịch sử thì địa danh Bình Dương có phần khác so với Đổng Nai. Nếu tên Bình Dương xuất hiện từ thời Trung cổ Trung Quốc hay xuất hiện từ thời khai sáng vùng đất mới khi Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất Cao Miên, năm 1692 do sự chuyển dịch tên gọi thân quen của cư dân Ngũ Quảng mang theo thì tên Đồng Nai theo Pigneau De Béhaine tác giả của cuốn Từ điển An Nam – La Tinh, nguồn gốc địa danh Đồng Nai, xuất hiện vừa bằng chữ Nôm vừa bằng chữ Quốc ngữ. Hai chữ này, cũng được Lê Quý Đôn, Trịnh Hoài Đức sử dụng với ý nghĩa là: ”Cánh đồng có những con nai” đồng ở đây được hiểu là cánh đồng, nai được hiểu là con nai, (rất thuần việt) với ngụ ý ở khu vực này là những cánh đồng rộng lớn cây cối xanh tươi và có nhiều hươu nai sinh sống. Khi dịch địa danh này sang chữ Hán các nhà nho đã dùng ngụ trên để dịch thành hai từ lộc dã. Lộc là con nai, dã là cánh đồng, ấy vậy mà người ta dùng chữ đồng trong cánh đồng và nai trong con nai để ghép lại thành đồng Nai, với ý nghĩa ”cánh đồng có những con nai” So sánh cũng có nghĩa là để hiểu rõ hơn về nguồn gốc xuất xứ và ý nghĩa lịch sử của một địa danh trong mỗi lần chúng ta dạo bước tìm về quá khứ. Kỷ niệm 10 năm tái lập tỉnh cũng là dịp để chúng ta tìm về cội nguồn, ôn lại truyền thống của cha ông ta trong công cuộc chinh phục cũng như bảo vệ thành quả công cuộc chinh phục vùng đất mới phía Nam của Tổ quốc. Đặc biệt, đây chính là dịp để chúng ta thực hiện tốt hơn những niềm mong ước của các ngài trong thời đại mới. Rằng, xây dựng một Bình Dương giàu mạnh, văn minh và hiện đại, một Bình Dương phát triển lành mạnh, trong sáng và đẹp đẽ, xứng đáng là vùng ”đất lành chim đậu” vốn cách đây hơn 300 năm đã là xứ sở của hội tụ. Xứ sở mà cha ông ta đã dùng danh từ ”Bình Dương” để đặt tên cho vùng đất thân yêu của mình.

 

Tài liệu tham khảo

1. Thư mục toàn văn “Bình Dương đất nước con người”, tập I năm 2002.

2. Tạp chí xưa và nay- Hội khoa học lịch sử Việt Nam, năm 1997.

3. Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam bộ và tiếng Việt văn hóa. NXB Khoa học xã hội năm 2005.

4. Kỷ yếu giáo phận Phú Cường 1965-2005. NXB Tôn giáo năm 2005.

5. Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh với công cuộc Khai sáng miền Nam nước Việt cuối thế kỷ XVII. NXB Văn học năm 1997.

Hội Khoa Học Lịch Sử Bình Dương

Sugia.vn

Về lịch sử người Minh Hương và người Hoa ở Nam Bộ

minhhuong

 

Tác giả: Nguyễn Đức Hiệp

Trong lịch sử khẩn hoang ở Nam bộ, sự đóng góp của người Minh hương và Hoa từ xưa đến nay về kinh tế, văn hóa thật là to lớn. Bao nhiêu danh nhân Việt nam trong lịch sử là có gốc Minh hương, từ Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Châu Văn Tiếp, Phan Thanh Giản, Phan Xích Long.. đến những nhân vật có tên tuổi trong văn hóa nghệ thuật gần đây như Hồ Dzếnh, Trịnh Công Sơn, Vương Hồng Sển, Lý Lan… Họ đã hòa nhập thành người Việt. Đã có nhiều tư liệu viết về Mạc Cửu và xứ Hà Tiên, với văn học Hà Tiên độc đáo, đỉnh cao của người Minh hương đến khai khẩn Nam bộ. Ở đây tôi sẽ chú trọng về người Minh hương và Hoa ở những vùng khác trên Nam bộ, chủ yếu là vùng Đồng Nai-Gia Định.

I. Lịch sử ban đầu – Những nhân vật tiên phong khai phá

Ngoài Hà Tiên, thì nơi phát triển đầu tiên của người Minh hương là xứ Đồng Nai, gồm Cù lao phố, Biên Hòa, Bến Nghé-Chợ Lớn. Nông Nại đại phố tức là Chợ Lớn của xứ Đồng Nai. Đồng Nai âm theo tiếng Quảng Đông là Nông Nại. Một trong những người đến cùng thời với Trần Thượng Xuyên (hay còn gọi là Trần Thắng Tài) là ông nội của Trịnh Hoài Đức từ tỉnh Phúc Kiến. Trong miếu Quan Đế ngày nay, ông có tên trong danh sách những người sáng lập ra miếu này ở Cù Lao phố năm 1684 (nay là xã Hiệp Hoà). Miếu Quan Đế (Chùa Ông) hiện nay vẫn còn và là miếu thờ cổ nhất ở Nam bộ. Và cha của Trịnh Hoài Đức sau đó cũng góp công vào hương khói của chùa Quan Đế.

Tư liệu quí giá và phong phú nhất về lịch sử khai khẩn Nam bộ là quyển Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức. Trịnh Hoài Đức lúc thiếu thời học với Võ Trường Toản.

Trịnh Hoài Đức viết về Cù lao Phố (18): “Nông Nại (tức Đồng Nai) đại phố, lúc đầu do Trần Thượng Xuyên khai phá, tức Trần Thắng Tài chiêu tập người buôn nước Tàu đến kiến thiết phố xá mái ngói tường vôi, lầu cao, quán rộng, dọc theo bờ sông liên lạc dài 5 dặm, chia và vạch làm 3 đường phố, đường phố lớn lót đá trắng, đường phố ngang lót đá ong, đường phố nhỏ lát gạch xanh, đường rộng bằng phẳng, kẻ buôn tụ tập, ghe thuyền lớn ở biển và ở sông đến đậu, ấy là một chỗ đại đô hội mà những nhà buôn bán giàu có ở đây là nhiều nhất hơn thảy những nơi khác”.

Cù lao Phố trở thành một cảng quan trọng đầu tiên của Nam bộ, đón nhận thương thuyền nước ngoài, hưng thịnh suốt khoảng 90 năm từ khi Trần Thượng Xuyên đến với quân đội, suy thoái từ khoảng 1775, tức là khoảng sau 90 năm, để nhường cho Chợ Lớn, Bến Nghé (Sài Gòn) sau này. Trước khi Trần Thượng Xuyên được chúa Nguyễn đưa đến cù lao Phố, đã có người Việt từ miền Trung đến ở núi Dinh (Mô Xoài) vùng Bà Rịa từ năm 1658 và vùng Long Thành. Nhờ vậy, khi Trần Thượng Xuyên đến cù lao Phố đã có dân Việt, dĩ nhiên người dân tộc như người Mạ, người Khmer, Chăm cũng tới lui trao đổi hàng hóa.

Trần Thượng Xuyên đến với quân sĩ và gia đ ình mang theo, nhiều binh sĩ này vẫn tiếp tục cầm vũ khí theo đuổi binh nghiệp nhưng một số lập nghiệp tại vùng đất mới. Sau một thời gian, thêm một số cư dân và thương gia đến sau, với vốn liếng để lập chợ. Cù lao Phố trở thành cảng sầm uất xuất nhập khẩu, với kho hàng dự trữ hàng hóa nhập vào và dự trữ hàng hóa thâu mua từ nhiều nguồn của cư dân sống trong vùng Đồng Nai như lâm sản, ngà voi, nai, heo rừng, sừng tê giác..

Nguyễn Hữu Cảnh, do chúa Nguyễn gởi vào sau này để cai quản vùng đất mới, đến Cù lao Phố ngay lúc cù lao với cảng đang hưng thịnh, nhưng trụ sở hành chánh và đồn binh đặt ở Sài Gòn. Ông Nguyễn Hữu Cảnh vào cù lao Phố với thủy quân. Khi ông mất ở Rạch Gầm, quan tài được đưa về Cù lao Phố, rồi từ đấy về miền Trung theo đường thủy, chôn ở quê ông là Quảng Bình. Chứng tỏ Cù lao Phố lúc đó là cảng quan trọng, sầm uất nơi cập bến của tàu bè khi đi và đến Đồng Nai, cửa ngỏ của Nam bộ. Hiện nay ở Cù lao Phố còn đền thờ mộ tượng trưng ông, do dân chúng thiết lập để nhớ ơn ông.

Cù lao Phố bắt đầu suy thoái khi lưu dân càng xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long càng nhiều, biến vùng Mỹ Tho và các vùng phụ cận thành nơi sản xuất lúa gạo, cây trái, thủy sản lớn nhất của miền đất mới Gia Định – Đồng Nai. Hơn nữa Cù lao Phố thiếu hàng hóa đưa ra ngoài vì lâm sản dần dần ít đi và không còn là sản phẩm chính cần ở thị trường. Nhiều thương gia lần đời xuống Sài Gòn-Chợ Lớn để mua bán nguồn lúa gạo dồi dào của đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu dư để xuất đi nhiều nơi ở Đàng Ngoài và nhiều nơi khác mà lúa gạo là nhu yếu phẩm chính. Cù Lao Phố tàn lụi và chấm dứt khi quân Tây Sơn do Nguyễn Nhạc đến tấn công, đốt phá phố cù lao và giết rất nhiều người Minh hương trong vùng. Đại Nam nhất thống chí ghi rõ quân Tây Sơn đến “dỡ lấy hết nhà cửa, gạch đá của cải chở về Quy Nhơn, từ đời Gia Long trung hưng tuy người ta có trở về, nhưng trăm phần chưa được một”. Những người sống sót đều chạy xuống vùng Bến Nghé và Chợ Lớn lập phố xá và chợ mới gần chợ Tân Kiểng. Từ đó Chợ Lớn càng trở nên phát triển hơn và là trung tâm thương mại ở Gia Định và miền Nam.  Thương thuyền khắp nơi vào buôn bán và chở sản phẩm như lúa gạo đi các vùng và các nước như Trung quốc và Mã Lai.

Năm 1822, khi người Anh ỏ Bengal (Ấn độ) và Singpapore gởi ông John Crawfurd vào Gia Định gặp Tổng trấn Lê Văn Duyệt để tìm hiểu về thương mại, Crawfurd có viết về Chợ Lớn (lúc đó gọi là Saigon) và Bến Nghé như sau “..Đây là lần đầu tiên tôi tới Saigun (Sài Gòn) và Pingeh (Bến Nghé). Và tôi bất ngờ thấy rằng nó không thua gì kinh đô nước Xiêm. Về nhiều mặt trông nó còn sầm uất hơn, không khí mát mẻ hơn, hàng hóa phong phú hơn, giá cả hợp lý hơn và an ninh ở đây rất tốt, hơn nhiều kinh thành mà chúng tôi đã đi qua. Tôi có cảm giác như đây là một vương quốc lý tưởng. . . . Dinh Tổng trấn khá đồ sộ và uy nghiêm. Các thành trì nằm ở bờ sông An Thông hà. Nơi đây buôn bán sầm uất. Dân xiêu tán tới đây được Tổng trấn cho nhập hộ tịch, qua một hai đời đã trở thành người Gia Định. Đông nhất nơi đây là dân Trung Hoa. Các dân tộc nơi đây được nhà nước bảo hộ và họ đều có nghĩa vụ như nhau. Tất cả đều được sống trong bầu không khí an lành. Trộm cướp không có. Người ăn mày rất hiếm. Tổng trấn rất nhân từ, tha cả bọn giặc, bọn phỉ, bọn trộm cướp ăn năn. Nhưng ông lại rất tàn bạo với bọn cố tình không chịu quy phục triều đình. Chưa ở đâu kỷ cương phép nước được tôn trọng như ở đây.. . . Ở đây chúng tôi mua được rất nhiều lúa gạo, ngà voi, sừng tê giác, các hàng tơ lụa, đũi thật đẹp.”. Cũng theo Crawfurd thì ở Chợ Lớn nhà cửa của thương gia Trung Hoa đồ sộ hơn nhà cửa của người Việt nhiều. Đang khi John Crawfurd đi thơ thẩn, ba gia đình Trung Hoa loại khá giả nhất đã ra cửa mời ông vào chơi (20).

Nếu cảng cù lao Phố vẫn còn thì đây là khu phố cổ thương mại thứ hai ở Việt Nam sau phố cổ Hội An, được thành lập với sự đóng góp lớn của người Hoa. Cách đây 14 năm (1993), mộ tướng Trần Thượng Xuyên được khám phá nằm ở Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, cạnh hữu ngạn sông Đồng Nai, mà tôi có dịp đến thăm (9). Đình Tân Lân, ỏ thành phố Biên Hòa, cạnh cù lao Phố là nơi thờ tướng Trần Thượng Xuyên có sắc phong của vua Minh Mạng. Được xếp hạng là một di tích lịch sử văn hóa. Đình ở vị trí rất đẹp, trước măt đền là sông Đồng Nai với cây cổ thụ lớn ngay cạnh sông. Tân Lân là tên gọi của vùng bên phía chợ Biên Hòa nơi tướng Trần Thượng Xuyên xưa kia đóng quân, sử ghi là xứ Bàn Lân, sau đổi là Tân Lân. Bàn Lân có thể là do chữ Bằng Lăng nói trại ra. Cây bằng lăng là cây bản địa, mọc rất nhiều trước đây trong vùng Đồng Nai và Gia Định. Hiện nay cây bằng lan còn có thể tìm thấy trong các rừng còn lại ở Đông Nam bộ (như rừng Cát Tiên) và một vài tỉnh ở Tây nguyên (Lâm Đồng, Dak Lak).

II. Văn hóa

Có thể thấy được sinh hoạt văn hóa sinh động của người Hoa trước đây và hiện nay thì không có gì hơn là đến khu Chợ Lớn. Tôi đi cùng với một người bạn gốc Hoa vào Chợ Lớn thăm viếng các nhà văn hóa người Hoa. Trong Nhà truyền thống góc đường Triệu Quang Phục và Nguyễn Trãi (xưa gọi là đường Cây Mai) thường có triễn lãm và các hình ảnh xưa ở Chợ Lớn cùng các sản phẩm mỹ thuật. Nhà Truyền thống trước đây là nhà hát Tam Đa của người Hoa trong vùng. Cạnh nhà truyền thống ở số 137 đường Triệu Quang Phục là trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc, chủ yếu là của người Hoa. Trụ sở là Hội quán của chùa bà (Thiên Hậu) cho mượn. Chùa Thiên Hậu nằm ở góc đường Nguyễn Trãi và Triệu Quang Phục. Đường Triệu Quang Phục xưa là đường Canton (Quảng Đông) trong thời Pháp và là trung tâm Chợ Lớn. Phim “Người Tình”, phỏng theo tự truyện ‘L’Amant‘ của nhà văn nữ Pháp Margurette Durras, được quay ở đường này. Nhà Xã Tây ở cạnh đây (gọi là Xã Tây vì là tòa nhà hành chính của Pháp chuyên lo chuyện nhập, xuất cảnh và giấy tờ). Vùng này ngày xưa cũng được gọi là Minh Hương xã.

Anh Trần Đại Tân, người Triều châu, quê ở Sóc Trăng là người biết nhiều về lịch sử người Minh hương ở Nam bộ. Anh Tân tặng tôi quyển sách của anh viết về người Hoa ởNam bộ (4). Nói chuyện về các địa lý và phố xưa cũng như các người Hoa danh tiếng trong lịch sử và hiện nay, như Trần Thành trước đây và Lý Ngọc Minh hiện nay với xưởng gốm ở Bình Dương.  Hoạt động của Hội gồm hội họa, thư pháp, nhiếp ảnh, xuất bản văn học. Ngoài ra còn có ban bảo trợ văn hóa người Hoa, với chi hội ca múa nhạc có trụ sở là nhà văn hóa Quận 5, gần Đại Thế giới, đường Trần Hưng Đạo.

Từ hội quán, chúng tôi đi bộ đến thăm chùa Thiên Hậu do người Hoa Quảng Đông xây dựng, rất nhiều du khách nước ngoài viếng thăm. Kiến trúc chùa rất đẹp với các tượng trên nóc, mái chùa bằng sành sứ rất công phu và các tranh khắc trên tường là những tuyệt tác rất trang nhã của nghệ thuật người Hoa. Cạnh chùa Thiên hậu là đền Tam Sơn, trên đường Triệu Quang Phục, của người Phúc Kiến (Phúc Châu), nơi đây thờ Ngọc Hoàng, Quan âm, Quan công.., không có chữ quốc ngữ chỉ có chữ Hán trong và ngoài đền. Theo anh Tân, thì kế bên đền Tam Sơn, xưa kia có Thất phủ cổ miếu, nhưng đã bị phá đi, hiện nay là xí nghiệp in, chỉ còn lại một bức tường. Đây là một mất mác văn hóa to lớn.

Đến Đình Minh Hương Gia Thạnh trên đường Trần Hưng Đạo, gặp lại bác Vương Quang Tâm, hiện nay là người cai quản đình mà năm trước tôi có đến. Đình là tòa nhà cổ nhất Saigon, xây năm 1789, được công nhận là một di tích lịch sử. Năm 1698, ở vùng này đã hình thành nên làng Minh Hương ở Gia Thạnh, làng Minh hương còn để lại câu ca dao

Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng

Đố ai lịch sự cho bằng làng Minh Hương.

Lần trùng tu cuối cùng của đình là vào năm 1921. Trong đình, bên phải thờ Trần Thượng Xuyên (có 2 di ảnh tướng Trần Thượng Xuyên) và Nguyễn Hữu Cảnh, bên trái thờ Trịnh Hoài Đức và Ngô Gia Tịnh. Cạnh đó là 1 chuông đồng do vua Minh Mạng tặng, với sắc phong và chuyển tên từ làng thành đình. Chuông được gióng một năm một lần vào ngày 16/1. Sau chánh điện là sân rất rộng gọi là Thiên Quang Tỉnh (giếng trời). Đình Minh hương Gia Thạnh cũng là nơi tề tựu, gặp gỡ của nhóm Bình Dương thi xã, sáng lập bởi Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, với nhiều nhân sĩ đến đây để ngâm thơ, xướng họa vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19.

Chùa Giác Lâm là ngôi chùa thuộc loại xưa nhất Saigon. Chùa nằm ở Phú Thọ Hoà kế quận 5 (nay là đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình), vẫn còn giữ nguyên không thay đổi nhiều sau bao năm từ lúc thành lập. Chùa được cư sĩ người Minh hương tên là Lý Thụy Long xây dựng vào năm 1744 ở vùng thanh vắng nhiều cây cối không xa chùa Cây Mai và Gò cây mai, một nơi thanh lam thắng cảnh của Gia Định mà Gia Định thi xã của Trịnh Hoài Đức thường hay nhóm họp làm thơ. Lý Thụy Long có tên riêng là Cẩm, chuyên nghề đan đệm bán nên người địa phương gọi là ông Cẩm Đệm. Vì  thế chùa còn có tên là  Cẩm Sơn, Sơn Can hay Cẩm Đệm. Năm 1772 hòa thượng Viên Quang tới trụ trì, từ đó mới đổi tên chùa là Giác Lâm. Khi xưa lúc chùa được xây dựng như một cái am, xa cư dân, rất thanh vắng, cây cối rậm rạp, thích hợp cho sự tu dưỡng, tu hành. Trong quyển Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức đã miêu tả cảnh chùa như sau: “Chùa toạ lạc trên gò Cẩm Sơn, cách phía Tây lũy Bán Bích ba dặm…, cây cao như rừng, hoa nở tựa gấm, sáng chiều mây khói nổi bay quanh quất, địa thế tuy nhỏ mà nhã thú!…”. Chùa hiện nay được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

Nghề làm gốm là nghề tiểu công nghiệp lâu đời, bắt đầu từ khi người Minh hương đến định cư ở xứ Đồng Nai. Hiện nay ở tỉnh Đồng Nai và Bình Dương, đa số các chủ lò gốm là do người Việt gốc Hoa, hay Minh hương đảm trách. Họ đã làm nghề này cha truyền con nối bao nhiều đời cho đến nay. Đây là hai trung tâm gốm sứ lớn nhất Nam bộ với nhiều thợ, nghệ nhân người Hoa. Vào thế kỷ 18, đã tồn tại một trung tâm gốm sứ mang tên Xóm Lò Gốm ở vùng quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (phía Chợ Lớn). Xung quanh vùng này còn có nhiều địa danh như Lò Rèn, Xóm Lò Siêu, xóm Lò Gạch .. Địa bàn xóm Lò Gốm xưa khá rộng, gồm các làng Hòa Lục (quận 8), Phú Định-Phú Lâm (quận 6), Phú Giáo-Gò Cây Mai (quận 11) trải dài đôi bờ kênh Ruột Ngựa, kênh-rạch Lò Gốm. Những con kênh này là tuyến đường giao thông chính của khu vực Chợ Lớn, dùng ghe xuồng chở hàng sản xuất đến các tỉnh miền Tây (15).

Gốm vùng Saigon-Gia Định-Đồng Nai ở thế kỷ 18,19 và 20 nổi tiếng có đặc thù riêng và nổi tiếng tốt mà nhiều nhà văn hóa sử, khảo cổ trước đây gọi là gốm “Cây Mai” (được biết đến qua những gốm xưa tìm được ở gò Cây Mai và khu vực đường Cây Mai, Chợ Lớn) nay được xếp loại và gọi chung là gốm Biên Hòa, Saigon. Ngày nay chỉ còn lại di tích lò gốm Hưng Lợi thuộc làng Hòa Lục (phường 16 quận 8), gần làng Phú Định, nằm ven kênh Ruột Ngựa, của xóm Lò Gốm xưa. Cuộc khai quật năm 1997-1998 đã tìm thấy tại đây phế tích 3 lò gốm, trên một gò lớn chứa đầy mảnh gốm của các loại lu, khạp, siêu, chậu.. (15) Ngày nay những nơi còn tiếp tục truyền thống gốm cổ truyền của người Hoa hiện nay còn rõ nhất ở những lò làm lu gốm ở Biên Hòa hoặc ở khu vực Q.9 TPHCM (Thủ Đức cũ, gần Công viên Văn hóa dân tộc đang xây dựng), và một số cơ sở nhỏ sản xuất đồ gốm gia dụng ở vùng Lái Thiêu.

III. Ngôn ngữ

Ngoài ra, anh hưởng văn hóa mà người Minh Hương để lại sâu đậm nhất trong đời sống Nam bộ là ngôn ngữ. Tiếng Việt miền Nam được lưu dân Minh hương và Hoa mang vào bổ xung cho tiếng Việt thêm phong phú. Theo Bình Nguyên Lộc, những từ sau có nguồn gốc Minh hương (19)

Các từ gốc Triều Châu

Lẩu: Có nguồn gốc từ lẩu là một món canh của Triều Châu, đựng trong một thứ bát đặc biệt bằng Laiton.

Tía: Chính các chú rể Triều Châu, lưu vong nhà Minh đã đưa ra danh từ Tía vào Nam, và bị ta hiểu là Cha.

Hên: Do Hưng. Triều Châu đưa vào và họ đọc là Hinh thì đáng lý ta phải viết là Hênh.

Xui: Tiếng nầy đất Bắc có nhưng vay mượn lâu đời hơn và nói là Xúi Quẩy. Do chữ Suy mà ra, đọc theo Triều Châu, Hên Xui = May Rủi.

Khổ Tai: Một món ăn khác mà dân miền Nam rất ưa và họ gọi là KHỔ TAI. do người Triều Châu đọc Hô Tai (Hải Táo), một thứ rong biển mà họ nấu với đường để bán cho dân miền Nam ăn.

Các từ gốc Quảng Đông

Xí Mụi: do Quảng Đông gọi Xíu Mụi, chữ Nho là Tiêu Mai.

Công xi: Công Ty, do Quảng Đông đưa vào.

Hủ tiếu: Không biết chữ ra sao, nhưng do Quảng Đông đưa vào, họ nói là Phải, không hiểu sao ta lại biến thành Hủ Tiếu.

Xíu Mại: Không biết chữ nghĩa ra sao, nhưng đa số các món ăn đều do Quảng Đông đưa vào.

Chạp Phô: Chỉ là Tạp hóa. Nhưng chính người Quảng Đông lại cho nó cái nghĩa hạn chế là thực phẩm: trứng vịt, tôm khô, cá khô,v.v. còn các cửa hàng bán các thứ khác cũng tạp nhạp lại không được gọi là chạp phô.

Giò Chá Quảy: Thật đúng là Dầu chá quảy tức con quỷ nướng trong dầu, chỉ loại bánh bột mì chiên mỡ.

Ly: Cốc bằng pha lê, người Quảng Đông gọi là Pò Lý Púi, tức Pha Lê Bôi, ta nuốt hết, chỉ chừa lại Lý và đọc là Ly.

Xì Thẩu: Chữ Nho là Sự Đầu, chủ sự, nhưng bị ta hiểu là Ông chủ.

Điều này cho ta thấy miền Nam ban đầu chịu ảnh hưởng nhiều của phong tục, sinh hoạt, tập quán người Minh Hương.

IV. Các tỉnh ở Nam bộ

Trong năm 2007, tôi đã có dịp đi thăm một số tỉnh, thị xã ở Nam bộ, sau đây là một vài nét sơ lược về người Minh Hương và Hoa ngày nay ở các tỉnh Nam bộ

Cần Thơ: Dọc bến Ninh Kiều, bên sông Hậu có chùa Ông của người Quảng Đông. Chùa được xây ở một vị trí khác cách đây hơn 70 năm, chùa được dời đến vị trí đẹp ở bến Ninh Kiều gần đây sau này. Kiến trúc chùa bên trong được xây theo chữ Quốc. Bên trái khi bước qua công là tượng tướng Mã Tiền đứng cạnh tượng ngưa, bên phải là tượng thờ ông Phước mang đến may mắn. Giữa đền thờ Quan Công. Dọc theo bến Ninh Kiều, đường Hai Bà Trưng, gần phía khu chợ ngày trước, còn vài nhà xưa của người Hoa và nhiều cửa tiệm của người Hoa trên các đường Châu Văn Liêm, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Võ Văn Tần đổ ra bến Ninh Kiều. Sau năm 1975, cộng đồng người Hoa ở Cần Thơ có ít đi nhiều so với trước.

Sóc Trăng:  Ngoài thị xã Sóc Trăng, có rất nhiều cửa hiệu bán bánh pía từ các cơ sở làm bánh pía An Thành, Tân Hưng, Công Lệ Thành…  bánh pía là đặc sản Sóc Trăng của người Hoa Triều Châu làm ra. Nhiều vùng ở tỉnh Sóc Trăng, như huyện Vĩnh Châu, nơi có nhiều vườn nhãn, có rất nhiều người Khmer và Hoa cư ngụ, hơn cả người Việt. Đa số dân ở vùng này nói 3 thứ tiếng Khmer, Triều Châu, Việt. Thị xã Sóc Trăng nay đã trở nên phồn thịnh phát đạt, phố xá ban đêm rất đông đảo xe cộ. Đường Hai Bà Trưng gần chợ có nhiều cửa tiệm người Hoa, không khác gì đường Trần Hưng Đạo, Chợ Lớn. Trên đường Trần Minh Phú góc đường Ngô Quyền là Hội tương tế người Hoa (18-20 Trần Minh Phú) gần bờ sông Sóc Trăng. Một trong những nhân vật văn hóa nổi tiếng sinh ra ở Sóc Trăng là ông Vương Hồng Sển, người gốc Triều Châu. Ông đã ghi lại và sưu tập những chuyện xưa, sự kiện từ đầu thế kỷ 20 xảy ra ở Nam bộ và vùng Saigon Gia Định, để lại nhiều tài liệu quý giá. Hiện nay bộ sưu tập gốm của ông được đặt ở phòng mang tên Vương Hồng Sển trong Viện Bảo tàng Lịch sử, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bảo Lộc: Thị trấn lớn và trù phú nhất Lâm Đồng sau Đà Lạt là Bảo Lộc, giàu có nhờ các đồn điền trà và cafe chung quanh vùng. Ở đây có cộng đồng người Hoa khá đông so với các vùng khác trong tỉnh. Tôi có ghé vào tiệm bán trà, cafe Lâm Kim Hoa của người Hoa. Chủ là 2 chị em gốc Phúc Kiến, người chị đang ở Mỹ, có đồn điền mướn nhiều công nhân và người giúp việc ở tiệm trưng bày và thử trà, cafe. Gần Ninh Chữ, Ninh Thuận, có một nghĩa trang Triều Châu, ở Phan Rang cộng đồng người Hoa có khoảng từ 3000 đến 4000 người.

V. Nhân vật

Không thể liệt kê hết các nhân vật người Minh hương từ trước đến nay trong quá trình lịch sử nhiều thời đã đóng góp vào văn hóa Việt Nam như Võ Trường Toản, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh, Phan Thanh Giản, Mạc Thiên Tích, Vương Hồng Sển… Ở đây chỉ nêu lên vài nhân vật tiêu biểu của các thời kỳ đã qua trong lịch sử.

Trịnh Hoài Đức

Ông nổi tiếng và được nhớ đến nhiều trong lịch sử không phải là vì ông là một vị đại thần dưới hai triều vua Gia Long và Minh Mạng được trọng dụng và làm đến chức Thượng thư bộ Hộ mà là vì tác phẩm “Gia Định thành thông chí ” có giá trị văn hóa, địa chí về miền Nam trong giai đoạn mở mang cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Tác phẩm duy nhất này về miền Nam thời khai hoang mở đất, cho ta những tư liệu quí giá về con người, phong tục, đất đai, địa chí, lịch sử… Nếu nhà bác học Lê Quí Đôn có Vân Đài Loại Ngữ cho Bắc và Trung bộ thì Trịnh Hoài Đức có “Gia Định thành thông chí” cho giai đoạn miền Nam mở đất.

Ngoài ra ông còn là một nhà thơ, để lại các bài thơ tả cảnh đất Gia Định trong tập thơ văn “Cấn Trai thi tập”. Ông là và các bạn thơ sáng lập “Bình Dương thi xã” và là một trong “Gia Định tam thi” (Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh) thường tập họp làm thơ ở những nơi như chùa Giác Lâm, gò Cây Mai (nay là Phụng Sơn tự, đường 3/2 Saigon), Minh hương gia thạnh, chùa Cây Mai..Trong bài thơ tả cảnh ở khu Đầm Sen (Saigon) cuối thế kỷ 18, cho ta thấy cảnh thanh tịnh, hoang sơ ở Saigon hơn 200 năm nay (11).

Liên Chiểu Miên Âu

Âm âm hạm đạm thủy trung tiêu

Dục bãi sa âu liễm ngọc kiều

Tầm mộng phù tung y lục cái,

Vong cơ nhàn khách chẩm hương miệu

Nặc tha xảo thước thu tang đỗ,

Nhiệm nhĩ lưu oanh chức liễu điều,

Du nữ thái liên hưu loạn động,

Cựu minh do đãi trục lai triều

Trịnh Hoài Đức

(Cấn trai thi tập)

(Dịch nghĩa:

Chim âu (vịt trời, le le) ngủ ở Đầm Sen

Hoa sen sum suê vươn cao lên trong nước

Tắm xong, chim âu thu lông ngọc lại

Tìm mộng, bước chân trôi nổi đi theo các lọng xanh

Quên đời khách nhàn nhã gối đầu vào cỏ thơm,

Gần chim thước khéo léo lấy vỏ gốc cây dâu (để làm tổ)

Mặc chim oanh lanh lợi dệt cành liễu

Các cô g ái đến hái sen đ ừng làm kinh động

Hẹn cũ * còn chờ theo nước triều lên. )

* Hẹn cũ: Dịch chữ Hán “cựu minh” do điển “âu minh” chỉ người ở ẩn chốn mây nước như có ước hẹn làm bạn với chim âu

Năm 1825, ông mất ở Phú Xuân, linh cửu được tổng trấn Lê Văn Duyệt thân hành hộ tống đưa về quê mẹ ở Biên Hoà chôn ở phường Trung Dũng, không xa Cù Lao phố. Năm 1938, trường Viễn đông Bác cổ xếp mộ ông là di tích bảo tồn và hiện nay là di tích lịch sử quốc gia.

Diệp Văn Cương, Diệp Văn Kỳ

Diệp Văn Cương, hiệu Thọ Sơn, bút hiệu Yên Sa, vì quê quán ông ở An Nhơn (gần Gò Vấp), Gia Định. Thuở nhỏ, Diệp Văn Cương giỏi chữ Hán và quốc ngữ nên được học bổng du học và đỗ tú tài ở Pháp. Ông về nước dạy tại trường Chasseloup Laubat (tục danh trường “Bổn quốc”)(1). Sau làm thông ngôn cho toà Khâm sứ Huế và là thầy dạy học cho vua Đồng Khánh. Ông lấy công chúa, Công nữ Thiện Niệm, con của Thoại Thái Vương Hồng Y, em vua Dục Đức. Ông có vai trò trong việc đưa vua Thành Thái lên ngôi, sau khi vua Đồng Khánh mất.

Là một trí thức lớn ở miền Nam, năm 1868, ông là chủ biên tờ Phan Yên báo tại Sài Gòn. Tờ báo quốc ngữ thứ hai sau Gia Định báo (1865) do Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của chủ biên. Nội dung tương tự như Gia Định báo (lúc đầu bài trong Gia Định báo đa số là công báo của chính quyền Pháp), với tin địa phương và thư độc giả bằng chữ quốc ngữ, nhưng sau đó có các bài chính trị, nên báo bị đóng cửa. Tác phẩm của Diệp Văn Cương gồm có: Syllabaire quốc ngữ (sách vần quốc ngữ) (1919), Recueil de morale annamite (1917), dịch tập Phong Hóa từ chữ Hán ra chữ quốc ngữ.

Hãy nghe Vương Hồng Sển (1) kể về ông: “Gần tuổi về hưu, ông trở lại dạy Sử học và Việt văn trường Chasseloup-Laubat như trước. Kẻ viết bài này khi còn học lớp dưới, đã từng đứng nghe lóm ngoài cửa và ân hận không được thọ giáo cùng ông. Khoảng năm 1919, dạy sử học, ông lấy Sử Diễn Ca Lê Ngọc Cát ra bình chú, dạy Việt Văn ông đã biết đem những đoạn xuất sắc trong Kiều, Lục Vân Tiên, và Chinh Phụ Ngâm ra giải thích cũng là mới lạ. Người ông nẫm thấp hùng vĩ, lịch duyệt Bắc Nam, ông ngâm thi sang sảng, nói tiếng Tây rất “giòn”, bình sanh sở thích hát bội, roi chầu bóng bẩy rất mực phong lưu, tuồng hát nằm lòng, cô đào anh kép phục sát đất! Vãn hát ông rước luôn đào để cả y phục và áo mão về nhà hát lại cho ông thưởng thức riêng.”

Diệp Văn Kỳ, con trai của Diệp Văn Cương, đỗ cử nhân, luật sư, cũng là một nhà báo tiền phong rất có tiếng tăm như cha. Mua lại tờ Đông Pháp thời báo (1927) từ ông Nguyễn Kim Đính, sau đổi thành nhật báo Thần Chung, được sự cộng tác đắc lực của nhóm Nguyễn Văn Bá, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Đào Trinh Nhất, Trần Huy Liệu, Phan Khôi, v.v.. Từ khi làm chủ, ông đã chuyển Đông Pháp thời báo theo hướng một tờ báo đối lập và Đông Pháp thời báo trở thành tờ báo có rất đông bạn đọc khắp Nam, Trung, Bắc. Cũng như cha, ông viết nhiều, đôi khi cùng với Phan Khôi (dưới bút hiệu Tân Việt) và rất mê kịch, tuồng (13). Ông là nhà báo dân tộc, lên tiếng bảo vệ sự hợp nhất chữ quốc ngữ ở 3 kỳ chống lại sự chia rẽ trong những tranh luận tách riêng sách giáo khoa quốc ngữ ở trong Nam (14) và là người rất rộng lượng, giúp đở nhiều nhà văn, nhà báo như Mộng Đài, Tản Đà..

Ông giúp đỡ thi sĩ Tản Đà, khi Tản Đà thất bại làm báo “An Nam tạp chí” thiếu nợ phải vào Nam kiếm sống khoảng năm 1926, trong lúc tình cờ gặp Tản Đà đang lang thang trên đường Catinat (đường Đồng Khởi) trước nhà hàng Continental mà ông và một số bạn đang ngồi bên trong. Mến tài Tản Đà, ông cho 2000$ (một số tiền lớn thời đó) để Tản Đà trở ra Bắc trang trãi nợ nần và vào Nam viết cho tờ Đông Pháp thời báo. Ông trã rất hậu hĩnh mỗi tháng cho thi sĩ Tản Đà bằng tiền lương quận trưởng (12) và giúp đỡ định cư ở Saigon (Xóm Gà, Gia Định) trong ngôi nhà rộng, tĩnh mịch để thi sĩ có cảm hứng. Tuy vậy thi sĩ Tản Đà cũng có lúc báo sắp lên khuôn mà chưa thấy đưa bài. Ông Kỳ phải kêu tùy phái vào Xóm Gà để hối thúc bài. Tản Đà vẫn thản nhiên thốt một câu lịch sử để đời trong văn học “Làm thơ đâu phải bửa củi mà muốn lúc nào có lúc ấy”.

Nhà thơ thời tiền chiến Mộng Đài cũng là một người thuở còn trẻ khi vào Saigon đã được ông giúp đỡ. Trong dịp cùng với nhà báo Hoa Đường xông đất đầu năm đến nhà Diệp Văn Kỳ thăm, Mộng Đài viết trong hồi ký như sau

“Sau khi cho phép Hoa Đường múa “Gioọc” (“Giọc” là giọc tẩu, ống hút thuốc phiện) đầu năm, cụ Diệp quay lại nắm lấy tay tôi và bằng giọng thật ấm áp nói:

-“Xừ Mạnh đến với anh, anh chẳng biết chúc gì cho chú em mà chỉ có mỗi bài thơ này tặng nhau ngày Xuân”.

Rồi cụ Diệp cất tiếng cao ngâm bài thơ ứng khẩu ấy như sau:

Cái kiếp trần duyên, kiếp đọa đày

Non Tiên sao khéo lạc loài đây?!

Trớ trêu thu thủy hoa in nguyệt

Đỏng đảnh Xuân Tiêu liễu vẽ mày

Sóng sắc lập lòe con nước động

Gió hương phưởng phất cánh hoa lay.

Trông em khó nổi vô tình được

Mượn bút làm duyên để giải khuây.

Ngâm xong cụ lấy bút viết ngay vào tờ giấy đoạn vào

phòng trong bỏ trong phong bì đỏ ra trao tôi:

-“Bài thơ này tặng em. Ý tứ của bài thơ thì em về chiêm nghiệm lấy”.

Đêm hôm ấy tôi về đến nhà, mở ra để đọc lại cho vui. Không ngờ ngoài tờ thơ cụ viết, cụ còn để ngay ngắn tờ “Con Công” năm đồng ngay trong phong bì để lì xì cùng mấy chữ ngoằn ngoèo trong tờ giấy đỏ:

“Cho người em cưng nhất của ta”. Cụ ký vào bên dưới”.

Năm 1945, ông Diệp Văn Kỳ bị ám sát ở Trảng Bàng (Tây Ninh) vì bị coi là thân Nhật, uổng mất một tài năng trong lịch sử báo chí Nam kỳ. Ngoài số bài báo ông viết và viết chung với Phan Khôi, còn có tác phẩm để lại: Thần ái tình (Rabindranath Tagore), Diệp Văn Kỳ dịch, 1929. Biệt thự nhà ông trên đường Trần Hưng Đạo, được quân đội Nhật trưng dụng dùng làm nơi chỉ huy, sau quân đội Anh giải giới giao cho Pháp và được chế độ củ dùng làm Bộ Tổng Tham Mưu.

Vương Hồng Sển

Sinh ở Sóc Trăng, trong gia đình gốc Phúc Kiến đã định cư từ lâu đời ở Sóc Trăng. Ông là nhà văn rất Nam bộ trong cuộc sống và phong cách viết văn. Những tư liệu, dữ kiện, biến cố, nhân vật và nhận xét ông thâu thập trong suốt từ các năm ở thập niên 1920 cho đến hết thế kỷ 20 ở miền Nam và các nơi ông có dịp viếng thăm mà ông viết ra là những tài liệu lịch sử và văn hóa quý giá cho những ai muốn tìm hiểu về những vùng đất, tỉnh thành ở miền Nam. . Khi còn trẻ ở Sóc Trăng, ông làm công chức Phó ban hành chánh của chính phủ thời Pháp thuộc rồi sau đó lên Saigon làm quản thủ thư viện trong Viện bảo tàngSaigon. Ông có trí nhớ rất giỏi từng chi tiết, rất mê sưu tầm tư liệu lớn, nhỏ và đồ cổ như đồ gốm sành, sứ.

Cùng thời với Sơn Nam, ông ít viết truyện nhưng rất nhiều bút ký. Văn ông rất bình dân, dễ đọc và có duyên. Ngoài các nhân vật nổi tiếng ông có gặp và viết như Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm, Nguyễn Văn Sâm, Ngô Đình Nhu.., ông còn viết về những người thân, người thầy, người bạn, quen biết trong sở làm, học đường, nhà trọ… đủ mọi tầng lớp trong xã hội. Hãy xem một đoạn ông viết về Nguyễn An Ninh

” Tôi làm quen với ông Ninh nhờ mua báo bằng Pháp văn đối lập chống chánh phủ đương thời, gọi là La Cloche fêlée (Cái chuông rè) do ông một mình vừa chủ trương, vừa viết báo, và vừa bổn phận đứng khắp Sài Gòn, mình mặc áo trắng, đi xe đạp, tay ôm mớ nhật trình, miệng rao lanh lẹ và chạy bán từ số, từ tờ cho mấy ông mấy thầy, bất chấp cách lườm ngó đầy ác ý và tiếng nặng nhẹ của nhóm thực dân, từ thằng biện chà gác đường đến thằng Cọt (Corse) ngồi nhà hàng uống rượu khai vị xưng mình là người cai trị da trắng mà sức học chưa có tới mảnh xẹt-ti-fi-ca (certificat)…

Nhưng mỗi tuần vào khoảng tháng hai tháng ba tây năm 1926 cứ mỗi thứ hai và thứ năm lối bảy tám giờ tối không sót ngày nào, ai muốn gặp Ninh cứ lại trước nhà hàng Yeng yeng thì gặp, không trật bữa nào…  Trước khi giáp mặt chị em, tôi thường mua một tờ Chuông Rè để lấy le. Nhưng ông Ninh sau khi bán cho tôi đều đều, lại lầm tưởng, cho tôi đúng là nhà ái quốc có gan, không nữa cũng một tay cừ nào đó có sạn trong đầu. Một đôi khi sau khi nhận của tôi một cắc bạc tiền mua báo, ông chồng báo qua tay trái và chìa tay mặt bắt tay tôi niềm nở như hai bạn tương tri cách mặt lâu ngày. Có mấy lần tôi thẳng thắng kéo tay mời ông vô dùng cơm Yeng Yeng, nhưng ông lắc đầu lia lịa, xổ một dọc tiếng Tây cám ơn không ngớt, và tỏ vẽ cảm động thật tình. Nói cho đúng lúc ấy ai ai đều ngán ông Ninh và không dám giao thiệp công khai, vì sợ liên lụy không nhỏ. Riêng tôi, tôi lại nghĩ lại. Lúc bấy giờ chưa ai biết là nhà ái quốc dám hy sinh tánh mạng như ngày nay đã rõ, lúc ấy ông là người ai cũng e dè không dám lại gần, trừ những người cùng một chủ nghĩa với ông, Việt Tha, Le Jean de la Bâtie, Paul Marchet, vân vân. Còn tôi, tôi vẫn phục ông thật tình…”

Những bút ký ông viết cho ta thấy toàn thể đời sống, suy nghĩ, văn hóa của thời bấy giờ rất sống động và quý giá về xã hội năm xưa. Các tác phẩm nổi tiếng của ông gồm có:Saigon xưa và nay, Hơn nữa đời hư.

Khi ông mất, ông cống hiến hết thảy tài sản, tư liệu và đồ sưu tập của ông cho chính quyền thành phố. Hiện nay căn nhà của ông ở Saigon số 9/1 Nguyễn Thiện Thuật, phường 14, quận Bình Thạnh, được Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP HCM quản lý, sử dụng. Theo báo Người Lao Động thì năm 2002, tức 6 năm sau khi VHS qua đời, qua căn nhà của cố học giả gần như vô chủ và bị xuống cấp nặng nề. Theo di chúc, ông hiến toàn bộ tài sản của mình tại ngôi nhà cho Nhà nước, nhưng do có tranh chấp về quyền thừa kế nên thời gian qua các cơ quan chức năng chưa quản lý ngôi nhà này. Chỉ có số cổ vật và sách quý được Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP HCM và Thư viện Khoa học Tổng hợp tạm thời cất giữ.

Ngôi nhà cổ này hiện nay đã được trùng tu và có thể viếng thăm để hiểu và biết được cuộc đời của một con người rất Nam bộ đặc sắc đam mê văn hóa, nghiên cứu viết sách, hiến trọn đời mình cho sự đam mê ấy và những di sản quí báu mà ông để lại. Trong Viện bảo tàng lịch sử, Thảo cầm viên Saigon, có một phòng đặt tên Vương Hồng Sển, trưng bày những hiện vật quý mà ông bỏ cả đời để thu thập như các đồ gốm Trung hoa, men lam Huế..

Lý Lan

Nhà văn Lý Lan, sinh năm 1957 ở quê mẹ Bình Dương, quê nội ở Quảng Tây. Trưởng thành trong Chợ Lớn và dạy học ở Cần Giuộc. Chị là nhà giáo và cũng là nhà văn viết nhiều truyện ngắn với giọng văn tinh tế, ý nhị và đượm tình người. Trong những năm ở thập niên 1980, tôi đã đọc các truyện và tuỳ bút của Lý Lan trên báo Tuổi trẻ, và các tập truyện như Nơi bình yên chim hót, Chút lãng mạng trong mưa. Những chi tiết trong đời sống thường ngày ở trong phố, ở người chung quanh trong xã hội Việt Nam mà thường ta không để ý, được chị viết rất ý nhị với văn trong sáng và cảm thông với người và cảnh. Một Thạch Lam mới trên văn đàn văn học Việt Nam. Các tác phẩm của Lý Lan rất được ưa chuộng, đánh giá cao và được coi là nhà văn chững chạc có tiếng với nhiều độc giả trong nhiều năm qua. Ngoài ra chị cũng viết các truyện thiếu nhi như quyển Ngôi Nhà Trong Cỏ (1984) được giải thưởng văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 2005, tập thơ Là Mình được giải thưởng thơ hội Nhà Văn Thành Phố Hồ Chí Minh.

Các năm gần đây chị cũng là dịch giả các bộ Harry Potter ra tiếng Việt. Lý Lan hiện đang sống ở Mỹ, cho rằng Hoa kiều trong giai đoạn trước 1975 có văn học tiếng Hoa riêng ở Chợ Lớn và chị đang khuyến khích các nhà văn gốc Hoa ở Việt Nam viết hình thành một văn học Hoa văn như các văn học Hoa văn khác ở Singapore, Mã Lai, Hongkong, Đài Loan và viết một tuyển tập (anthology) về văn học Hoa ở Việt Nam. Lý Lan thường viếng quê nhà và vẫn còn sáng tác, cộng tác với các báo và xuất bản các tác phẩm trong nước mà gần đây nhất là tác phẩm Miên man tùy bút.

VIII. Kinh tế

Hiện nay 30% doanh nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh là do người Hoa làm chủ, như các công ty lớn Bitis, Sacombank và các cơ sở thương mãi Thuận Kiều Plaza, An Đông Plaza. Chúng ta cũng nên để ý là trong khi chủ người Hoa hiện nay của công ty nước uống lớn nhất ở Phi Luật Tân, St Miguel, còn đang sống cực nhọc trong “xóm nhà lá” ở Manila trước khi thành công phát triển công ty lớn nhất ở Phi Luật Tân thì ở Chợ Lớn thời gian đó, các thương gia giàu có người Hoa đã có văn phòng, khách hàng, đối tác ở Singapore, Đài Loan, HongKong. Họ đã thiết lập một hệ thống thương mại với các người Hoa khác trong vùng Đông Nam Á để xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.  Tôi nhớ khoảng đầu thập niên 1970, những sản phẩm dầu gió sản xuất ở Chợ Lớn như dầu Nhị Thiên Đường được ưa chuộng và xuất khẩu qua thị trường Đông Nam Á, nhất là ở Thái Lan, cạnh tranh với những sản phẩm dầu của một công ty Singapore, nay nằm trong tập đoàn Temasek, mà bà chủ hiện nay trở thành có thế lực và giàu có bậc nhất ở nước này.

(a) Giai đoạn trước 1975

Trước đây phần lớn kỹ nghệ nhẹ như sản xuất đồ gia dụng là tập trung ở Chợ Lớn, trước khi các vùng kỹ nghệ Thủ Đức, Biên Hòa, Bình Dương được thành lập trong đầu thập niên 1970. Những cơ xưởng sản xuất nhỏ này phần lớn do các gia đình người Hoa hoặc các tiểu thương gầy dựng. Những cơ xưởng này đã và hiện nay vẫn còn đóng vai trò quan trọng vào kinh tế vùng thành phố Hồ Chí Minh. Ngày xưa trước 1975, Saigon có thể là nền kinh tế phồn vinh “giả tạo” không có cơ sở vật chất, do tiền viện trợ nước ngoài đổ vào, nhưng kinh tế ở Chợ Lớn cơ bản là tốt và có thực lực dựa vào sự làm ăn cần cù, chăm chỉ và chuyên tâm của người Hoa.

Sau đây là tóm tắt về một số thương gia người Việt gốc Hoa từ thời Pháp thuộc tới nay (1).

(1) Chú Hỏa: Theo Vương Hồng Sển (1), tên thật là Hui Bon Hoa, ký âm theo tiếng Pháp sau khi nhập Pháp tịch, nên gọi “Chú Hỏa” như vậy cho đến đời đời (người miền Namthường thân mật gọi các người Hoa là “Chú”), không rõ danh tánh theo Hán tư..  Lúc đầu là thợ dạo mua bán “lạc son”, mua đồ củ để chế biến và bán lạị Sau khi tạo dược một số vốn, hùn hạp với một người Pháp thầu khuếch trương các tiệm cầm đồ trong Nam kỳ và buôn bán bất động sản. Sau khi rã hùn, được chia một số tiền, làm chủ các sản nghiệp đất cát miền Lục Tỉnh. Các tài sản bất động sản ở trung tâm Saigon trên đường Nguyễn Huệ và Lê Lợi của công ty Hui Bon Hoa được cho mướn. Công ty này được tiếng là rất “biết điều” và không eo sách, làm khó người mướn phố.  Các con cháu của “Chú Hỏa” luôn luôn hòa thuận, gia tài giử nguyên vẹn không chia phần manh mún, chỉ cùng nhau chia lợi tức, và mổi khi cần dùng một số tiền to tát thì người trong họ phải xin chử ký của người trưởng huynh khi ấy ngân hàng mới phát bạc.

Cùng thời với chú Hoả là một người Việt gốc Hoa nổi tiếng ở Lục Tỉnh, Chú Hỷ. Ông cạnh tranh với công ty Pháp, công ty Vận tải đường sông rạch “Compagnie des Messageries fluviales” chuyên chở hàng và người trên sông ngòi miền Tây nam bộ. Tàu Chú Hỷ giá vé rẻ hơn và hành khách được lo chu đáo. Bởi vậy có câu ” Đi tàu Chú Hỷ, ở phố Chú Hỏa”.

Hồi về thăm Việt Nam đầu năm 2007, tôi có viếng nhà của chú Hỏa ngày xưa (nay là viện Mỹ thuật thành phố), và có may mắn nói chuyện với chị giám đốc về đề tài chú Hỏa. Ngoài các toà nhà bên cạnh Viện, chú Hoả ngày xưa còn xây khách sạn Majestic ngay bến Bạch Đằng cạnh sông Saigon, Bệnh viện Saigon và các dinh thự khác ở Saigon, Vũng Tàu theo kiểu nhà Tây. Vào dịp viếng thăm Vũng Tàu, tôi có dự đám cưới con nhà văn Xuân Sách ở khách sạn Palace. Xưa kia khách sạn Palace là biệt thự của chú Hỏa. Ngày nay thì hiện đại nhưng mất đi dáng cổ kính của kiến trúc Tây ngày xưa. Giữa sân vào khách sạn giờ đây là một hồ bơi rất sang của khách san, nhưng bên cạnh vẫn còn cây cổ thụ to lớn mấy người ôm cũng không xuể, tàn lá xum xuê.

Ngày nay ta có thể đến thăm một căn nhà của chú Hỏa trên đường Phó Đức Chính, gần chợ Saigon.  Toà nhà này hiện nay là Viện Mỹ Thuật thành phố Hồ Chí Minh, bên cạnh trụ sở của bộ Văn hóa Thông tin thành phố đồ sộ không kém (xưa kia cũng là nhà của chú Hỏa). Giá vé vào cửa thăm quan rất rẽ (5000 đồng). Tòa nhà Bảo tàng Mỹ Thuật đồ sộ, rất đẹp, xưa kia là của chú Hỏa (Hứa Văn Bon). Tổng thống Mỹ Bill Clinton khi dến Saigon đã có viếng thăm Viện Bảo tàng Mỹ thuật này. Rất ít khách Việt, đa số là khách nước ngoài nhưng tuy vậy vẫn còn rất vắng vẽ. Giữa tòa nhà 3 tầng là một sân lớn, chung quanh là các phòng với sân ban công (balconỵ) và hành lang nhìn mở ra phía sân trong.

Tòa nhà xây theo kiểu Pháp (chỉ có mái là có dạng Việt), rất kiên cố chắc chắn với trần cao. Các bậc thang làm bằng đá cẩm thạch (marble), giữa sân lobby vào cửa chính có 1 thang máy làm đầu thế kỹ 20, giống như thang máy cỗ xưa ở Paris, vẫn còn chạy nhưng ít dùng. Tòa nhà này có rất nhiều phòng, mỗi phòng đều có đèn treo từ trần và lót gạch bông vẫn còn như xưa. Các tranh trưng bày trong Viện đa số về các sinh hoạt và chiến tích, thành tích trong thời chiến tranh chống Mỹ không có gì xuất sắc ngoài bức sơn mài to lớn “Vui xuân” của Nguyễn Công Trí (một nghệ sĩ tạo hình nổi tiếng của Trường Mỹ thuật Đông Dương mà xưa kia toàn quyền Pháp đã mua 1 bức sơn mài đặt trong phủ toàn quyền ở Hà Nội). Ở lầu hai có trưng bày đồ gốm, bàn ghế xưa và các tượng thờ trong vùng Saigon từ thế kỷ 19, 20. Đằng sau trên lầu 3 nhìn xuống sân vườn giữa tòa nhà, có trưng bày bức tượng ông Trương Vĩnh Ký (sau giải phóng được mang vào đây).

Trong lúc tôi đang xem gốm Biên Hòa, thì tình cờ gặp chị giám đốc Viện trong phòng triễn lãm. Tôi hỏi về lịch sử gốm Biên Hòa và được chị tiếp chuyện. Qua đó tôi có góp ý với chị là các tranh nên có đề năm sáng tác (ngoài tên tác giả), chị cho biết sẽ có tập sách viết về lịch sử viện trong dịp 20 năm thành lập và các mục lục tranh và tiểu sử các tác giả. Nói chuyện với chị về huyền thuyết “con ma” nhà chú Hỏa ly kỳ rùng rợn về con gái chú Hỏa với bệnh cùi và huyền thuyết thuở hàn vi “đi bán ve chai”. Tất cả đều không đúng sự thật. Chú Hỏa không có con gái chỉ có 3 người con trai và sau này đã về Tàu chết ở đó. Chú Hỏa làm việc với một chủ người Pháp, vì tính siêng năng và tốt nên ông chủ Pháp thương và đã giúp chú Hỏa vốn mở tiêm cần đồ buôn bán. Tiệm cầm đồ đầu tiên là tòa nhà góc đường Phó Đức Chính và Nguyễn Thái Bình, văn phòng ông ở trước cửa viện bên kia đường, trên một khu đất vẫn còn trống. Khi nhà ông được xây, thì từ chợ Saigon và phía đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, có thể thấy được biệt thự của ông. Ông xây 3 căn trên sát nhau trên đường Phó Đức Chính, mỗi căn cho một người con trai. Căn giữa (hiện nay là trụ sở Bộ Văn hóa Thông tin) cho người con trai lớn có đặt bàn thờ tổ tiên. Theo chị giám đốc thì trụ sở Bộ sẽ di về chổ khác, giao tòa nhà (cũng đồ sộ với kiến trúc Pháp) lại cho bảo tàng Mỹ Thuật.

Cách đây vài tháng (khoãng cuối năm 2006), con cháu chú Hỏa về thăm và có nói là cũng thấy nhà đã được dùng cho công chúng và chưa có ý đòi lại tòa nhà và các tòa nhà chung quanh (đất gồm diện tích giữa 4 góc đường Lê Thị Hồng Gấm, Calmette, Phó Đức Chính và Nguyễn Thái Bình).

Trên lầu ba là các phòng trưng bày hiện vật của nền văn hóa Óc Eo tìm được ở nhiều nơi ở đồng bằng sông Cửu Long (Rạch giá, Kiên Giang, Sóc Trăng, Long An, Tây Ninh…), phòng văn minh Champa với các phù điêu, tượng thần tìm được ở Trà Kiệu, Bình Định, và phòng trưng bày các gốm, tượng, đồ đồng Việt Nam.

Ở góc sân giữa tòa nhà là bức tượng đồng rất đẹp ông Quách Đàm, một người Hoa nổi tiếng ở Saigon. Người đã xây dựng chợ Bình Tây. Trên bức tượng ở ngực ông đầy huy chương. Trước đây tượng được đặt ở chợ, sau giải phóng, cũng như tượng Trương Vĩnh Ký, đã được mang về đây. Hai phòng bên cạnh sân giữa tòa nhà là hai phòng trưng bày tranh (gallery) để bán, chủ tiệm của phòng tranh bên trái có treo ảnh chụp của bà với tổng thốngClinton khi ông vào đây thăm viếng.

Hôm viếng thăm, tôi có dịp dừng lại nói chuyện với các du khách từ Pháp giải thích cho họ về bức tượng Petrus Ký và Quách Đàm và sơ lược tiểu sử của hai nhân vật lịch sử này. Phải nói là Viện Bảo tàng nên có hướng dẫn viên hay sách chỉ dẫn cơ bản về những hiện vật trong Viện để du khách có thể hiểu biết về nghệ thuật và học hỏi về các đặc thù nghệ thuật Việt Nam nói chung và thành phố nói riêng.

(2) Quách Đàm: Miền Nam có câu nói về những người giàu có trong giữa thế kỷ 20 “Nhất Hỏa, nhì  Đàm, tam Xường, tứ  Ích”, cho thấy Quách Đàm là nhân vật thứ hai sau chú Hỏa. Xuất thân thuở hàn vi bán ve chai, kèm theo mua da trâu, vi cá và bong bóng cá. Ddàm nhờ lanh trí, nhập giới thương mại thấy việc mau lẹ hơn ai hết, nên làm giàu nhanh chóng.

Ông là người xây lập chợ Bình Tây hiện nay vẫn còn ở Chợ Lớn. Lúc đó Chánh tham biện Chợ Lớn thấy Chợ Củ (hiện nay là nền nhà Bưu Điện Chợ Lớn, Quận 5) nhỏ hẹp, không đủ cho bạn hàng nhóm họp. Ông nghe biết được nên mua ngay vùng đất ruộng Bình Tây, biến đất ruộng thành đất thổ trạch châu thành, rồi cho người đến dâng miếng đất, chỉ đòi được xây chợ và cất phố kiểu buôn bán chung quanh chợ để cho mướn. Chính quyền đồng ý và sau này cơ sở phát triển còn cho phép tượng Quách Đàm được tạc và dựng ở chợ. Trụ sở của nhà buôn Quách Đàm nằm ở đường Quai de Gaudot (nay là đường Khổng Tử).

Về sau Quách Đàm rất giàu, xoay qua đứng bảo lảnh cho các con nợ nhà băng “Đông Dương Ngân hàng”. Mỗi lần xin chử ký bảo chứng, họ phải chịu cho Đàm một huê hồng qui định trước. Nhưng gặp năm kinh tế khủng hoảng 1929, các nhà buôn vỡ nợ không đủ sức trả bạc vay, nhà băng phát mãi phá sãn, lôi kéo sự nghiệp nhà họ Quách sụp đổ theo cơn khủng hoảng kinh tế trầm trọng ở Nam kỳ.

Sau này, khi Quách Đàm chết, đám ma lớn không đám nào bằng. Bàn đưa không thể đếm. Đủ thứ nhạc Tây, Tàu, Ta, Miên… Khách đi dường có việc, miễn nối gót theo đám ma vài bước là có người lễ phép đến dâng một ly nước dừa hay la ve (bia) và riêng tặng một quạt giấy có kèm một tấm giấy “ngẫu” (năm đồng bạc) đền ơn có lòng đưa đón! Quách Đàm được chôn ở gần chùa Giác Lâm giáp ranh Chợ Lớn và Gia Định (1)

(3) Mạc Phúc Sử: Nổi tiếng với sản phẩm dầu cù là Macphsu. Dầu cù là Macphsu do ông làm chủ và sản xuất. Macphsu là tên ký âm bằng Pháp ngữ khi Mạc Phú Sử ra cầu chứng tại tòa. Vì không biết đọc, biết viết tiếng Pháp nên khi được hỏi dầu cù là cầu chứng tên gì, ông tưởng là nhân viên tòa hỏi tên mình là gì, ông bèn nói Mạc Phúc Sử và được người Pháp viết theo phiên âm Pháp ngữ là Macphsu. Sản lượng và tiếng tăm dầu cù là Macphsu rất lớn, ngoài thị trường miền Nam, Mạc Phúc Sử còn xuất cảng sang Lào, Cambodia, Singapore và Thái Lan.

(4) Trương Văn Bền, sinh năm 1883, trong một gia đình người Hoa gốc Triều Châu đến Việt Nam lập nghiệp từ đầu thế kỷ 19. Trương Văn Bền có dịp sang Pháp du học và đã học được nghề sản xuất xà bông. Năm 1918, ông dùng dừa có sẵn rất nhiều ở miền TâyNam bộ để thành lập xưởng ép dầu dừa và từ đó sản xuất xà bông cục đáp ứng nhu cầu rửa ráy, giặt giũ của dân chúng hằng ngày. Khi cơ sở phát triển, năm 1932, ông cho xây một hãng lớn hơn và làm chủ nhân hãng xà bông “Trương Văn Bền”. Sản phẩm nổi tiếng nhất của hãng ông là xà bông thơm Việt Nam hiệu Cô Ba, rất thịnh hành ở miền Nam và sau đó trên khắp thị trường Đông Dương. Cô Ba tượng trưng cho một phụ nữ đẹp, giản dị, trong trắng của cô gái miền Nam trong huyền thoại. Xà bông Cô Ba cạnh tranh về chất lượng và giá thành rẽ đã đánh bạt được xà bông nước ngoài, nhập từ Pháp (17). Ông là người Hoa Triều Châu đi trước trong thương mại và làm gương cho những người sau này như Trần Thành. Ông Trương Văn Bền nổi tiếng như Bạch Thái Bưởi cùng thời ở miền Bắc và trở thành giàu có, có hạng ở Nam kỳ. Gia sản của ông tương đương với ông Phủ Kiểng ở Bến Tre, ông Kho Gressier Remy ở Sóc Trăng, hay gia đình Lâm Quang ở Trà Vinh. Ông Bền cũng chính là người xuất tiền cất một dãy phố 50 căn, gần Ngã Sáu Chợ Lớn, nằm góc đường Armans Rousseau và Général Lizé (nay là đường Ngô Gia Tự và Hùng Vương) (17).

Còn nhiều câu truyện của các doanh nhân người Hoa ở Chợ Lớn đã phát triển kinh doanh đóng góp vào nền kinh tế Việt Nam từ các năm xưa. Tôi trước đây có đọc một bài trong tạp chí nghiên cứu lịch sử hồi năm khoảng năm 1977 đã liệt kê nhiều nhà kinh doanh người Hoa, nhưng hồi ấy là đả phá họ, cho họ là tư bản bóc lột. Nay thì đã khác hẳn rồi, họ là những những người đã giúp cho nền kinh tế phát triển và có ích cho đất nước, xã hội. Trước 1975, có những tư sản Việt gốc Hoa cở lớn, kể sơ lược như sau (2):

(5) Trần Thành: Ông xuất thân từ gia đình nghèo qua Việt Nam đầu thế kỷ 20. Thưở còn thanh niên tìm việc ở Chợ Lớn, ông được vào làm công trong một xưởng chế biến dầu thực vật của một chủ người Hoa họ Trịnh, cạo rữa các thùng chứa. Được sự tín nhiệm của chủ, ông được giao trọng trách đi mua nguyên liệu chủ yếu là đậu nành và đậu phọng cho xưởng. Với uy tín của ông với nông dân và đối tác ở nông thôn miền Nam và cả ở Cao Miên (Cambodia), ông không những cung cấp hiệu quả kinh tế cho cơ sở xưởng chủ ông mà sau này khi được chủ giúp đỡ cho vốn ra riêng còn cung cấp cho các xưởng khác nữa.

Trong công việc làm ăn, ông coi trọng nhất là chữ tín. Ông nói:” Chữ TÍN. Làm nghề gì cũng phải giữ cho được chữ TÍN mới có thể thành công được. Ông lập ra hãng bột ngọt Vị Hương Tố. Được coi là  “vua bột ngọt và vua mễ cốc”, ông được bầu vào chức vụ bang trưởng Triều Châu, khi tuổi chỉ mới xấp xỉ 40. Ông đại diện cho người Hoa liên hệ với chính quyền miền Nam Ngô Đình Diệm và sau này trong thập niên 1960-1970 và được chính quyền kiêng nễ. Ông giúp đỡ nhiều người có chí mượn vốn. Nhà ông lúc nào cũng có người đến xin ý kiến làm ăn. Ông đi thăm các nhà máy, xí nghiệp lớn ở Đài Loan, Nhật Bản để học hỏi kinh nghiệm tổ chức, điều hành các xí nghiệp cở lớn và nghiên cứu thị trường.

(6) Vương Đạo Nghĩa, chủ hãng kem đánh răng hiệu Hynos cạnh tranh với các hãng kem Việt Nam hiệu Perlon và Leyna ở miền Nam và kem ngoại quốc như Colgate (Mỹ), C’est it (Pháp). Vào thập niên 1960, hồi tôi còn nhỏ khi được bác tôi dẫn ra Saigon và bây giờ vẫn còn nhớ là hình ảnh rất lớn trên cửa chính của chợ Bến Thành đường Nguyễn Huệ một anh “chà và” da đen cười tươi với hàm răng trắng đều và đẹp của kem đánh răng hiệu Hynos. Lúc đầu, vào mới hơn 20 tuổi, ông làm cho hãng kem nhỏ ít biết tiếng Hynos do một người Mỹ gốc Do Thái có vợ Việt Nam mở hãng sản xuất kem đánh răng ở Việt Nam. Sau này khi người vợ mất, ông chủ buồn rầu bỏ đi giao lại cho ông vì ông được tiếng là trung thành, cần cù làm ăn.

Vương Đạo Nghĩa là người Việt gốc Hoa tiên phong trong lãnh vực tiếp thị làm ăn kiểu Tây Phương. Ông là người biết được giá trị của thương hiệu và sự quan trọng của tiếp thị trong kinh doanh thương mại. Quảng cáo kem Hynos của ông xuất hiện ở khắp nơi từ thành thị đến nông thôn trên mọi phương tiện, ở các cửa hàng ăn uống, loa phóng thanh, dọc đường, chợ búa, báo chí, hệ thống truyền thanh và truyền hình, ngay cả trên các thùng xe vận tải chạy khắp miền Nam. Ông cũng là người đầu tiên biết vận dụng phim võ hiệp và tình báo kiểu Trung Hoa vào quảng cáo, sau khi gặp lại người anh họ (con ông bác) ở Hong Kong là tài tử Vương Vũ và được ông mời đến Việt nam nhiều lần trong các dịp nghĩ hè. Người dân miền Nam khó có thể quên hình ảnh tài tử Vương Vũ giải thoát các xe hàng do đoàn bảo tiêu hộ tống thoát khỏi quân cướp nhưng tất cả bảo tiêu đã bị chết, chỉ còn Vương Vũ và khi ông mở xe hàng thì trong đó không phải là vàng bạc châu báo mà là các hộp kem đánh răng Hynos hay anh Bảy Chà cười toe toét với hàm răng trắng sáng chói có mặt khắp nơi trên các hang cùng ngõ hẻm. Thương hiệu Hynos gắn liền với kem đánh răng trong tâm trí người dân. Sản phẩm của hãng kem đánh răng Hynos có mặt khắp nơi tại Việt Nam, và sau đó ở thị trường Đông Nam Á và Hong Kong. Khác với các hãng và doanh nghiệp Việt Nam thời bấy giờ, ông đã trích ra nhiều hơn từ lợi nhuận vào quảng cáo thương hiệu, giới thiệu sản phẩm với tầm cở quốc tế, tương đương với quảng cáo của các thương hiệu nổi tiếng nước ngoài như Coca-Cola, Seiko, Adidas…

(7) Trương Vĩ Nhiên,”vua ciné”: Xuất thân từ một gia đình người Hoa, anh em họ Trương được ăn học và giáo dục theo phong cách quý phái người Hoa. Trương Vĩ Nhiên thấm nhuần đạo Phật và say mê triết lý Đông phương (11), có đầu óc phóng khoáng và nhạy cảm hiểu biết về tâm lý quần chúng và thị trường. Ông là chủ nhân hãng xuất nhập cảng phim Viễn Đông, đại lý độc quyền các phim của hảng phim nổi tiếng Shaw Brothers (Đài Loan) và Golden Harvest (Hồng Kông). Điện ảnh Hong Kong và Đài Loan cuối thập niên 1960, được coi là thời vàng son, đã sản xuất các phim dã sử kiếm hiệp thu hút khán giả nhiều nơi ở Đông Nam Á cạnh tranh và làm các hảng phim Âu Mỹ nể sợ và khâm phục. Ở miền Nam thời bấy giờ, các tài tử Lý Thanh, Trịnh Phối Phối, Khương Đại Vệ, Vương Vũ, Địch Long, Hà Lợi Lợi… với các phim Độc Long Đàm, Hiệp Khách Hành, Độc Thủ Đại Hiệp, Nhất kiếm trấn ải, Long hổ quyết đấu… đã chinh phục khán giả với doanh thu vượt kỷ lục hơn cả các phim Âu Mỹ thời đó như Cleopatre, Love Story, Romeo Juliet, Deux hommes dans la ville.. của các tài tử Liz Taylor, Ali Mc Graw, Steve McQueen, Alain Delon, Jean Belmondo..

Trương Văn Vĩ đã nhìn thấy trước qua sự say mê của người dân với các truyện võ hiệp Kim Dung và sau này Quỳnh Dao ở các nước Á châu và ông đã mua lại các rạp làm ăn ế ẩm, tân trang lại và làm chủ các rạp hát ciné ở nhiều nơi vùng Sài Gòn – Chợ Lớn: Eden, Đại Nam, Palace, Opéra, Oscar, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Đại Quang, Thủ Đô… (ngoài các rạp Rex, Văn Hoa Dakao, Văn Hoa Sài Gòn, Mini Rex A, B, C của ông Ưng Thi, trong hoàng gia nhà Nguyễn, chuyên chiếu phim cao cấp). Tất cả các rạp của Trương Văn Vĩ đều được sửa sang xây dựng mới mẻ, với hệ thống máy lạnh tốt, ghế ngồi bọc da, trang hoàng đẹp mắt và hấp dẫn khách hàng với hệ thống máy móc như máy chiếu, âm thanh, ánh sáng nhiều màu trong rạp, cả buvette (quầy giải khát) phục vụ ngay trong rạp, cùng các phương tiện quảng cáo đa dạng và quy mô. Bắt đầu từ năm 1966, Trương Vĩ Nhiên nhập cảng các loại phim võ hiệp, kiếm hiệp dã sữ Hồng Kông và Đài Loan, sau là phim tình cảm phỏng theo truyện của các tác giả nổi tiếng như Kim Dung, Ngọa Long tiên sinh, Quỳnh Dao…. Ông trở thành tỉ phú giàu có khi chỉ mới hơn 30 tuổi. Ông có ảnh hưởng rất lớn về nghệ thuật và văn hóa điện ảnh trong cuối thập niên 1960 và đầu 1970.

(8) L.N (“vua bột mì”): L.N giàu có bằng “cho vay lúa”,, nhập cảng thóc gạo miền Tây, kinh doanh bột mì .  L.N xây dựng ” Saigon kỹ nghệ bột mì công ty” (Sakybomi), hùn vốn vào công ty bột mì khác Viflomico. Để nắm độc quyền hai nhà máy cở lớn nhất ở Đông Nam Á này, L.N đã đóng cổ phần vào 3 ngân hàng: Trung Nam ngân hàng (100 triệu), Đồng Nai ngân hàng (40% cổ phần), Nông Doanh ngân hàng và vào hai công ty xuất nhập cảng Mỹ Liên (21 %), Hứa Nhuận Chân (70%), đồng thời lập hai công ty nhập khẩu 18 mặt hàng khác (3).

(9) Tập đoàn đại gia tộc họ Ông, chủ dầu cù là hiệu Con Cọp, được gọi là Cọp Saigon (Ông Nghiệp Hùng, Ông Nghiệp Sơ, Ông Nghiệp Kỳ, là con của Ông Tích). Ngoài ra tập đoàn này khống chế một nhà máy dệt lớn, một công ty vận tải đường bộ, đường sông, công ty xuất nhập cảng, một xưởng đóng tàu, một công ty bốc dở hàng ở Thương cảng Saigon, một ngân hàng và nhiều nhà cho thuê. Trong thời này cũng có nhiều tập đoàn và các nhân vật khác như các tập đoàn tư bản họ Trương, họ Mã, vua “xăng dầu” Lý Hớn, “vua cà phê” Trần Thiện Tứ, “vua vải sợ” Lưu Tú Dân, “vua thuốc lá” Siou Phong ….

 (b) Thời kỳ đổi mới sau 1975

Đất nước Việt Nam có nhiều người Hoa và Minh Hương giỏi, nhưng do những chính sách sai lầm, chính quyền trước đây đã đánh đổ họ qua mấy chiến dịch đánh tư sản sau 1975: vua thép, vua gạo, vua bột giặt, vua sà bông, vua bột mì … đều bị đánh tan hoang bại sản. Trong khi trong thời gian ấy mấy người Hoa chủ các công ty lớn ở các nước Đông Nam Á như Temasek của Singapore, St Miguel của Philippines..) vẫn còn không bằng một góc các công ty Hoa ở Vietnam.

Ngày nay có một người Minh hương nổi tiếng không kém chú Hỏa, Trần Thành xưa kia. Đó là “vua gốm” Lý Ngọc Minh, chủ công ty gốm Minh Long ở Bình Dương. Kế thừa truyền thống nghề gốm của người Minh hương ở Gia Định- Đồng Nai, ngày nay các cơ xưởng làm gốm (đa số ở Biên Hòa và Bình Dương) tiếp tục phát triển làm gốm, nhất là sau giai đoạn Đổi mới, với các sản phẩm đặc sắc xuất khẩu đi nhiều nơi trên thế giới. Ông đã tạo những bộ gốm nổi tiếng Cẩm Tú, Sơn Hà, Hồn Việt ..Trước đây ông có nhờ gs Cao Xuân Phổ và Trần Quốc Vượng cố vần để ông tạo con rồng Việt Nam theo kiểu triều đại Lý – Trần, lúc cổ thành Thăng Long vừa được khám phá, trên sản phẩm gốm của ông. Công ty ông cũng là nơi làm các “cup” gốm làm quà tặng cho các nguyên thủ quốc gia tham gia Hội nghị APEC năm ngoái ở Hà Nôi.

Cuộc đời của ông Minh trước 1975 đến nay đã được dựng thành phim “Miền đất phúc” làm nhiều tập chiếu trên truyền hình Tp Hồ Chí Minh. Xuất phát từ một gia đình có truyền thống làm gốm sứ ở Tân Phước Khánh (Tân Uyên – Bình Dương), gia tộc Lý Ngọc Minh đã có ba đời theo nghề gốm sứ. Năm 1975, đất nước thống nhất nhưng thương mại tư nhân bị cấm và hạn chế. Trãi qua bao khó kh ăn, ông vẫn kiên trì sản xuất và đến khoảng những giữa thập niên 1980 và đầu 1990 sản phẩm của ông bắt đầu có mặt tại thị trường các nước Đông Âu và tư bản. Nay thì ông Lý Ngọc Minh là người chính phủ Việt Nam trọng vọng (Ủy viên của mặt trận Tổ quốc, đại biểu quốc hội, anh hùng lao động …), công ty ông có gần 2000 công nhân làm việc và thương hiệu gốm Minh Long xuất khẩu qua nhiều nước làm các công ty Nhật, Hàn, Âu Mỹ gờm vì cạnh tranh và qua mặt họ.

VII. Chính Trị

Từ lúc Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch được chúa Nguyễn cho vào miền Nam mở đất, lập nghiệp, người Minh hương tiên phong cùng lưu dân người Việt và dân bản sứ Khmer đã khai hoang mở mang bờ cỏi làm vùng đất Gia Định-Đồng Nai (tức cả miền Nam thuở đó) trở nên trù phú. Miền Nam trở thành miền đất hứa của nhiều dân nghèo từ miền Trung vào lập cuộc đời mới. Người Minh hương đã tham gia bình đẳng trung thành nhớ ơn phục vụ phò chúa Nguyễn ngay cả lúc Nguyễn Ánh phải trốn chạy Tây Sơn bôn ba khắp nơi ở vùng đất mới. Các tướng Minh hương như Châu Văn Tiếp, Đỗ Thành Nhân, Võ Tánh.. là những tướng đã ra giúp Nguyễn Ánh trong cuộc tranh hùng với Tây Sơn. Vì sự giúp đỡ chúa Nguyễn, quân Tây Sơn năm 1783 đã giết rất nhiều người Hoa, hủy hoại hoàn toàn Cù lao phố, và năm 1785 lần nữa vào cướp giết, phá hủy cơ nghiệp người Hoa vùng Chợ Lớn, Mỹ Tho.

Khi Gia Long (Nguyễn Ánh) lấy được giang sơn, trong hàng công thần phục vụ triều đình có rất nhiều người gốc Minh hương và nhà vua đã nhớ ơn và đãi ngộ xứng đáng. Nhân tài gốc Minh hương, từ Võ Trường Toản, Trịnh Hoài Đức đến Trương Minh Giảng.. ra phục vụ triều đình và đất nước không phân biệt Việt hay Minh hương

Tuy nhiên sau khi Gia Long mất, vua Minh Mạng không hài lòng với quyền tự chủ của tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt. Lê Văn Duyệt vẫn theo chính sách của Gia Long cho người Hoa các bang được tự trị, và không có thuế thân. Sau khi tổng trấn Gia Định mất, chính sách hà khắc của Minh Mạng đối với Lê Văn Duyệt, và trung ương tập quyền bãi bỏ hết chính sách nhu hòa ngày trước gây bất bình với nhiều người ở Gia Định trước đây đã phò Gia Long kể cả người Minh hương, gốc Hoa, người Chăm, giáo sĩ truyền đạo người Pháp. Sau cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi bị dẹp mà trong hàng ngũ giúp Lê Văn Khôi có nhiều người Hoa, chính sách của Minh Mạng càng ngày càng khắc khe với người Hoa và người Minh hương. Trong tác phẩm thơ “Bốn Bang thư” của một người Hoa gọi là Bốn Bang (thực sự tên hiệu đại diện cho bốn bang Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến và Hải Nam) bị bắt và làm ra bài thơ dài 308 câu lục bát trước khi bị hành hình, có kể rõ về sự tình miền Nam trong cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi.

Từ đó người Minh Hương và Hoa ít có tham gia vào triều đình chính quyền cho đến thời Pháp thuộc, họ chỉ chăm chú làm ăn vì đối với họ chánh quyền Việt và Pháp cũng không khác qua sự đối xử, phân biệt.

Võ Tánh

Một trong “Gia Định tam hùng” (Châu Văn Tiếp, Đỗ Thành Nhân, Võ Tánh). người Minh Hương, tổ tiên trước kia ở làng Phước An (Biên Hòa) sau dời về Bình Dương, Gia Định. Thuở còn thanh niên, ông luyện tập võ nghệ, nổi tiếng là một võ sư cao cường có sức mạnh hơn người, một mình Võ Tánh đã dùng tay không đánh cọp tại 18 thôn Vườn Trầu . Đương thời, ông cùng với Đỗ Thành Nhân và Châu Văn Tiếp họp thành Gia Định tam hùng. Quân Tây Sơn thường nói rằng: “Trong bọn tam hùng đất Gia Định, Võ Tánh là anh hùng bậc nhất, không nên phạm đến”.

Vì không chịu khuất phục Tây Sơn, Võ Tánh chiêu tập nghĩa binh cùng với anh là Võ Nhân phất cờ khởi nghĩa tại 18 thôn Vườn Trầu (Gia Định), rồi kéo binh chiếm giữ cả vùng đất Gò Công. Sau khi người anh mất, ông rút quân về án giữ thôn Vườn Trầu. Nghĩa quân của Võ Tánh có đến mấy vạn người, chia thành 5 đoàn, được đặt hiệu là đạo quân Kiến Hạ.

Khi Nguyễn Phúc Ánh từ Xiêm La trở về nước có mời Võ Tánh về giúp. Năm 1788, Võ Tánh cùng các bộ tướng đến bái kiến Nguyễn vương. Nguyễn Phúc Ánh mừng rỡ, phong cho Võ Tánh làm Tiền phong dinh Khâm sai Chưởng cơ và gả em gái là Ngọc Du công chúa.

Ngay từ buổi đầu, Võ Tánh đã giúp Nguyễn Phúc Ánh nhiều công trạng: vây đánh và bắt được tướng của Tây Sơn tên Phạm Văn Tham (1789), đánh bại tướng Đào Văn Hổ và thu phục thành Diên khánh (1790). Khi trấn thủ thành Diên Khánh, Võ Tánh dùng mưu đuổi quân Tây Sơn đến vây thành (1794). Sau đó về lại Gia Định, ông được phong tước Quận Công kiêm lãnh chức Đại Tướng Quân. Năm 1797, ông theo Nguyễn Ánh ra đánh Quảng Nam, thắng được tướng Nguyễn Văn Ngụ tại cửa Đại Chiêm (Cửa Đại), quân sĩ Tây Sơn về hàng rất đông. Thừa thắng, ông vượt sông Mỹ Khê (Quảng Ngãi), đánh bại Đô đốc Nguyễn Văn Giáp.

Năm 1799, Võ Tánh lại theo Nguyễn Phúc Ánh ra đánh Qui Nhơn. Cùng với tướng Nguyễn Huỳnh Đức đánh thắng nhiều trận tại Thị Giả và cầu Tân An, giết được Đô đốc Nguyễn Thiệt và chiêu hàng Đô đốc Lê Chất. Thành Qui Nhơn được đổi tên là thành Bình Định và giao cho Võ Tánh và Ngô Tùng Châu ở lại trấn giữ. Lúc Võ Tánh cầm chân quân Tây Sơn tại thành Bình Định, Nguyễn Ánh đánh chiếm thành Phú Yên rất dễ dàng.

Không lâu, quân đội Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của Thái Phó Trần Quang Diệu, tướng giỏi của Tây Sơn phản công vây thành Bình Định. Nguyễn Ánh đưa binh ra giải cứu không nổi, cuộc bao vây măi kéo dài đến 14 tháng. Lâu ngày, trong thành binh sï thiếu lương thực rất nguy ngập. Ngày 7-7-1801, trong lúc bị vây ngặt, có người khuyên Võ Tánh bỏ thành mà chạy nhưng ông không chịu. Võ Tánh nói: “Không thể được. Ta phụng mạng giữ thành này, nên thề với thành cùng sống chết. Nếu bỏ thành mà hèn nhát trốn lấy một mình, thời sau này còn mặt mũi nào trông thấy Chúa thượng”. Sau đó ông trao cho tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu một bức thư đại ý nói rằng: “Phận sự ta làm chủ tướng thì đành liều chết ở dưới cờ, ta đâu có ngại. Còn như các quân sĩ không có tội tình gì, xin chớ nên giết hại”. Tiếp theo ông lấy rơm cỏ chất dưới lầu Bát Giác (Bình Định), đổ thuốc súng rồi tự đốt mà chết. Quan Hiệp trấn Ngô Tùng Châu cũng uống thuốc độc tự tử. Trần Quang Diệu đem quân vào thành, xúc động trước tấm gương tiết liệt của Võ Tánh, sai người làm lễ liệm tang tử tế và không làm tội hay giết hại một ai.

Vua Gia Long, sau khi lên ngôi Hoàng đế, tưởng nhớ đến công lao của Võ Tánh cho lập đền thờ ở nền cũ lầu Bát Giác, sai người đưa di cốt của ông về chôn tại Phú Nhuận, Gia Định (nay nằm trong một hẻm ở đường Hồ Văn Huê, Saigon) và truy tặng tước Dực vận Công thần, Phụ quốc Thượng tướng công, Trụ quốc úy Thái trung liệt. Vua Minh Mạng truy phong làm Hoài quốc công.

Ngày nay, người Bình Định vẫn còn lưu truyền câu hát nói lên cảm tình của dân với Võ Tánh:

Ngó lên ngọn tháp Cánh Tiên

Cảm thương quan Hậu thủ thiềng ba năm!

Châu Văn Tiếp

Châu Văn Tiếp sinh năm 1738, tên tộc là Châu Doãn Ngạnh, quê huyện Phù Mỹ, Quy Nhơn. Khi Tây Sơn đánh chiếm thành Quy Nhơn, gia đình ông dời về Phú Yên. Ông thông thạo 2 ngoại ngữ Xiêm và Miên. Sau ông chiêu mộ người, dựng cờ khởi nghĩa chống Tây Sơn. Cờ thêu bốn chữ lớn Lương Sơn Bá Quốc. Được Nguyễn Nhạc chiêu hàng nhưng sau đó tách ra theo chúa Nguyễn Ánh ở Gia Định. Năm Canh Tý (1780) Nguyễn Phúc ánh xưng vương tài Sài Côn (Sài gòn) phong ông làm khâm sai đại đô đốc, nổi tiếng trong gia đình tam hùng. Năm 1781, ông đánh ra Diên Khánh, nhưng thua rút về Phú Yên. Không lâu sau đó, Gia Định cũng thất thủ, ông theo Chúa Nguyễn sang Xiêm. Năm Giáp Thìn (1784), Chúa Nguyễn đưa binh Xiêm về chống nhau với Tây Sơn. Ông làm Bình tây đại đô đốc chưởng quản các đạo quân Xiêm trên sông Mang Thít (Vĩnh Long). Trong trận thủy chiến, ông bị tướng của nghĩa quân Tây Sơn là chưởng tiền Bảo giết chết. Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, sắc sai Đặng Đức Siêu soạn văn tế và truy phong ông Tả là quân đô đốc tước quận công, lập đền thờ tại thôn An hội (nay là làng Tân Long Hội), tỉnh Vĩnh Long và được thờ nơi miếu Hiển Trung của nhà Nguyễn ở Huế.

Trương Minh Giảng

Trương Minh Giảng, sinh ở Bình Dương, thuộc trấn Gia Định. Đỗ cử nhân năm 1819, được bổ nhiều chức vụ, sau lên ch ức Thượng thư bộ Hộ. Ông là người văn võ song tài. Lúc Lê Văn Khôi nổi loạn ở Gia Định, vua Minh Mạng sai ông và tướng Phan Văn Thúy mang quân vào dẹp loạn. Sau đó, ông cầm quân đánh với quân Xiêm xâm nhập nước ta ở mặt trận Hà Tiên theo đường thủy và Châu Đốc và An Giang qua ngã Chân Lạp (Cao Miên). Lúc bấy giờ Xiêm đã chiếm đóng và cai trị Chân Lạp

Ở mặt trận An Giang, tại sông Cổ Cắng Trương Minh Giảng và Nguyễn Văn Xuân đại phá quân Xiêm. Thắng thế tiến thẳng lên Nam Vang ( Phnom Penh), đưa vua nước nầy là Nặc Ông Chân về nước. Sau đó, Trương Minh Giảng cho lập đồn ở gần Nam Vang để bảo hộ Chân Lạp. Khi Nặc Ông Chân mất (1843), Trương Minh Giảng xin lập người con gái của Ông Chân là Ang Mey, tục gọi là Ngọc Văn công chúa lên làm Quận Chúa, rồi đổi nước Chân Lạp ra Trấn Tây Thành, chia làm 34 phủ huyện và cắt đặt người lo việc chính trị, kinh lý, thanh sát các việc buôn bán, đo ruộng đất và đặt các thứ thuế đinh, điền, thuyền bè… Không bao lâu, dân Chân Lạp nổi loạn dưới sự lãnh đạo của em Nặc Ông Chân là Nặc Ông Đôn, quan quân địa phương đánh mãi mà không dẹp nổi. Khi vua Minh Mạng mất, vua Thiệu Trị lên nối ngôi, sau một thời gian có nhiều khó khăn qua sự nổi dậy và chống đối của dân Chân Lạp mà Trấn Tây Tướng Quân (Trương Minh Giảng) không dập tắt được, một số triều thần tâu trình vua Thiệu Trị bỏ đất Trấn Tây, cho lệnh rút quân về An Giang. Năm 1841, Trương Minh Giảng về An Giang buồn phiền vì không giữ được thành Trấn Tây nên sinh bệnh rồi mất. Thật ra đây không phải là lỗi của ông mà vua Minh Mạng mới là người chịu trách nhiệm chính qua chính sách thật sai lầm, thiếu sáng suốt là thôn tính, xác nhập Chân Lạp vào Việt Nam. Một di sản để lại nhiều hệ quả ngoại giao tai hại sau này mà người Chân Lạp không quên cho đến ngày nay.

Phan Xích Long

Sinh năm 1893, Phan Xích Long tên thật là Phan Phát Sanh, con của Phan Núi, một người cảnh sát gốc Hoa tại Chợ Lớn. Từ thuở nhỏ Phan Phát Sanh đã tỏ ra là một tay anh chị hảo hán, trừ gian diệt bạo, nhờ đó đã kết nạp rất nhiều đàn em và trở thành đại ca. Tháng 3, năm 1913 (Quý Sửu), “đại ca” Phan Phát Sanh tự xưng Phan Xích Long, tự nhận là Đông Cung con vua Hàm Nghi và tự tôn làm Hoàng Đế cùng với một số đàn em làm cách mạng chống Pháp. Họ chế tạo lựu đạn, trái phá, dán truyền đơn khắp chợ Sài Gòn, Chợ Lớn, Bình Tây kêu gọi dân chúng nổi dậy. Nhóm hội kín “Thiên Địa Hội” của Phan Xích Long đặt bom ở trụ sở bót cảnh sát, xưởng Ba Son, ở Chợ Lớn, Tân An, Sóc Trăng… đến tận Nam Vang (Cao Miên) làm thực dân Pháp sợ hải trước sự lớn mạnh và bạo gan của phong trào Phan Xích Long.  Chẳng may Phan Xích Long bị bắt tại Phan Thiết cùng một số đồ đệ và. bị xử án chung thân khổ sai về tội khủng bố, phá rối trị an, giam tại nhà lao khám lớn Saigon.

Vụ án Phan Xích Long làm chấn động giới anh chị giang hồ mã thượng thời đó. Tháng 3-1916, thừa dịp Pháp đang bị Đức đánh tại mẫu quốc, một số đàn em dưới quyền của Hải Trí mặc áo đen, quần trắng, mang áo giáp da, trang bị bùa chú, tổ chức đánh phá Khám Lớn Sài Gòn để cứu “đại ca”. Ban đầu rất nhiều thuyền nhỏ tứ xứ đến đậu chen nhau dưới gầm cầu Khánh Hội, đến ba giờ khuya là khởi sự. Dưới khẩu hiệu “Cứu đại ca”, các đồng đảng thảy đều uống bùa, cổ mang phù chú, tay cầm gươm mác, kéo lên Khám lớn Sài Gòn. Nhưng mã tấu và bùa chú không chống nổi súng đạn, nên ngoài một số bị chết tại trận, hầu như tất cả đều bị bắt, tất cả gồm 56 người. Vài ngày sau 56 “anh hùng” và “đại ca” đều bị xử tử và chôn chung trong một mộ ở Đất Thánh Chà (đường Hiền Vương, Chợ Lớn). Tiếng thơm vẫn còn lưu truyền trong giới giang hồ Chợ Lớn, tầng lớp lao động làm xấu hổ rất nhiều người trí thức, tự nhận làm cách mạng nhưng không có cái can đảm của những tay giang hồ hảo hán, với chí khí “trọng nghĩa khinh tài”, cùng chịu chết chung với nhau chứ không bỏ chạy. Trong dân gian, giai thoại về “tướng cướp” Phan Xích Long là đề tài của nhiều vỡ hát bội, hồ quảng hay cải lương sau này ở miền Nam.

Trần Bội Cơ

Trong kháng chiến chống Pháp, người con gái nữ sinh Trần Bội Cơ ở quận 5 (thành phố Hồ Chí Minh), người Hoa gốc Phúc Kiến, đã đấu tranh đòi bãi bỏ lệnh đóng cửa trường ngày 4/5 hàng năm. Chị bị bắt lúc đang diễn thuyết trước đám đông học sinh sau đó bị tra tấn và hy sinh lúc chỉ mới 18 tuổi, ngày 12/5/1950. Chị bị sát hại lúc cô em gái Trần Bội Anh đã về Vĩnh Long. Biết tình hình Sài Gòn bất ổn nên ba của chị, ông Trần Thủy Nam, tức tốc lên Sài Gòn định đón con gái về nhưng không kịp. Tại nhà xác Bệnh viện Chợ Rẫy, ông Nam đã ngất xỉu khi thấy thân xác không toàn vẹn của chị. Ngày 2-9-1950, chị được truy tặng Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng 2. Sau ngày 30-4-1975, mộ chị được di dời từ Q.11 về nghĩa trang Lạc Cảnh, sau đó về yên nghỉ tại Nghĩa trang liệt sĩ TP.HCM.

VIII. Tổng luận

Vùng đất Nam bộ khi mới khẩn hoang lập nghiệp, người Minh hương và người Hoa sau này cũng như dân Việt từ miền Trung vào tìm cuộc sống mới với những cư dân Miên, Mạ đã ở đấy trước đó. Để lại và quên đi những lầm than, sai trái, áp bức ở vùng đất mà họ phải ra đi, lưu dân sống mở vùng đất mới, họ dễ đồng cảm với nhau, không câu nệ và phóng khoáng coi những người cùng hoàn cảnh là anh em, coi vùng đất Nam bộ là quê hương mới. Tất cả coi nhau như anh em và chính thái độ này đã tạo ra phong cách đặc trưng của vùng đất này: thực thà, học hỏi lẫn nhau, phóng khoáng, thực dụng và không câu nệ.

Một văn hóa mới đã được sinh ra dựa trên quan niệm và giá trị là mọi người đều bình đẳng không phân biệt với chí khí giúp kẻ cô thế, chống bất công và tinh thần hảo hán anh hùng “trọng nghĩa khinh tài”, không sợ, tiên phong tìm hay thử những cái mới, cái hay có thể áp dụng được làm tăng giá trị hay có lợi trong cuộc sống. Văn hóa Nam bộ đã có những đóng góp to lớn từ người Minh Hương trong nhiều lãnh vực, đúng hơn là con người nam bộ một phần là con người Minh hương.

Trong lãnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị, họ đã có những đóng góp lớn lao và hòa hợp như mọi công dân Việt Nam. Tùy theo từng thời kỳ của lịch sử, sự đóng góp tài năng có lên xuống là do thái độ và chính sách của chính quyền. Đã có những thời kỳ họ bị nghi kỵ và đối xử không công bằng như những đối tượng ngoại vi của cộng đồng dân Việt. Những chính sách sai lầm này là những kinh nghiệm quý báu mà chúng ta nên suy ngẫm và học hỏi.

——————-

Tham khảo

  1. Vương Hồng Sển, Saigon năm xưa, Nxb Trẻ, 2002.
  2. Vương Hồng Sển, Hơn nữa đời hư, Nxb Trẻ, 2003.
  3. Cao Văn Lương,  “Vài nét về giai cấp tư sản mại bản ở miền Nam dưới chế độ thực dân mới của Mỹ”, Nghiên cứu lịch sử, số 2, tháng 3 và 4, 1976
  4. Phan An, Trần Đại Tân, Lưu Kim Hoa, Lê Quốc Lâm, “Gáp phần tìm hiểu văn hóa người Hoa ở Nam bộ”, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Văn hóa-thông tin, 2006.
  5. Trần Hồng Liên, “Văn hóa người Hoa ở Nam bộ”, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2005.
  6. Nguyễn Cẩm Thúy, Định cư của người Hoa trên đất Nam bộ (từ thế kỷ 17 đến năm 1945), Nxb Khoa học Xã hội, Hà nội, 2000.
  7. Trần Khánh, Vai trò của người Hoa trong nền kinh tế các nước Đông Nam Á, Viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992.
  8. Tsai Maw Kuey, Người Hoa ở miền Nam Việt Nam, Thư viện quốc gia, Paris, 1968.
  9. Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Xuân Khoang – Phong tục Nam bộ xưa, tục thờ cúng thần thành hoàng tại làng thôn bắc bộ, Nxb Trẻ 1996.
  10. Nguyễn Đức Hiệp, Thăm mộ Trần Thượng Xuyên,http://213.251.176.152:8080/diendan/BanDocVaZD/thu-ban-111oc-15-1.2007/
  11. Dương Đức Dũng, Những gương mặt tỷ phú Saigon trước năm 1975, Nxb Trẻ
  12. Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Khuê – Trần Khuê, SàiGòn Gia Định qua thơ văn xưa, Nhà Xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1987.
  13. Huỳnh Minh, Gia Định xưa, Nxb Văn Hóa-Thông Tin, 2007.
  14. Phạm Quỳnh, Một tháng ở Nam Kỳ, http://vannghesongcuulong.org/vietnamese/tulieu_tacpham.asp?TPID=2346&LOAIID=17&TGID=567
  15. Lại Nguyên Ân, Một cuộc thảo luận về sách giáo khoa tiếng Việt trên báo chí Sài Gòn 1929-1930, Talawas 2006, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8049&rb=06
  16. Nguyễn Thị Hậu, Đi tìm quá khứ Sài Gòn, Xóm Lò Gốm xưa, www.vannghesongcuulong.org/vietnamese/tulieu_tacpham.asp?TPID=5238&LOAIID=18&LOAIREF=5&TGID=1046.
  17. Hứa Hoành, Những phú hộ lừng danh Nam Kỳ: Trương Văn Bền: nhà kỹ nghệ không bằng cấp kỹ sư, http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4nnntn1n31n343tq83a3q3m3237nnn0n
  18. Li Tana, P. Van Dyke, Canton, Cancao and Cochinchina: New data and new light on eighteenth-century Canton and the Nanyang, Chinese Southern Diaspora Studies, Vol.1, 2007, p.10-28.
  19. Bình Nguyên Lộc, Lột trần Việt ngữ, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9922&rb=08
  20. Vương Trí Nhàn, Ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa trong sự hình thành tiểu thuyết Việt Nam trước 1930 http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8433&rb=0102

 

Nguồn: Vanhoahoc.vn

http://nghiencuuquocte.org/2016/06/19/lich-su-nguoi-minh-huong-va-nguoi-hoa-o-nam-bo/

 

Những đề tài hoa văn thường được trang trí trên gốm Lái Thiêu và ý nghĩa của chúng

Hình ảnh minh họa :

Nhất dáng, nhì men, tam trí (hình dáng, chất men và trang trí) là 3 yếu tố tạo nên vẻ đẹp cơ bản hoàn hảo của sản phẩm gốm. Những biến đổi và nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng theo thời đại là nguồn động lực trực tiếp thúc đẩy sự tranh cãi và đổi mới hình dáng, chủng loại sản phẩm cũng như màu sắc, nội dung và kiểu thức đồ án họa tiết trang trí của Gốm Lái Thiêu. Sau đây là những ý nghĩa của các đồ án hoa văn trên đồ gốm Lái Thiêu mà ta thường gặp.
Bát bửu: Tám vật được coi là quý giá đó là Bát bửu, Bát bửu có nhiều bộ: 1. Tám trì vật/Bửu bối của Bát Tiên, thường được thể hiện thành đồ án cặp đôi, tức 4 nhóm: Quạt vả – Kiếm, sen – Gỗ đào, ống sáo – Bầu trói/Hồ lô, cặp sênh (nhạc khí có hai dăm); 2. Bát bửu Phật giáo (gốc là trì vật của Thần Bảo tồn Vishnu) thường được chạm khắc dưới bàn chân Phật: 1. Bùa Ashtamagala; 2. Hoa sen; 3. Bình đựng nước; 4. Phất trần; 5. Lọng tán; 6. Cá; 7. Ốc; 8. Cờ. Tám thứ Bửu bối này chuyển qua Trung Quốc được gọi là Bát bửu: 1. Biến thể của Ashtamangala thành dây liên Bát kiết gọi là bàn trưởng (dây thắt nút vô tận), biểu thị cho sự may mắn, trường thọ, sự phong phú vô tận; 2. Xa luân; 3. Loa (ốc); 4. Liên hoa (bông sen); 5. Bảo cái (Lọng quý); 6. Thiên cái (tàng); 7. Bảo bình (bình); 8. Song ngư (hai con cá). Các món đồ quý thật ra có đến 14 món: 1. Ngọc như ý; 2. Khánh đá; 3. Tường vân (mây lành); 4. Phương viên (hình thoi/ miếng chả); 5. Sừng tê; 6. Lư; 7. Sách; 8. Bức tranh; 9. Lá ngải băng; 10. Lá chuối; 11. Cỏ thi; 12. Đinh; 13. Nấm linh chi; 14. Vàng xuồng.

Bát tiên: Tám vị Tiên, thường gặp được hiểu là 8 vị chủ quản về phía đông (dựa theo Tiên thoạiĐông du Bát Tiên). Mỗi vị cũng được tôn làm thần Bảo hộ các ngành nghề và mỗi vị đều sở đắc một thứ bửu bối riêng: 1. Lý Thiết Quài (người ăn mày thọt chân, chống gậy sắt, mang hoặc cầm cái hồ lô, ở đó chứa tinh anh của ông); 2. Hàn Tương Từ (Tiên Đồng thổi sáo, được tôn làm thần của các nhạc công); 3. Hán Chung Ly (cầm quạt lá vả, đôi khi thêm quả đào tiên); 4. Lam Thái Hòa (Xách giỏ hoa, được tôn làm thần của những người bán hoa); Lữ Đồng Tân (tay cầm phất trần đuợc tôn làm thần y dược); 6. Trương Qua Lão (cầm một thứ nhạc khí); 7. Tào Quốc Cựu (tay cần sênh, được tôn làm thần của giới nghệ sĩ); 8. Hà Tiên cô (cầm cái vợt cán dài hay một ngó sen, được tôn làm thần bảo hộ gia đình).

Bát Tiên biểu thị cho sự trường sinh bất tử. Do đó có đồ án Bát Tiên hiến thọ (8 vị tiên ban sự sống lâu. Mỗi vị tay cầm một loại linh dược/thảo dược) Phổ biến hơn là đồ án Bát Tiên quá Hải (8 vị Tiên qua biển) vẽ tiên thoại kể về chuyện đông du của 8 vị tiên, trừ các loại ma quái ở biển Đông. Trên đồ gốm Lái Thiêu có trường hợp vẽ đủ Bát Tiên, có trường hợp vẽ nhị Tiên cũng có trường hợp vẽ một trong Bát Tiên…

Bướm: Chữ Hán gọi là Hồ Điệp. “Điệp” đồng âm với “Điệt” (người thọ trên 80 tuổi). Do đó, theo truyền thuyết Bướm đuợc thể hiện trong các đồ án chúc thọ. Ngoài ra, dựa vào chuyện Trang Tử nằm mơ hóa Bướm hay lượn vui giữa muôn hoa. Do đó, Buớm và Hoa biểu hiện cho niềm vui thú và ở một khía cạnh khác Buớm cũng biểu thị cho hạnh phúc lứa đôi. Có lẽ các đồ án trang trí Bướm – hoa trên đồ gốm Lái Thiêu biểu ý sự vui thú hay hạnh phúc lứa đôi/vợ chồng.

Cá: Chữ Hán là “Ngư”, đồng âm với “dư” là dư dật, sung túc. Do đó, cá biểu thị cho sự sinh con, đẻ cháu nối truyền dòng giống. Đồ án trang trí trên gốm Lái Thiêu là Tảo – Ngư (rong – cá) cũng dựa vào tính đồng âm để biểu thị lời cầu chúc sớm được sung túc/tảo dư.

Cá chép: Chữ Hán đọc là “Lý Ngư”, đồng âm với lợi dư. Do đó cá chép là loại đồ án trang trí biểu đạt ý chúc tụng sung túc. Mặt khác, tục truyền cứ vào tháng 3 âm lịch, cá chép thường bơi ngược dòng Hoàng Hà tranh tài vượt dòng Long Môn để hóa thành Rồng. Cá chép vượt Long Môn được biểu thị việc thi cử đỗ đạt của kẻ sĩ. Long Môn tam cấp biểu thị cho 3 cấp tuyển trạch: Thi hương, Thi hội, Thi đình. Các đồ án thể hiện truyền thuyết này thường vẽ con cá chép đang vọt lên trên đỉnh song nước/hồi ba chập chùng và ở trên không là những con rồng đang lượn trên mây ngó xuống. Do đó, đồ án này còn được gọi là “Long ngư hý thủy” hay “Khiêu Long môn”.

Cá vàng: Là loài cá kiểng phổ biến, người ta nuôi cá vàng là để ngắm nhìn chúng vẩn vơ bơi lội một cách thanh nhàn. Trên đồ gốm Lái Thiêu, cá vàng được vẽ với những cọng chum/chùm rong để cầu chúc sớm được hạnh phúc (tảo dư). Có đồ án vẽ được một con, lại có đồ án vẽ 2 hoặc 4 con cá vàng. Ở đây, cá vàng đọc theo âm Hán tự là “kim ngư” đồng âm “kim dư” (có vàng là dư dả). Do đó, đồ án cá vàng thường được tặng vào dịp đám cưới. Lại có đồ án vẽ kim ngư với hoa sen để biểu thị lời chúc “Kim ngọc đồng hòa” (Kim ngư: Kim ngọc; Hà (sen): Hòa). Đồ án vẽ hai con cá vàng biểu trưng cho sự sinh sản, phát đạt, phồn thịnh.

Chim: Là đề tài phổ biến trong trang trí mỹ thuật gốm và nhiều loài chim hàm chứa ý nghĩa biểu trưng: Hạc, đại bàng, chim thước, én, trĩ, cút, sẻ. Loài chim “Bạc đầu” biểu trưng cho người cao tuổi và cặp chim loại này thường thích hợp với loại hoa mẫu đơn: biểu đạt sự mong cầu/chúc tụng hậu vận được giàu sang.

Cổ đồ: Các đồ vật cổ xưa được coi là quý báu. Cổ đồ bát bửu: 1. Tiền đồng; 2. Ngọc châu (trân châu); 3. Miếng chả (hình thoi, gọi là phương viên); 4. Sách; 5. Khánh (nhạc cụ); 6. Bức họa (thường thể hiện dưới dạng tranh cuộn); 7. Sừng tê; 8. Lá ngải băng. 8 vật này biểu thị cho sự phú quý và tao nhã. Cúng thường thể hiện cặp đôi. Mặt khác cổ đồ (còn được gọi là bách cổ) là các nhóm thuộc bát bửu hay tứ bửu là những vật biểu trưng cho mỹ thuật âm nhạc (nhạc cụ), thú vui giải trí (bàn cờ), thư pháp/thư họa (tranh cuộn, chữ viết) hoặc bức tranh. Các loại vật này được thể hiện ước lệ tích hợp với bồn chậu (đồ tự khí), hoa, thú vật… Có những mô típ trang trí nhỏ bé không cho phép chúng ta nhận dạng để xếp loại chúng vào danh mục phân loại này.

Công: Biểu thị vẻ đẹp và sự sang trọng cao quý. Mặt khác, long đuôi công có hình dáng mặt trời nên cũng được coi là có khả năng trừ ma quỷ, điều xấu.

Cúc: Loài hoa biểu trưng cho mùa thu (trong đồ án tứ thời Mai – Lan – Cúc – Trúc) và biểu thị cho khí tiết thanh tao của bậc cao sĩ, lấy sự an nhàn, ẩn dật làm vui và xa lánh danh lợi. Ở trong các đồ án khánh chúc, cúc đồng âm với cát (điềm lành) nên được biểu ý cát tường. Ở đồ gốm Lái Thiêu, cúc thường thích hợp với gà là để biểu thị sự cát tường.

Dây lá: Đồ án trang trí một dãy dây lá/dây leo, biểu trưng cho sự trường tồn, sự nối truyền của các thế hệ không dứt.

Dơi: Chữ Hán gọi là “biên bức” có âm đọc đồng âm với phúc/phước. Do đó đồ hình Dơi biểu thị cho phúc/phước. Đồ án 5 con dơi biểu thị cho ngũ phúc (Phước, lộc, thọ, khang, ninh).

Đá: Giống như núi, đá biểu thị cho sự trường tồn, trường thọ. Đồ án vẽ hòn núi bay, quả núi nhô lên trên mặt biển là biểu thị câu chúc thọ “Thọ tỷ Nam sơn, Phước như Đông hải”. Đá tích hợp với hoa sen biểu thị chí lớn của người quân tử.

Đào: Đào (cây, hoa, quả) có nhiều ý nghĩa biểu trưng. Gỗ đào treo trước cửa có công năng trừ tà, trái đào biểu trưng cho trường thọ (theo thần thoại: Vườn đào tiên của Tây Vương Mẫu, 1.000 năm mới chín trái một lần) và hoa đào biểu thị cho vẻ đẹp của người thiếu nữ.

Em bé đọc sách: Đồ án thấy trên cái gạc – bù – lệch. Cậu bé ngồi chăm chú đọc sách bên ven đường, sau lưng là dãy tường rào hoặc sau lưng là cây chuối… Đồ án em bé đọc sách này có người cho rằng đó là Chu Mãi Thần, người đời nhà Hán rất chăm học, vừa đi bán củi, vừa đem sách theo học. Năm 50 tuổi được tiến cử lên vua Võ Đế, được phong làm quan lớn. Lại nữa, có người cho rằng đó là Trác Dẫn (nhà nghèo và rất ham học. Ông bắt đom đóm, lấy ánh sáng thay đèn để đọc sách, học bài). Nói chung dù tra cứu như thế nào thì đồ án này cũng đều có ý nghĩa “khuyến học”.

Hạc: Là loài chim dung để biểu thị sự trường thọ. Đồ án phổ biến là Tùng – Hạc trường xuân (Hạc và cây tùng) cũng biểu thị cho sự sống lâu khỏe mạnh.

Hoa: Hoa của bốn mùa là mộc lan hay viên vĩ (xuân), Mẫu đơn hay Sen (hạ), Cúc (thu) và Mai hay Trúc (đông). Có một danh mục hoa tiêu biểu cho tháng, nhưng danh mục này tùy từng địa phương có khác nhau, song cũng có một số yếu tố giống nhau trong các danh mục đó: Hoa mai (tháng 2 âm lịch), Hoa đào (tháng 3), hoa sen (tháng 6), hoa quế (tháng 8) và hoa cúc (tháng 9). Do đó, trong các đồ án trang trí dùng hoa biểu trưng cho tiết thứ, cho bốn mùa có phần khó xác định. Mặt khác, hoa tích hợp với các loài chim để tạo thành các đồ án “Hoa Điểu” để biểu thị những ý nghĩa riêng. Bốn “bạn hữu” của hoa đều thấy trong các đồ án trang trí gốm Lái Thiêu là chim sẻ, chim yến, ong và bướm. Trong mỹ thuật, cây hoa và chim, bướm, thảo trùng là cặp đôi tĩnh – động, hô ứng cho nhau. Đó là “Luật âm – dương” của cái đẹp.

Hoa hồng: Đồ án tứ thời sử dụng bốn loại hoa để biểu thị cho bốn mùa. Ngược lại hoa hồng biểu thị cho cả bốn mùa, bởi hoa hồng nở quanh năm.

Hoàng Oanh (chim Vàng Anh): Nhờ có tiếng hót hay nên Hoàng Oanh biểu thị niềm vui và âm nhạc. Hoàng Oanh thường tích hợp với hoa/cành/trái đào.

Hồ lô (Bầu trói): Bình chứa có phép tiên của đạo sĩ. Nó đựng chứa linh đan hay pháp thuật vô cùng linh nghiệm. Hồ lô là một mô hình của Trời và Đất, thể hiện một thể thống nhất. Khi mở có một luồng khí bay ra để bắt ma quỷ. Bầu trói/hồ lô biểu thị cho Lý Thiết Quài, một trong Bát Tiên. Ngoài ra, đồ án vẽ một dây bầu dài có trái, lá, tua cuốn… Biểu thị cho lời chúc “Vạn đại tử tôn” (con cháu truyền nối vạn đời).

Hổ (Cọp): Là chúa của các loài dã thú. Nó là sinh vật dương hàm chứa nguyên lý nam tính. Hổ được coi là con vật dũng mãnh có khả năng khu trừ ma quỷ.

Hổ phù (mặt bợm, mặt hợm): Là đồ án trang trí trên khoen cửa, quai xách của các loại bình, lọ, đôn, chậu, rương. Về nguồn gốc có nhiều ý kiến khác nhau: 1. Mặt thao thiếc đắp nổi; 2. Mặt con quì (thú một chân, chuyên bắt ma quỷ ăn thịt)… Nói chung đồ án này có công năng trừ tà, chống lại các điều xấu, các thế lực hắc ám…

Lan: Biểu trưng chính của lan chủ vào mùi hương và hướng về nữ giới. Nói chung, lan biểu thị cho tình yêu và vẻ đẹp. Cụm từ “Kim Lan chi” dung chỉ tình bạn thân thiết giữa hai người nam hay người nữ, không phân biệt giới tính. Câu nói: “Sống là kim lan đồng cành, chết đồng mộ” để chỉ tình yêu chung thủy.

Lân: Một trong tứ linh. Theo tín niệm cổ, Lân xuất hiện là điềm báo có thánh nhân xuất hiện, cuộc sống được thái bình. Do đó, lân biểu trưng cho điềm lành. Trong tâm thức cổ đại, Phụng – hoàng, kỳ – lân, Uyên ương là cặp đôi lưỡng thể này có ý nghĩa vũ trụ. Về sau, các cặp đôi lưỡng thể phân biệt ra âm – dương, đực cái – Trong gốm Lái Thiêu, cặp luôn luôn là con đực (kỳ), con cái (lân) biểu thị cho âm dương hòa hợp, tức điều cát tường.

Lựu: Còn gọi là “thạch lựu” là trái có nhiều hạt (tử). Do đó, lựu biểu thị lời chúc phúc: Có nhiều con cái. Đồ án trang trí thường thể hiện một hoặc hai ba quả lựu trong đó có một quả đã tách một miếng vỏ để lộ ra những hạt lựu, biểu thị lời chúc trong lễ cưới “Lựu khai bách tửu” (lựu nở trăm con”. Lại có đồ án tích hợp lựu với phật  thủ, Đào biểu thị lời chúc tam đa: Đa nam, đa phú, đa thọ.

Mai: Mai biểu trưng cho cốt cách người phụ nữ đẹp, mùa xuân. Trong gốm Lái Thiêu, mai được tích hợp với trăng và đồ án mai – Nguyệt (hồng mai hay bạch mai), thuộc nhóm đề tài hoa hảo nguyệt viên (Hoa đẹp trăng tròn) biểu thị cho sự tròn đầy và tương hợp, một hảo cảnh của lứa đôi hay mở rộng ra là cuộc sống thanh bình.

Mẫu đơn: Là chúa của các loài hoa, biểu thị cho phú quý (giàu có và danh giá). Mẫu đơn có nhiều màu nhưng màu đỏ là được coi trọng và có giá trị nhất. Hoa mẫu đơn trắng biểu thị cho các thanh, thiếu nữ tài sắc vẹn toàn. Trong dân gian “mẫu đơn chỉ có cô gái xinh đẹp. Tục truyền, hoa mẫu đơn nở hương thơm tỏa xa nghìn dặm quyến rũ các loài hoa khác và bướm. Ở đây, bướm biểu thị cho các chàng trai trẻ và hoa mẫu đơn biểu thị cho các cô gái. Đồ án tứ thời gộp các loài hoa để biểu thị bốn mùa: Mẫu đơn (xuân), sen (hạ), cúc (thu), mai (đông). Ngoài ra, mẫu đơn tích hợp với phù dung chỉ sự giàu có và tiếng tăm; tích hợp với đào biểu thị sự trường thọ, giàu có và danh vọng; tích hợp với tùng và đá chỉ sự giàu có và trường thọ.

Mây: Biểu trưng cho vận tốt và phúc lành, đặt biệt là mây nhiều màu; mây ngũ sắc là biểu thị phúc lành năm lần hơn. Tường vân (mây lành), biểu thị sự thái bình. Trong trang trí hình vẽ mây cách điệu (mây cuộn, mây cụm, mây hình đầu song…) hay tả thực. Mây phủ trên đỉnh núi/sườn núi biểu thị cảnh núi chập chùng xa thẳm. Đó là chi tiết điểm xuyến cho cảnh sơn thủy có tình quân bình giữa tĩnh và động.

Ngựa: Trong Kinh Dịch thì rồng là dương, ngựa là âm, đó là hai con vật được chọn làm đại diện cho hai giới tính; nhưng về sau ngựa biểu thị cho nguyên lý dương và bò biểu thị cho nguyên lý âm. Sau nữa, ngựa hồng biểu thị cho tuấn mã gốc từ ngựa Xích Thố, con ngựa chiến của Quang Vũ. Ngược lại, ngựa trắng xuất hiện nhiều trong kinh văn nhà phật, biểu trưng cho sự thanh tịnh / thanh khiết và trung thành. Trong đồ gốm Lái Thiêu thấy có đồ án Liễu – Mã (Ngựa và cây Liễu). Như chúng ta biết, Liễu biểu trưng cho mùa xuân, mùa hưng vượng của vạn vật và cũng do vẻ đẹp, sự mềm mại, thướt tha của nó nên liễu biểu thị vẻ đẹp duyên dáng của nữ giới.

Ong: Biểu trưng cho sự cần cù và cần kiệm. Đồ án thấy trên gốm Lái Thiêu là ong và hoa biểu thị cho sự tương hợp.

Phật thủ: Loaki trái có hình dáng như bàn tay, được gọi là bàn tay Phật. Phật có âm là “pu”, đồng âm vơi “phú” (giàu có). Nên quả này biểu thị cho sự giàu có.

Phật thủ – Đào – Lựu: Biểu thị cho tam đa: Đa phú (trái phật thủ), đa thị (trái đào) và đa nam (trái lựu) có nhiều hạt (tử). Nên quả này biểu thị cho việc có nhiều con cháu.

Phù dung (hoa): Biểu trưng cho sự giàu có (phù đồng “âm phú”) và danh giá (dung: đồng âm “danh”) hay nói rộng hơn là danh giá và rạng rỡ. Hương thơm của hoa phù dung thường sánh với vẻ duyên dáng của các cô thiếu nữ.

Phụng hoàng: Là một trong tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng). Theo tín niệm truyền thống, phụng là giống chim đem lại điềm lành, khi phụng xuất hiện thì có Thánh nhân ra đời, báo hiệu điềm thái bình thịnh trị. Về xa xưa hơn, phụng vốn là thần gió. Đồ án thường thấy là phụng vũ (chim phụng múa) hay ngô đồng – phụng (chim phụng đậu trên cây ngô đồng). Mặt khác, quan niệm cổ xưa cho rằng, trong 360 loài chim, phụng hoàng là loài chim lớn hơn cả, nên được coi là chúa của loài chim. Trong tâm thức cổ đại, phụng – hoàng, kỳ – lân, Uyên ương là cặp đôi lưỡng thể biểu thị cho cái khởi nguyên, chưa phân khai âm dương. Do đó, các cặp đôi lưỡng thể này có ý nghĩa vũ trụ, nên có tính thiêng tối thượng. Về sau phụng được coi là con mái, hoàng là con trống. Theo đó, phụng biểu thị hoàng hậu, các bậc nữ nhi tôn quý và sự phú quý nói chung. Về hình tướng, sách cổ chép rằng: Phụng là sự kết hợp giữa Thiên Nga và Lân, ức chim sẻ, mỏ gà, cổ rắn và đuôi cá (12 sợi lông), trán sếu, tiếng kêu như Thiên Nga, có văn vẻ như Rồng và lưng khum như rùa. Lông phụng năm màu biểu thị cho ngũ thường… Trong các đồ án trang trí trên đồ gốm Lái Thiêu thấy có đồ án phi phụng (phụng bay, biểu thị điềm lành). Mẫu đơn – phụng, biểu thị sự tương hợp lứa đôi. Theo đạo giáo, chim phụng được coi là đơn điểu biểu trưng cho ánh sáng và hơi ấm mùa hạ, mùa gặt hái hàng năm.

Rồng: Đứng đầu trong tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng). Đây là con vật huyền thoại được coi là cách điệu từ Rắn và từ Cá Sấu. Cũng có ý kiến cho rằng, Rồng được sáng tạo trên cơ sở tích hợp 36 bộ phận tiêu biểu của 36 con vật vốn là vật tổ/tổ tiên của các tộc người cổ sơ ở Trung Quốc. Về hình tướng, theo quy phạm cổ điển thì Rồng có đầu Lạc Đà, sừng Nai, mắt Thỏ, tai Bò, cổ Rắn, bụng Ếch, vảy Cá Chép, móng Diều Hâu và bàn tay/chân Hổ. Vảy lưng có 81 cái, Vảy ở hầu như hướng lên đầu và vảy ở đầu dựng lên như một dãy núi. Mỗi mép đều có râu mép và râu cằm dài đến ức, nơi đó có một viên minh châu sáng rực. Rồng có loại có sừng, có loại không sừng. Rồng không có khả năng thính giác, tức không nghe được. Nó thở thành mây đôi khi đổi thành mưa hoặc lửa. Quan niệm phổ biến coi Rồng là vật thiêng biểu trưng cho mạnh mẽ, nam tính, năng lực phát triển và đồng nhất với nguyên lý dương: Động, phát triển, thịnh vượng. Tính theo ngũ phương, Rồng tọa dị ở hướng Đông – là hướng của mặt trời mọc, sự bắt đầu (sinh) và mưa. Ở đây rồng được coi là Thanh Long đối với Bạch Hổ tọa vị ở hướng tây.

Trong gốm Lái Thiêu thường thấy rồng trong các đồ án lưỡng long tranh châu, Lưỡng Long triều dương, Long – vân, Long – Phụng, Long ngư hý thủy (xem cá chép/ -lý ngư), Rồng đuổi nhau/ -Long truy, Rồng cuộn…

Châu (ở đồ án Lưỡng long tranh châu được coi như mặt trời); tức tranh châu hay triều dương đều có ý nghĩa như nhau: Biểu thị cho “tam dương” (2 rồng và mặt trời) hàm ý chúc tam dương khai thái, tức gặp được vận hội tốt lành. Theo quan niệm của dịch lý thì tháng cuối trong 12 con giáp là tháng Hợi (10 âm lịch) là tháng thuần âm (sáu hào âm), tháng Tý (tháng 11 âm lịch) dương bắt đầu sinh (nhất dương sinh), tháng sửu (tháng 12 âm lịch) hai dương sinh, tháng Giêng (tức tháng Dần), ba dương sinh tạo quẻ Địa Thiên Thái, nên đầu năm gọi là tiết “Tam dương khai thái”. Cũng có ý kiến cho rằng ở đồ án Lưỡng long tranh châu, viên ngọc châu biểu thị cho điều tốt lành, may mắn hay sự thành công mỹ mãn.

Đồ án Long – Phụng biểu thị cho sự điều hòa / hòa hợp âm dương, được định danh là “Long phụng trình tường” (rồng và phụng bày ra điềm lành), được hiểu là lời chúc mừng hôn nhân hay nói rộng ra là mưa thuận gió hòa, thái bình thịnh trị.

Đồ án Long – Vân (rồng bay lượn ẩn hiện trong mây) biểu thị câu chúc “Long vân khánh hội” (rồng gặp được mây), tức cầu chúc được vận hội may mắn.

Rùa: Là một trong tứ linh. Đây là linh vật ít thấy trong trang trí đồ gốm Lái Thiêu. Rùa chỉ thấy xuất hiện trong đồ án tứ linh bằng một tượng gắn làm quai cái lư hương gốm Quảng men thanh lục độc sắc ở chùa Ông Lái Thiêu. Rùa là con vật sống lâu nên thường dùng để biểu thị lời chúc trường thọ. Riêng việc rùa coi là linh vật có lẽ bắt nguồn từ truyền thuyết: Vua Văn Vương, hoàng đế sáng lập nhà Chu (Trung Quốc) bắt gặp một con rùa ở sông Lạc. Dựa theo những vạch khắc trên vai con rùa đó, Văn Vương lập ra bát quái.

Sách: Sách (thư) là một trong tám biểu trưng của việc học hành. Cho đến nay, các bậc cha mẹ vẫn bày các vật gồm tiền bạc / vàng, con rùa, trái chuối và sách để cho đứa bé chọn lựa vào dịp thôi nôi. Nếu bé chọn sách thì coi đó là sự báo hiệu rằng trẻ rất ham học. Trên đồ gốm Lái Thiêu, sách được tích hợp trong đồ án cổ đồ: Sách, lọ hoa, san hô… hoa ở đây theo truyền thống là hạnh nhân.

Sen: Loài hoa này biểu trưng nhiều ý nghĩa: 1. Sự trong sạch tinh khiết, không bị tạp nhiễm; 2. Nhân quả luân hồi: quá khứ (sen nở), hiện tại (đài sen), tương lai (hạt sen); 3. Hôn nhân hảo hợp 9 hai hoa cùng một bụi); 4. Sự nối truyền không dứt (hạt sen gọi là “tử”, đồng âm với “tử” là con cái); 5. Thịnh vượng (lá hoa phủ kín mặt nước); 6. Tiềm năng sinh lực dồi dào (xuyên qua bùn đất vượt lên mặt nước).

Sen . Vịt: Chữ Hán là liên . áp, đồng âm với “Liên . giáp”, biểu thị lời chúc việc học hành thi cử đỗ đạt.

Tam đa: Tích cổ: Vua Nghiêu đi tuần thú đất Hoa, quan Phong Nhân đất ấy chúc mừng vua được “đa phú, đa thọ, đa nam” (giàu có, sống lâu, sinh được nhiều con trai). Vua Nghiêu từ chối rằng: ”Đa nam đa ưu, đa thọ đa nhục, đa phú đa oán” (lắm con nhiều lo, sống lâu nhiều nhục, giàu lắm oán nhiều). Đó là triết lý thời Nghiêu Thuấn, còn đời sau, tam đa vẫn là mong cầu của thế nhân. Trong mỹ thuật, tam đa đồ được thể hiện bằng hình vẽ trái Phật thủ (phú), trái đào (thọ) và trái lựu (đông con).

Thất hiền: Bảy người hiền thời nhà Tấn ở Trúc Lâm: Kê Khang, Trần Hựu, Nguyễn Tịch, Sơn Đào, Hướng Tú, Lưu Linh và Vương Nhung. (Có tài liệu khác: Kê Khang, Nguyễn Tịch, Sơn Đào, Hướng Tú, Lưu Linh, Nguyễn Hàm, Vương Mậu).

Thủy tiên: Loài hoa nở vào dịp đầu năm, biểu trưng cho sự may mắn trong năm mới. Trên đồ gốm Lái Thiêu, bồn hoa Thủy tiên thường tích hợp với cổ đồ. Đồ án gồm hoa thủy tiên, trúc và hòn đá biểu thị lời chúc: Tiên chúc trường thọ. Mặt khác, cũng như hoa lan, hoa thủy tiên biểu trưng cho đôi lứa vợ chồng.

Trầu cau: Đồ án thấy rất hiếm, chỉ thấy trang trí bằng đồ án đắp nổi trên cái chóe rượu dùng trong hôn lễ này. Lưu ý tục ăn trầu phổ biến vùng Đông Nam Á lẫn Hoa Nam, đặc biệt đây là lễ vật cưới phải có của người Quảng Đông.

Trĩ: Loài chim có đuôi dài, có vẻ đẹp trang nhã, thường thấy phổ biến trong mỹ thuật truyền thống. Tục truyền, trĩ biến thành con sò hay con rắn vào tháng đầu tiên của mùa đông và dựa vào thời điểm trĩ gáy, người ta đoán trước về lũ lụt, sấm sét và sao chổi. Trĩ là một trong 12 huy hiệu của bậc đế vương, biểu thị cho hoàng hậu. Trong xã hội, trĩ tượng trưng cho chức quan văn.

Trúc: Trúc có đốt thẳng, rỗng ruột, mùa đông lạnh giá không rụng lá biểu trưng cho người quân tử. Trúc thường tích hợp với mai, sen và cúc thành bộ tứ biểu thị cho tứ thời (bốn mùa). Ngoài ra còn thấy các đồ án trúc – tước (trúc và chim sẻ) biểu ý chúc (trúc) được sự vui mừng (chim sẻ: hỉ tước).

Tuế hàn tam hữu: Đồ án vẽ khắc 3 loại cây gọi là “tam hữu”: tùng, trúc và mai. Đây là 3 loại cây chịu đựng được giá rét của mùa đông (mùa lạnh hàng năm: “tuế hàn”). Đồ án này biểu ý tôn vinh sự cứng cỏi, nỗ lực vượt qua được thử thách khắc nghiệt. Đồ án này lúc thể hiện cả 3 loại cây, lúc chỉ có tùng và mai.

Vạn: Chữ vạn là biểu trưng cổ xưa, biểu thị sự bất tử, sự cát tường. Đồ án trang trí thường thấy là chữ vạn đơn hoặc dính liền nhau ở bốn phía tạo thành một mạng liên kết nhiều chữ vạn để biểu ý chúc tụng được nhiều may mắn.

Ve sầu: Từ xưa, người ta đã cho rằng con ve già lột xác thành con trùng sống dưới đất và lại tái sinh thành ve. Chính vì vậy, ve được biểu trưng cho sự bất tử. Người Trung Quốc dùng con ve chạm trổ bằng ngọc thạch bỏ vào miệng người chết để cầu tái sinh.

Việc trang trí đồ gốm luôn yêu cầu về nguyên lý là: Đồ án – Hoa văn trong trang trí phải phù hợp với hình dáng sản phẩm vì hình dáng là cái nền cho hoa văn – Đồ án trang trí và trang trí trên đồ gốm là trang trí trên vật phẩm hình khối, không phải trên mặt phẳng như là tranh vẽ. Cách sắp xếp bố cục các mảng trang trí trên từng vật phẩm gốm Lái Thiêu thông thường là được ước lượng bằng mắt. Người vẽ gốm theo kinh nghiệm thấy thuận mắt là được. Cách ước lượng này đã dẫn đến hiệu quả là tạo được tính tự nhiên của hình họa, cảnh trí. Ngược lại, đối với các đồ án thuộc dạng hình học hoặc dạng tự chữ Hán lại phải được cân nhắc kỹ để đạt được sự trang nghiêm thông qua sự đăng đối về sau, do ảnh huởng của quy tắc đối xứng, gương được lưu ý nhiều hơn.

Nhìn chung, các đồ án hoa văn trong trang trí trên gốm Lái Thiêu là những đồ án mỹ thuật cổ điển, biểu ý khánh chúc hoặc các đề tài bắt nguồn điển tích, nhân vật có nguồn gốc bắt nguồn từ lịch sử, văn hóa Trung Quốc và phổ phiến hơn là phong cảnh sơn thủy.

Tài Liệu Tham Khảo:

Gốm sứ Sông Bé, Nxb tổng hợp Sông Bé – 1990.
Gốm Lái Thiêu, Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM – 2009.

    Tư liệu sưu tầm thực tế điền dã

KIM LÊ –  http://Sugia.vn

Tìm Dấu Vết Đường Xe Lửa đi ngang Bình Dương

TG: Từ Minh Tâm

 

Từ  năm 2007, Việt Nam và các nước Á Châu đã hợp tác nghiên cứu để  chuẩn vị  xây dựng đường
sắt Xuyên Á đi  ngang  qua các nước Thái Lan, Mã  Lai, Campuchia, Lào, Vi ệt  Nam  lên đến tận  Côn
Minh  –  Trung Quốc. Đoạn đường sắt nằm trong nước  Việt  sẽ  từ  Lộc Ninh về  đến Sài Gòn. Trong thời Pháp thuộc, tuy ến đường nầy đã được xây dựng  và khai thác. Lúc đó hành khách có thể đi xe lửa từ Sài Gòn ngang qua Thủ Dầu Một để lên t ới  Hớn Quản, Lộc Ninh thậm chí qua tới  Mimot – Campuchia. Do chiến tranh nên phải  xe lửa phải  ngừng  hoạt động từ năm 1960. Ta thử tìm lại dấu vết của tuyến đường nầy.

1.  Vài hàng lịch sử:

Sau khi chiếm được Nam Kỳ  và ổn định tình hình, Người Pháp bắt đầu xây dựng các tuyến đường
xe lửa để khai thác thuộc địa. Tuyến đường đầu tiên được khởi công từ năm 1881 là tuyến đi từ Cột Cờ Thủ  Ngữ  đến Bến Xe Chợ  Lớn. Tiếp theo đó là tuyến Sài Gòn  – Mỹ  Tho, khánh thành năm 1886. Đến năm 1933,  một đoạn  đường xe lửa  từ  Lộc Ninh  đi Bến Đồng Sổ  dài 69 km do một công ty tư  nhân là Công ty Xe Điện Bến Cát  –  Kratie  đầu tư  đã  được chánh thức khánh thành.  Sau đó đến năm 1937,đoạn đường nầy  lại   nối vào hệ  thống hoả  xa Đông Dương thành tuyến đường sắt Sài Gòn  –  Lộc Ninh. Tuyến đường nầy chạy ngang qua t ỉnh Bình Dương –  lúc đó có tên là Thủ  Dầu Một. Khởi hành từ Ga Sài Gòn (trước chợ  Bến Thành)  xe lửa  sẽ  chạy  qua Lái Thiêu, Bình Dương, Hớn Quản (Bình Long), Lộc Ninh và kéo dài tới biên giới Campuchia. Chiều dài tổng cộng là 141 km. Tuyến đường nầy có mục đích khai thác và vận chuyển cao su từ  Mimot (bên Cam Bốt) về  Saigon và ngược lại đưa những người phu cao su, những người nghèo khổ  từ  miền Bắc đến  làm việc ở  các đồn điền của  khu vực Hớn Quản, Phú Riềng, Lộc Ninh… Đường xe lửa Sài Gòn –  Lộc Ninh khá nổi tiếng vào những  năm trước thế chiến thứ hai. Thời  1930-1940, trong ca dao có bài thơ sau đây:

“Ai đi xe lửa Sài Gòn – Lộc Ninh

Mẹ theo ông đội về dinh
Bỏ con ở lại một mình quạnh hiu
Ai đi xe lửa Lộc Ninh – Sài Gòn”

(Hoàng Anh sưu tầm)

Thêm vào đó,  bài vọng cổ  Trái Gùi Bến Cát cũng góp phần không ít vào sự  nổi ti ếng của tuyến
đường xe lửa nầy.

2.  Lộ trình:

Từ Sài Gòn trước năm 1945 có hai tuy ến xe lửa để đi Lái Thiêu:
Một tuy ến chạy qua ga Xóm Thơm (Gò Vấp), ra đường Nguyễn Oanh, Hà Huy Giáp bây giờ. Sau
đó nó qua nhiều cầu  nhỏ để lên Thạnh Lộc, qua cầu Phú Long vào Lái Thiêu … Có một nhà ga tại giao điểm giữa xa lộ  Đại Hàn và đường Hà Huy Giáp nên ngày nay người ta vẫn gọi giao l ộ  nầy là Ngã Tư Ga. Nhà ga Lái Thiêu nằm ở  phía đông, và  cách  cầu Phú Long chừng  2 km. Ga Lái Thiêu đã bị  dân chúng lấn chiếm phá bỏ nên không còn dấu tích. Tuyến đường nầy chỉ khai thác tới năm 1945 thì chấm dứt vì bị  l ỗ. Thêm vào đó, trong chiến tranh Việt Pháp, vùng An Phú Đông không an ninh nên người Pháp không tái thiết.Trên tuyến đường xe lửa nầy có một chi ếc cầu lớn và quan trọng. Đó là cầu sắt Lái Thiêu (sau nầy đổi tên  là cầu Phú  Long). Cầu nầy  bắc  ngang sông Sài Gòn, chiều dài  khoảng  500-600 mét  –  tương đương cầu Bình Lợi. Đây là m ột cầu dùng cho đường xe lửa và xe ô tô đi chung. Kết cấu ban đầu của cầu  là dàn sắt ki ểu Eiffel. Trong chiến tranh Việt Pháp, năm 1953 cầu bị  đánh sập mấy nhịp phía Sài Gòn. Đến năm 1967 cầu được khôi phục bằng dàn sắt Bailley kiểu Mỹ, sàn lót gỗ chỉ  dùng cho xe ô tô.Sau 1975, sàn gỗ  được thay bằng sàn vỉ   thép, m ặt cầu trải nhựa. Do được xây dựng quá lâu và bị phá hoại nhiều lần nên cầu rất yếu, chỉ  cho phép các lo ại xe trọng tải nhẹ đi qua.Mới đây, cầu Phú Long mới  đã được  xây dựng  ở  phía hạ  lưu cầu cũ. Cầu mới rộng 28 mét, có sáu làn xe ô tô, dài khoảng 600 mét.

 

Cau_PhuLong_Lai Thieu
Cầu Phú Long cũ – cầu sắt Lái Thiêu
(Ảnh từ https://maps.google.com)

Tuyến đường xe lửa thứ  hai nối từ  Sài Gòn lên Dĩ An sau đó chạy ngược về  hướng tây, qua Cầu
Ông Bố để về Lái Thiêu.Sau đó từ  Lái Thiêu tuyến đường xe lửa sẽ  chạy bên  hướng đông  của quốc lộ  13 cũ, cách đường khoảng 2 km. Ở Bình Nhâm, có một chiếc cầu sắt ở khu Suối Đờn.

 

Cau_Binh_Nham_ThuanAn

Cầu sắt Bình Nhâm  dùng cho đường sắt
(Ảnh từ http://www.panoramio.com)

 

Dau vet xe lua SG Binh Nham-Thuan An

Dấu vết l ộ giới  đường xe lửa Sài Gòn – Lộc Ninh ở Bình Nhâm
(Ảnh từ http://www.panoramio.com)

 

Lên  tới  Búng, tuyến đường nầy chạy ngang sau chợ. Qua khỏi Búng, ngang cánh đồng củ  sắn sẽ
thấy trường Cộng Đồng và trường Trịnh Hoài Đức ở phía tây. Đường rầy tiếp tục lên phía bắc, qua Phú
Văn rồi tới nhà ga Thủ  Dầu Một  ở  ngay trước  chùa Cô Hồn  (ngày nay là Trường Phổ  Thông Cơ  Sở Phú Cường). Khu sân ga sau nầy trở thành Bến Xe Bình Dương. Khi bến xe dời về  Gò Đậu thì nơi đây trở  thành Công Viên Bình Dương. Nhà ga Thủ  Dầu Một trước 1975 chuyển  thành  một quán cơm xã hội. Từ  nhà ga Thủ  Dầu Một, có m ột nhánh đường rầy chạy ra chợ  Thủ. Bến xe lửa chợ  Thủ  nằm ngay khu  vị   trí của  Thương Xá  mới  hiện nay. Trước khi  là bến xe  lửa thì  nơi đây  là  bến  xe thổ  mộ. Khi đường xe lửa hết sử  dụng thì nơi đây trở  thành bến xe đò, xe lô, xe lam … Khi bến xe dời về  Nhà Ga Xe Lửa trước trường Bồ Đề thì nơi đây được xây thành chợ Mới .

 

Cho Thu Dau Mot

Trước chợ thủ Dầu Một xưa kia có đường xe lửa chạy tới
(Ành từ http://www.sugia.vn)

 

Trở l ại ga Thủ Dầu Một, tuy ến đường xe lửa theo hướng bắc (đường Võ thành Long hiện nay) chạy
dưới m ột chiếc cầu nhỏ  bắc ngang đường Bác Sĩ Yersin (cắt ngang Tiểu Khu Bình Dương  –  nay  là
Phòng Cảnh Sát Giao Thông) sau đó  băng qua  các cánh đồng mía,  nương rẫy  … thẳng đường lên Bến Cát, Bến Đồng Sổ, Bầu Bàng, Chơn Thành, Hớn Quản, Lộc Ninh.

 

Duong Ray Xe Lua di qua Thu Dau Mot
Đường rầy xe lửa chạy qua các cánh đồng mía ở Thủ Dầu Một
(Ành từ http://www.sugia.vn)

 

Ở  Lộc Ninh, ngoài nhà ga,  còn có Trạm Sửa Chữa và Bảo Trì đầu máy (depot). Vị   trí nhà ga Lộc
Ninh hiện nay là Công Ty Cao Su Lộc Ninh. Nếu tiếp tục theo đường xe lửa ta sẽ  ra tới biên giới Cam
Bốt để tới đồn điền cao su Mimot. Đị a điểm nối ray qua Cam Bốt gần với cột cây số 141.

 

Ga Xe Lua - Loc Ninh

Nhà ga xe lửa Lộc Ninh và đầu máy hơi nước
(Ảnh từ https://maps.google.com )

 

Xe lửa thời Pháp chạy chậm lắm. Ba tôi hay kể  chuyện hồi nhỏ, lúc ông còn làm  ở  kho xăng Nhà
Bè. Cuối tuần ông về thăm nhà ở Thủ Dầu Một. Sáng sớm thứ  hai thì cùng với người em đạp xe đạp đi
làm. Ông nói : “Khi  ra tới nhà ga Thủ  Dầu Một  thì thấy xe lửa bắt đầu chạy. Hai anh em chạy xe đạp
cũng nhanh nên tới Búng thì thấy xe lửa cũng từ từ chạy tới ”. Như vậy tốc độ xe lửa chỉ  bằng tốc độ xe đạp mà thôi. Hai thanh đường rầy xe lửa cách nhau chỉ  một mét. Đầu máy kéo đoàn tàu thì chạy bằng hơi nước nên tuy đường bằng phẳng mà vận tốc không cao. Được một đi ều là xe chạy đúng giờ nên tạo được sự  tin tưởng và nhiều công chức ở  Thủ  Dầu Một, Lái Thiêu có thể  đi xe lửa về  Sài Gòn làm việc hàng ngày. Sau năm 1954, tuyến đường xe lửa Sài Gòn  –  Lộc Ninh chỉ   có vài chuyến xe lên xuống. Xe chạy rất chậm. Buối sáng xe t ừ Sài Gòn chạy lên thì xế chiều mới tới. Ngược lại cũng có chuyến xe lửa chạy từ  Lộc Ninh về  Sài Gòn khởi hành  từ  buổi sáng. Xe đi ngang Bến Cát vì vậy mới có bài vọng cổ Trái Gùi Bến Cát kể chuyện một phụ  nữ đi buôn bán xa, thương con, mua cho nó mấy trái gùi nhưng vì mệt nhọc rồi té vào đường rầy mà mất m ạng. Câu chuyện thương tâm đã làm biết bao người xao xuyến qua giọng ca truyền cảm của danh ca Minh Cảnh. Tôi nhớ đại khái mấy câu đầu của bài hát như sau:

Mẹ đi chợ chớ ở lâu.
Khi về mẹ nhớ mua xâu trái gùi
Con chờ xe lửa kéo còi.
Ra ga đón mẹ lấy gùi ăn chơi.

Nhưng hỡi ơi. Người mẹ được con căn dặn đã chết trong chiếc xe lửa khứ… hồi…. Khi bàn tay đẫm
máu tươi còn nắm chặt xâu gùi… Người mẹ ấy là Trương Thị Nhành ở huyện Lái Thiêu làng An
Thạnh. Chợ đồ gốm đi bán chợ Hớn Quản Lộc Ninh. Bán chén bán tô cho người nghèo tứ xứ. Mỗi
ngày một chuyến lời chỉ đủ ăn. Nuôi chồng ốm đau đang cơn thất nghiệp. Vì con chắt chiu từng
manh quần mảnh áo…Tới năm 1960, do  không còn an ninh  và làm ăn không có lời nên chuyến xe lửa cuối cùng rời Lộc Ninh về  Sài Gòn. Ta hãy đọc một đoạn hồi ký của Châu Long, con ông Trưởng Ga Lộc Ninh,  viết vềchuyến xe cuối cùng nầy:

“…Người đứng chung quanh nhà ga khá đông, ngoái cổ nhìn về phía dọc theo đường rầy chờ đoàn
xe tới. Tụm nhau lại nói chuyện, thấy ai cũng có vẻ băn khoăn chờ nhìn thấy chuyến xe lửa cuối cùng,
chẳng phải là  chuyến  tầu  thường lệ gì hết, không có hành khách, là chuyến xe rút lui, từ biệt chỉ có
đầu tầu, đẩy toa xe bằng phẳng phía trước để đón  rà  mìn, hai ba toa phía sau, chuyến tầu dọn nhà đi
về Sài Gòn của nhân viên hoả  xa Lộc Ninh, rồi ghé đến ga Hớn Quản hay  Bình Long rồi vẫy tay chào
nhau lần chót. Con  tầu  không trở lại nữa. Người trên xe lửa, người dưới đất, hai bên đường sắt nhìn
nhau ngậm ngùi đưa tay vẫy từ biệt chuyến  tầu  chót. Tôi chẳng hiểu gì cả, nhìn theo đuôi chuyến xe
cuối cùng đi về hướng nam, kéo  hụ  vài tiếng còi buồn bã. Chuyến xe lửa bỏ ga Hớn Quản ở lại đằng
sau, chắc là bỏ kỷ niệm lại trong lòng biết bao người sống  gần  đường rầy, trong ánh mắt buồn bã của
mọi người trên ga. Má đứa nhỏ, đã té xe lửa,  rớt  vô đường rầy bị xe cán chết cùng với chùm trái gùi
mua về làm quà cho con. Má đứa nhỏ không còn sống nữa, đâu cần chuyến xe lửa để lên tầu mang
những trái gùi Bến Cát mang về làm  quà  cho con ăn. Nếu câu chuyện có thật, chắc đứa bé phải khóc
nhiều lắm, hàng ngày ra chờ đón má về trên chuyến xe lửa hàng ngày …. Chuyến xe lửa cuối cùng bỏ
đường rầy, bỏ nhà ga, bỏ làn bụi đất đỏ, bỏ những hàng cây cao su, bỏ núi rừng hoang vu, bỏ đạn
mìn, bỏ thây người ngã gục, bỏ người An Lộc – Bình Long – Hớn Quản lại, chuyến xe lửa, đầu tầu, kéo
toa hàng chót, bỏ  lại đằng sau đám người lố nhố trên sân ga, nhìn theo, chắc thế nào cũng có người
rưng rưng nước mắt, chờ một ngày nào đó, đoàn  tầu  sẽ trở lại. Nay đã qua thế kỷ sau, đoàn  tầu  vẫn
chưa trở lại.”…

Những  gì  không  xài  đến  lâu  ngày  sẽ  bị  thoái  hoá.  Từ  khi  t uyến  đường  sắt  Sài  Gòn  –  Lộc  Ninh không được sử dụng nữa  thì các nhà ga bị phá bỏ, đường ray tháo dở, lộ giới bị bỏ  hoang hay được đổ đất đỏ và biến thành nhưng đoạn đường địa phương… Đường sắt Sài Gòn – Lộc Ninh coi như  mất dấu. Ngày nay muốn xây dựng lại chắc phải tìm lộ trình khác vì chi phí giải toả chắc chắn sẽ rất tốn kém.  

 

Ga Xe Lua - Di An - TX Di An-BinhDuong
Nhà ga xe lửa Dĩ   An thời Pháp thuộc
(Ảnh từ https://maps.google.com)

 

3.  Kế hoạch tái thiết:

Hiện  nay,  trong  chương  trình  hợp  tác  với  Campuchia  và  các  nước  Châu  Á,  Việt  Nam  đã  có  kế hoạch tái thiết đường xe lửa Sài Gòn – Lộc Ninh để  nối vào đường sắt Xuyên Á. Theo  một bài  báo của Bộ  Giao Thông  Vân Tải , dự  án nầy có tổng chiều dài của tuyến là 128,5km, khởi điểm từ ga Dĩ An (thuộc tuyến đường sắt Bắc  –  Nam) đi qua các thị trấn Thủ Dầu Một, Chơn Thành, Lộc Ninh đến ga Hoa Lư tiếp giáp biên giới Campuchia. Toàn tuyến có tổng cộng 13 ga gồm: ga Dĩ An, Phù Trung, Thủ Dầu Một, Chánh Lưu, Bàu Bàng, Chơn Thành, Minh Hưng, Tân Khai,  An Lộc,  Tân Phúc,  Đồng Tâm, Lộc Ninh, Hoa Lư.  Khoảng cách  bình quân giữa các ga là 11,7km;  Khoảng cách  dài nhất là giữa ga Bàu Bàng và Chơn Thành 14km và khoảng cách ngắn nhất là giữa ga Minh Hưng và Tân Khai 7,8km. Ngoài ra còn dự trữ một điểm lập ga mới (ga Bình Phước) để tạo  điều kiện cho Nhà máy xi măng Bình Phước. Theo thiết kế, trên toàn tuyến có 23 cầu đường sắt với tổng chiều dài 7.957,30m (gồm 1 cầu đặc biệt lớn dài 828,2m, 9 cầu lớn, 5 cầu vừa và 8 cầu nhỏ); 17 cầu vượt đường bộ có tổng chiều dài  18,6km.  Cục  Đường  Sắt  Vi ệt  Nam  và  Liên  Doanh  Tập  Đoàn  CMC-CRCC  Trung  Quốc  sẽ  liên doanh  xây  dựng.  Tiêu  chuẩn  thiết  kế  là  tuy ến  đường  đôi,  khổ  đường  1  mét,  vận  tốc  di  chuyển  120 km/giờ.  Kinh phí khoảng 700 triệu đô la. Thời gian xây dựng khoảng hơn 3 năm, nhưng khi nào khởi công vẫn còn là dấu hỏi lớn.

4.  Lời kết:

 

Đường xe lửa là một phương tiện giao thông hữu hiệu đem lại lợi ích kinh tế rất lớn nhờ chuyên
chở được nhiều hàng hoá và hành khách. Tuy nhiên do phải đầu tư vào đường rầy, nhà ga, xe lửa và
vận hành … nên chi phí đầu tư  và khai thác cũng lớn.  Đó là chỉ  tính cho tuyến  đường  cở  nhỏ  –  khổ đường 1 mét – nếu  muốn đường rộng hơn – khổ đường 1,435 mét – để xe lửa có thể chạy  nhanh hơn thì  kinh phí  đầu  tư  còn tốn  kém hơn rất  nhiều.  Gần 60  năm qua từ khi người Pháp rút khỏi Việt  Nam và dù đã hoà bình gần 40 năm, đường  xe  lửa Sài Gòn  –  Lộc Ninh đi  ngang qua Bình Dương vẫn chưa được khôi phục dù đã có kế hoạch tái thiết. Bài viết nầy chỉ tìm lại  vài  dấu vết xưa  cũ  để  hoài niệm. Tuyến đường mới chắc sẽ  thay  đổi  nhiều và sẽ không hoàn toàn đi qua lộ trình cũ …

 

Tham khảo:
1: Cầu nối đường sắt xuyên Á – báo Giao Thông Vận Tải số ngày thứ bảy 11/7/2009
http://giaothongvantai.com. vn/giao-thong-phat-trien/ha-tang/200907/cau-noi-duong-sat-xuyen-a-18081/
2. Lịch sử hình thành Ga Saigon -http://www.gasaigon.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=59&Itemid=68
3. Những con đường xứ Thủ – Hoàng Anh – Đặc san Trịnh Hoài Đức – Xuân Nhâm Thìn 2012

http://sugia.vn

Lịch sử đường sắt Thủ Dầu Một – Tỉnh Sông Bé ngày xưa .

Mời các bạn xem link , có thể tải về máy xem trực tiếp . File dưới dạng PDF mô tả tuyến đường sắt của Sông Bé ngày xưa và bây giờ vẫn còn lại dấu tích những địa danh này .

File và thông tin tham khảo tại : http://sugia.vn

Tải về tại đây :   Lich su duong sat Thu Dau Mot-SongBe

Sôi nổi lễ hội Kỳ Yên ở Đình thần Dĩ An (Bình Dương)

Sáng 15/11, âm lịch, tại Đình thần Dĩ An đã diễn ra lễ Nghinh Sắc Thần, một trong những nghi thức của lễ hội Kỳ Yên.

Diễn ra trong 2 ngày 15 và 16/11 âm lịch , lễ hội thu hút hàng ngàn lượt người tham gia với nhiều nghi thức đặc trưng, đậm đà bản sắc văn hóa Nam bộ như: Cúng Miễu Ngũ hành Nương Nương, biểu diễn nghệ thuật hát Địa Nàng, lễ tế anh linh các Mẹ Việt Nam anh hùng, các anh hùng liệt sĩ và đồng bào đã hy sinh qua các thời kỳ chiến tranh…

59_21_1323676256_71_aanh-hiu-912

IMG_3269

IMG_3217

IMG_3266

Lễ hội Kỳ Yên ở Đình thần Dĩ An là một hoạt động mang đậm nét văn hóa truyền thống. Việc tổ chức lễ hội là nhằm đánh dấu một năm yên ổn mưa thuận gió hòa, đồng thời cùng nhau cầu phúc cho một năm mới bình an, mùa màng thắng lợi, bội thu.

Nguồn : Tin tức Du lịch