Người thành công làm gì vào cuối tuần


Ai cũng mong cuối tuần để nghỉ ngơi, còn người thành công làm những điều vừa có ích vừa thư giãn này để thành công hơn nữa

Những người thành công luôn biết cách tận dụng khoảng thời gian rảnh rỗi cuối tuần để vừa tận hưởng cuộc sống vừa bồi đắp thêm nền tảng giúp họ gặt hái được nhiều thành công hơn nữa.

Featured Image -- 7147

Thói quen có ảnh hưởng rất lớn đối với sự thành công hay thất bại của một người. Các thói quen tốt sẽ luôn giúp ta có cuộc sống tốt hơn, hoàn thiện cả tư duy lẫn con người và ngược lại. Thời điểm mà chúng ta hình thành thói quen xấu nhiều nhất có lẽ là cuối tuần, những khoảng thời gian rảnh rỗi mà chúng ta tự nuông chiều bản thân, cho phép mình được nghỉ ngơi hay phá lệ một chút.

Tuy nhiên, nếu biết những người thành công vẫn tuân thủ 8 thói quen tốt này cả vào cuối tuần thì bạn nhất định sẽ thay đổi quan điểm:

Rèn luyện thêm nhiều kỹ năng mới

01-cd676

Cuối tuần là khoảng thời gian tuyệt vời để bạn thoát khỏi những áp lực quen thuộc để giải phóng cả tinh thần lẫn thể chất. Nhiều người lựa chọn cuối tuần để tập trung nâng cao một kỹ năng khác chuyên môn công việc. Điển hình như đầu bếp nổi tiếng Marcus Samuelsson thì chơi bóng đá, phóng viên truyền hình Bill McGowan thích vào rừng dã ngoại còn kiến trúc sư Rafael Vinoly thì lại hay luyện tập piano vào cuối tuần.

Thực hiện những hoạt động mới mẻ sẽ giúp tâm trí và cơ thể bạn phục hồi sau những căng thẳng của công việc. Hoặc chỉ cần đơn giản là đến phòng tập để nâng cao thể lực thôi.

Lên kế hoạch cho ngày cuối tuần

Cuối tuần của bạn thường như thế nào? Ngủ nướng đến trưa rồi nằm dài xem TV, lướt facebook, thậm chí chẳng màng ăn uống? Đó là do bạn chưa biết làm gì, hay chính xác hơn là chưa có kế hoạch cụ thể cho những ngày nghỉ của mình.

Không cần phải vạch ra chi tiết từng hạng mục, từng khung giờ mà bạn chỉ cần phác hoa đôi ba hoạt động cần thực hiện cho bằng được vào thứ 7, chủ nhật . Việc lên kế hoạch cho phép bạn tận hưởng niềm vui của việc dự đoán kết quả, sự phấn khởi khi chờ đợi… Và hơn hết là biến những ngày cuối tuần trở nên “có ích” thay vì nằm ì ở nhà và cảm thấy phí thời gian vô ích.

Làm điều gì đó thú vị vào tối chủ nhật

aP1220808

Niềm vui từ những hoạt động tích cực vào tối chủ nhật sẽ kéo dài sang tận sáng thứ 2 đấy. Đó có thể đơn giản chỉ là một bữa ăn gia đình lâu lâu mới đông đủ, một lớp yoga buổi tối hay tham gia một hoạt động tình nguyện, chẳng hạn như phục vụ bữa tối cho những hoàn cảnh kém may mắn.

Dù là hoạt động nào, chỉ cần nó đem lại cho bạn niềm vui và sự phấn khởi thì chắc chắn nó cũng sẽ giúp thứ 2 của bạn nhẹ nhàng, hứng khởi hơn rất nhiều.

Tối đa hóa hiệu suất mỗi sáng cuối tuần

i4-0

Điều này có nghĩa là, thay vì dọn dẹp nhà cửa, giặt đồ hay xem lại đống phim trong máy tính thì bạn nên tận dụng buổi sáng cuối tuần để làm những hoạt động giúp nâng cao năng lực cá nhân hơn như chạy marathon chẳng hạn.

4 giờ chạy marathon vào buổi sáng cuối tuần chắc chắn sẽ đem lại nguồn năng lượng tích cực hơn rất nhiều mà lại chẳng làm phiền đến gia đình hay những người ở cùng như việc dọn dẹp ồn ào.

Tạo ra các hoạt động truyền thống của gia đình

fall-in-love

Những gia đình hạnh phúc thường có một số hoạt động đặc biệt mà các thành viên đều tự giác thực hiện mà không cần nhắc nhở hay lịch trình. Đó có thể là những tối thứ 6 cho món pizza, đi dã ngoại ở công viên hay ăn sáng tại nhà vào mỗi sáng chủ nhật… Những thói quen này sẽ trở thành những kỷ niệm đẹp khi lớn lên và nó giúp tăng sự gắn kết tình cảm giữa các thành viên trong gia đình – nền tảng để bạn có thể đi tới thành công.

Nghỉ trưa đầy đủ

165632522-56a793453df78cf772974a8c

Ngủ trưa mang lại rất nhiều lợi ích. Các chuyên gia khuyên bạn nên có những giấc ngủ trưa dài vào những ngày cuối tuần vì nó cho phép cơ thể nghỉ ngơi và phục hồi sau cả một tuần căng thẳng. Tuy nhiên bạn vẫn còn có giờ giấc cho giấc ngủ đó, để tránh ngủ mê mệt và ảnh hưởng đến tinh thần buổi tối nhé.

Làm hết việc vặt một lúc

Seal

Bạn chỉ có 2 ngày nghỉ cuối tuần thôi và nếu thỉnh thoảng lại nghĩ ra vài việc lặt vặt để lau dọn thì nó sẽ tốn hàng giờ đồng hồ mất. Vì thế, chúng tôi khuyên bạn nên dành riêng một buổi hoặc một ngày thứ 7 để giải quyết hết đống công việc lộn xộn rồi trước khi giải phóng hết mình vào chủ nhật.

Hạn chế tiếp xúc với công nghệ

offtime.co

Rời xa máy tính, điện thoại và những căng thẳng trong công việc giúp bạn có nhiều không gian hơn cho cuộc sống thực. Nó giúp bạn thắt chặt hơn các mối quan hệ với gia đình, bạn bè; cắt giảm những tác động xấu của công nghệ đến sức khỏe và sắp xếp lại công việc một cách thực tế, rõ ràng hơn. Hãy tập buông điện thoại xuống vài tiếng, bạn sẽ nhận ra không ít sự thay đổi.

Theo Minh An

Nhịp sống kinh tế/Reader Digest

Đạo đức thường có thể bù đắp cho sự thiếu hụt trí tuệ, tuy nhiên trí tuệ vĩnh viễn không thể lấp đầy chỗ trống của đạo đức


Sau nhiều lần bị từ chối khéo, cô gái tức giận xông vào phòng nhân sự của một công ty hỏi lý do. Và câu trả lời của họ đã khiến cô vô cùng xấu hổ, hối hận.

 

Featured Image -- 3492

 

Lý lịch có vết đen

12 năm trước, có một nữ sinh vừa tốt nghiệp phổ thông trung học đã đến nước Pháp bắt đầu cuộc sống du học vừa học vừa làm.

Dần dần, cô sinh viên phát hiện ra nơi bán vé của hệ thống giao thông công cộng ở đó đều là tự phục vụ, tức là bạn muốn đi đâu thì chỉ cần mua vé ở máy bán vé tự động là được.

Bến xe và nhà ga hầu như đều theo hình thức mở, không lắp đặt cổng soát vé, cũng không có nhân viên soát vé, thậm chí đến cả việc soát ngẫu nhiên cũng vô cùng ít.

Cô đã phát hiện ra lỗ hổng trong quản lý này hay nói cách khác cách tư duy của cô đã nhận ra lỗ hổng này. Dựa vào trí thông minh của mình, sinh viên này có thể tính chính xác được rằng xác suất trốn vé mà bị phát hiện ra là 3/10.000.

Cô gái dương dương tự đắc trước phát hiện này của mình. Từ đấy về sau, cô thường xuyên trốn vé.

Thậm chí cô ấy còn tìm được một lý do khoan dung với bản thân: Mình còn là sinh viên nghèo, có thể tiết kiệm được chút nào hay chút ấy.

Featured Image -- 3726

Và hậu quả không thể ngờ đến

4 năm sau, cô sinh viên đó vô cùng tự hào khi cầm tấm bằng xuất sắc của trường đại học danh tiếng.

Cô bắt đầu bước vào cửa lớn của một vài Tập đoàn đa quốc gia ở Paris, tràn đầy tự tin giới thiệu về bản thân.

Lúc đầu các công ty này rất nhiệt tình, tuy nhiên vài ngày sau, họ đều từ chối khéo. Thất bại hết lần này đến lần khác khiến cô gái bực tức.

Cô cho rằng nhất định là những công ty đó có khuynh hướng phân biệt chủng tộc, bài xích người nước ngoài.

Lần cuối cùng, cô xông vào phòng nhân sự của một công ty, yêu cầu trưởng phòng cho biết lý do hợp lý tại sao họ không tuyển mình. Tuy nhiên, câu trả lời của họ khiến cô vô cùng bất ngờ.

“Thưa cô, chúng tôi không hề phân biệt đối xử với cô, ngược lại, chúng tôi rất coi trọng cô. Khi cô nộp hồ sơ xin việc, chúng tôi đánh giá cao môi trường giáo dục và trình độ học vấn của cô. Nói thật, về phương diện khả năng làm việc, cô chính là người chúng tôi cần tìm.”

“Vậy tại sao quý công ty không tuyển dụng nhân tài như vậy?”

“Vì chúng tôi đã kiểm tra lịch sử thẻ tín dụng của cô và phát hiện ra cô bị phạt vì tội trốn vé xe buýt 3 lần.”

“Tôi không phủ nhận việc này. Nhưng vì chuyện nhỏ nhặt đó mà các anh bỏ qua một nhân tài đã nhiều lần đăng bài trên báo khoa học sao?”

“Chuyện nhỏ ư? Chúng tôi không cho rằng đây là chuyện nhỏ.

Chúng tôi đã để ý thấy rằng, lần đầu trốn vé là tuần đầu cô đến đất nước chúng tôi, nhân viên soát vé tin lời giải thích của cô vì cô nói rằng mình chưa quen với hệ thống bán vé tự phục vụ nên chỉ yêu cầu cô mua vé bổ sung. Nhưng sau đó, cô lại trốn vé 2 lần nữa.”

“Khi đó trong túi của tôi không có tiền lẻ.”

“Không, không, thưa cô. Chúng tôi không chấp nhận lời giải thích này của cô. Cô đang nghi ngờ chỉ số thông minh của tôi sao? Tôi tin trước khi bị phát hiện, có thể cô đã trốn vé đến vài trăm lần rồi.”

“Đó cũng không thể coi là lý do được. Sao phải nghiêm túc vậy chứ? Sau này tôi sẽ sửa không được sao?”

“Không, không, thưa cô. Chuyện này chứng tỏ 2 điểm: Thứ nhất, cô không tôn trọng quy định. Cô giỏi phát hiện ra lỗ hổng trong quy định và sử dụng nó theo ý đồ xấu.

Thứ hai, cô không đáng tin cậy. Mà rất nhiều công việc ở công ty chúng tôi bắt buộc phải thực hiện dựa vào sự tín nhiệm. Nếu cô phụ trách khai thác thị trường ở khu vực nào đó, công ty trao cho cô rất nhiều quyền hành.

Để tiết kiệm chi phí, chúng tôi không thể lắp đặt máy móc giám sát phức tạp, cũng như hệ thống giao thông công cộng của chúng tôi vậy.

Thế nên chúng tôi không thể tuyển cô được. Có thể khẳng định chính xác rằng, ở đất nước này, thậm chí là ở cả liên minh Châu Âu, cô không thể tìm được công ty tuyển dụng mình.”

Đến lúc này, cô gái mới như người tỉnh mộng, vô cùng xấu hổ và hối hận.

Tuy nhiên điều thật sự khiến cô ngạc nhiên là câu nói cuối cùng của vị trưởng phòng đó: “Đạo đức thường có thể bù đắp cho sự thiếu hụt trí tuệ, tuy nhiên trí tuệ vĩnh viễn không thể lấp đầy chỗ trống của đạo đức.”

euro-seem-money-finance.jpg

 

Người ta thường nói, đạo đức là tố chất cơ bản nhất của một con người, cũng là nhân cách của một con người. Dù ưu tú đến mấy mà nhân cách có vấn đề thì đều khiến người khác mất đi lòng tin và sự ủng hộ.

Trên phương diện công việc, hành vi mất nhân cách còn đáng sợ hơn nhiều, vì chút lợi trước mắt mà có hành vi phá hoại hệ thống chắc chắn là mồ chôn sự nghiệp của người đó.

Tất tần tật những điều nên làm trong tháng cô hồn để hạn chế xui xẻo


Theo quan niệm dân gian, tháng 7 âm lịch hàng năm là tháng xấu hay còn gọi là “tháng cô hồn”. Vậy để hạn chế xui xẻo và tăng thêm may mắn, chúng ta nên làm gì?

Tương truyền tháng cô hồn, khi đó Quỷ môn quan sẽ mở từ 1/7 tới 30/7 mới đóng lại nên các âm hồn bị giam hãm có thể quay trở lại dân gian, chu du khắp nơi.

Để hạn chế những điều xấu, người dân đã cúng cô hồn theo tín ngưỡng tâm linh truyền thống của người Việt. Người Việt tin rằng, con người gồm hai phần – hồn và xác. Khi mất đi, phần hồn còn tồn tại. Cúng cô hồn từ đó mà xuất hiện.

Theo PGS – TS Trịnh Sinh (nhà nghiên cứu văn hóa dân gian) đây là những tín ngưỡng dân gian mang tính chất truyền miệng mà không ai hay một ngành khoa học nào có thể kiểm chứng được. Nhưng với quan niệm rằng “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”, người dân vẫn chú trọng làm theo.

Dưới đây là 18 điều nên làm trong tháng cô hồn theo quan niệm người xưa:

1. Không treo chuông gió ở đầu giường vì tiếng chuông sẽ thu hút sự chú ý của ma quỷ, khi con người ngủ sẽ dễ bị chúng quấy phá.

2. Người yếu bóng vía không nên đi chơi đêm trong những ngày tháng cô hồn nếu không sẽ dễ gặp điều không may.

3.  Không cắm đũa đứng giữa bát cơm vì đó là hình thức cúng tế, cũng giống như kiểu thắp hương, dễ dẫn dụ ma quỷ vào nhà ăn chung.

4. Không tùy tiện đốt giấy, vàng mã vì như vậy sẽ khiến ma quỷ  đến.

5. Không ăn vụng đồ cúng vì đó là đồ dành cho ma quỷ, nếu chưa cúng và cầu xin mà lấy ăn sẽ rước tai hoạ vào mình.

6. Khi lên giường ngủ không để mũi dép hướng về phía giường, nếu không ma quỷ nhìn thấy sẽ đoán rằng có người sống đang nằm trên giường và chúng sẽ lên giường ngủ chung với bạn.

7. Không nên ở một mình trong thời gian này, nếu không sẽ dễ bị ma quỷ dẫn dắt hoặc quấy phá.

8. Không chụp ảnh vào ban đêm, bởi ma quỷ luôn lảng vảng chung quanh đó sẽ “vô hình” vào ảnh chung với người sống, đó là điều không tốt.

9. Không hù doạ người khác khiến họ giật mình “hồn bay phách lạc” dễ bị ma quỷ xâm nhập.

10. Cây đa trước nhà là nơi hội tụ âm khí, ma quỷ rất thích những chỗ như vậy, cho nên kỵ đứng, ngồi, nằm, trốn… ở đó.

11. Không nên thức quá khuya, vì như vậy tinh thần sẽ hao tổn suy nhược, dễ nhiễm “quỷ khí”.

12. Nơi góc tường xó tối là những chỗ ma quỷ thường tụ tập nghỉ ngơi, không nên đến gần những chỗ ấy.

13. Không nhặt tiền bạc rơi vãi trên đường, vì có thể đó là tiền người ta cúng mua chuộc bọn quỷ đầu trâu mặt ngựa, nếu người nào phạm kỵ, sẽ gặp tai hoạ không chừng.

14. Khi đi đến qua những nơi vắng vẻ, không ngoái cổ quay đầu nhìn lại phía sau, dù có cảm giác “hình như” có người đang đi theo mình hoặc gọi tên mình. Vì đó có thể do ma quỷ trêu chọc.

15. Không phơi quần áo vào ban đêm vì ma quỷ trông thấy sẽ “mượn” và để lại “quỷ khí” trong các quần áo ấy.

16. Không được nhổ lông chân vào ngày này vì dân gian cho rằng “Một sợi lông chân quản ba con quỷ”, người càng có nhiều lông chân thì ma quỷ càng ít dám đến gần.

17. Những người khi đi chơi đêm không được réo gọi tên nhau, nếu không ma quỷ sẽ ghi nhớ tên người được gọi, đó là điềm xấu.

18. Không nên bơi lội vì ma quỷ sẽ cùng đùa với bạn, nếu không cẩn thận, bạn sẽ bị chúng làm trặc trẹo chân.

 

Ngọc Tú (tổng hợp)

Theo Trí Thức Trẻ

Kỷ Nguyên Sáng Tạo liên quan gì với châu Á và Đạo Phật?


Motivation Mondays: A QUESTION of BALANCE - How do we create it in our lives?

Lĩnh vực sáng tạo ở Mỹ chiếm 30% tổng số người lao động (nhiều hơn lĩnh vực sản xuất) và tạo ra 2 nghìn tỷ đôla thu nhập (gần bằng lĩnh vực sản xuất và dịch vụ công lại). Giai tầng sáng tạo (Creative Class) bao gồm giới khoa học, kỹ sư, văn nghệ sỹ, diễn viên, nhà thiết kế, kiến trúc sư, nhà ứng dụng (Adopter), nhà tư tưởng, nhà báo, những người mang tính sáng tạo trong y tế, luật pháp, kinh doanh, công nghệ cao, vv.

Theo Gs. Richard Florida (Carnegie Mellon, Mỹ), Sự Sáng Tạo của Con Người là nguồn kinh tế tối thượng (ultimate economic resource). Ông đã làm nhiều người (và chính mình) sửng sốt khi phát hiện các mối tương quan giữa tính Sáng Tạo với Văn Hóa, Tâm-Sinh Lý, Quan Điểm…của con người. Theo Gs Florida, ba yếu tố đem lại sự Sáng Tạo. Đó là Công Nghệ (Technology), Nhân Tài (Talent) và Lòng Khoan Dung (Tolerance) – 3 chữ T. Ông phát hiện mối tương quan thuận giữa Sáng Tạo với sự Đa Văn Hóa (Melting Pot Index), Tính Văn-Nghệ-Sỹ (Bohemian Index) và cộng đồng những người đồng tính (Gay Index). Những phát hiện của ông đóng góp nhiều, thậm chí đảo ngược quan  điểm trong việc hoạch định các vùng, miền sáng tạo. Singapore đã áp dụng các phát hiện này để có các biện pháp phát triển đất nước dựa trên Đổi Mới-Sáng Tạo (Innovation).

Bán Cầu Não Phải và tính Sáng Tạo

Kỷ Nguyên Thông Tin (Information Age) với ưu thế của Bán Cầu Não Trái (BCNT) đang dần lắng xuống, nhường bước cho Kỷ Nguyên Sáng Tạo (Creative Age) của Bán Cầu Não Phải (BCNP) chuyên cho sự Thấu Cảm và khả năng Phát Minh.

Bán Cầu Não Trái => Suy Nghĩ => Tri Thức Bán Cầu Não Phải => Quán Tưởng => Sáng Tạo
– Mang tính tuần tự (sequential)

– Nặng về nghĩa “đen” (literal)

 

– Thiên về chức năng (functional)

– Nệ câu chữ (textual), “hình”

– Nặng về phân tích (analytic)

– Logic, Tri Thức (Knowledge), Ý Thức (Consciousness)

– Thiên về tạo ra Tri Thức, dễ coi Tri Thức là Mục Đích; Nhận biết bản thể qua Tri Thức

– Tiệm cận bản thể bằng lý trí và gián tiếp qua các trung gian, khái niệm…

– Tạo ra cái Ảo (Virtuality), qua Mô Phỏng để biết bản thể

– Tiệm cận; không bao giờ nhất thể hóa với bản thể

 

– Liên quan nhiều tới Nghiên cứu (tạo ra Lý Thuyết)

– Một cách đồng thời (simultaneous) – Thiên về nghĩa “bóng” (metaphorical)

– Thiên về thẩm mỹ (aesthetic)

– Nắm ngữ cảnh (contextual), “thần”

– Thiên về tổng hợp (synthetic)

– Phi logic, Thấu Cảm (Empathy), Vô Thức (Sub-consciousness)

– Vượt qua, phá bỏ Tri Thức, coi Tri Thức là Phương Tiện; hướng tới đồng hóa với bản thể

– Cảm nhận bản thể trực tiếp qua giác quan, không qua trung gian, khái niệm…

– Phá cái Ảo, Phá Chấp để nhập vào bản thể

– Tiệm cận (Tiệm Ngộ), có thể nhất thể hóa với bản thể (Đốn Ngộ) => gần với Phát Minh, Khám Phá

– Liên quan nhiều tới Ứng Dụng (tạo ra Bản Thể), Sáng Tạo-Đổi Mới (Innovation), Phát Minh (Inventiveness), Phám Phá (Discovery)

BCNT dần mang lại Ánh Sáng của Trí Tuệ, nhưng luôn là Ảo. BCNP là sự Mờ Tối, Hỗn Độn của cõi Vô Thức, nhưng lại chứa đựng sự Thông Tuệ tối thượng vì đó chính là Thiên Nhiên, là Bản Thể. Vì vậy, các phát minh, khám phá, ứng dụng, sáng tạo – những điều luôn gắn với bản thể – luôn xuất phát từ BCNP. Nhận ra sự (có vẻ như) phi lý này, Lão Tử gọi đây là sự Mờ Tối của Thông Tuệ.

Hoạt động của BCNP (giác quan, sự thấu cảm, khả năng quán cảm, quán tưởng) không chỉ là bẩm sinh và có giới hạn mà luyện tập được, vô hạn, thậm chí có thể đưa người ta đến những tầng thức tưởng như siêu hình (meta-physic), siêu nhiên. Như vậy, để có Tri Thức (tức là có một sự mô phỏng gần đúng sự vật trong tư tưởng), cần Học (Learning) dựa trên các logic. Còn để sáng tạo (tức là áp dụng Tri Thức vào thực tế), người ta cần Hành, cần “Chơi” (Play) theo một nghĩa nào đó để cảm nhận, quán tưởng phi logic các bản thể. Hiện nay, người ta hướng trẻ em vào các hoạt động thể thao, nghệ thuật, giao lưu…hơn là vào học tập hàn lâm. Chỉ số Tình Cảm (EQ) liên quan nhiều hơn đến một cuộc sống, sự nghiệp lành mạnh, cân đối so với Chỉ số Thông Minh (IQ).

Nhìn nhận sự hạn chế, thậm chí bất lực, của Tri Thức và các biện pháp, công cụ của nó trong việc nhận biết bản thể, cổ nhân nói “Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận lời, lời bất tận ý”“Đạo khả đạo phi Thường Đạo; Danh khả danh phi Thường Danh” (Chân Lý khi đã được nêu ra thì không còn là Đạo trường tồn, bất biến nữa; Sự thể khi đã có tên gọi thì tên gọi đó không phản ánh đúng sự thể đó nữa). (Sách không hết ngôn từ, ngôn từ không hết lời lẽ, lời lẽ không hết ý tứ). BCNP không dùng ngôn ngữ, lý luận, cũng đúng như Đạo Phật coi Bản Thể là “bất khả tư nghì” (không thể nghị bàn được). Hơn 2 ngàn năm trước, Lão Tử đã có một tuyên ngôn cương cường, bất hủ, thách thức Tri Thức hàn lâm dựa trên logic và ngày nay còn chân giá trị:

Trước kỷ nguyên sáng tạo, BCNT, Ý Thức, luôn điều khiển, chỉ lối cho BCNP. Trong kỷ nguyên Sáng Tạo, người ta nhận ra rằng BCNP, Sự Thấu Cảm, mới dẫn dắt, quán xuyến chúng ta trọn vẹn nhất.

Ba yếu tố gây sự bùng nổ của Tính Sáng Tạo  

Kỷ Nguyên Sáng Tạo xuất hiện nhờ sự hội tụ của 3 yếu tố: Sự Dư Thừa (Abundance), Châu Á (Asia) và Tự Động Hóa (Automation) – 3 chữ A.

Thứ nhất, sự “Dư Thừa” về hàng hóa của nền đại công nghiệp làm xuất hiện nhu cầu về Tính Khác Biệt. Sự Khác Biệt chỉ có được nhờ sự Sáng Tạo.

Thứ hai, Châu Á hội nhập đem lại 2 yếu tố quan trọng. Một, đó là nơi làm thuê khoán ngoài (out-sourcing) nhiều nhất để các nước phát triển chuyên chú hơn vào sáng tạo. Thứ nữa, châu Á đem lại một phương pháp sáng tạo khác hẳn, thậm chí trái ngược với phương Tây. Phương pháp này, đặc trưng là cách Quán Cảm bản thể của Đạo Phật, tương đồng một cách kinh ngạc với phương pháp luận sáng tạo hiện đại mà phương Tây đang đi sâu nghiên cứu và áp dụng.

Thứ ba, Đông Tây hợp tác được nhờ Công Nghệ, thiết bị…được biểu trưng bằng “Tự Động Hóa”.

Sự kết hợp của phương Tây nhiều Tri, ít Ngộ với phương Đông nhiều Ngộ, thiếu Tri đem lại sức Sáng Tạo chưa từng có cho Nhân Loại. BCNP chuyên về sự Thấu Cảm, Quán Tưởng bản thể như một Nhất Thể (không phân tích) một cách đồng thời, không qua trung gian, với toàn bộ ngoại cảnh, thậm chí kể cả thời gian. Đây cũng là điều Phật Pháp hướng tới từ hàng ngàn năm nay.

Sự Khác Biệt

Kỷ nguyên Sáng Tạo là của những người áp dụng Tri Thức vào thế giới thực. Lúc này, tri thức logic, trong một chừng mực nào đó, lại là rào cản con người đến với thực tế, đến với sáng tạo, đặc biệt ở những nước thụ động tiếp nhận tri thức. Các công ty công nghệ, sáng tạo Mỹ cần ngày càng nhiều Thạc sỹ Mỹ Thuật (Master Of Fine-Arts, MFA) thay vì Thạc sỹ Quản Trị Kinh Doanh (Master Of Business Administration, MBA). Nhiều trường đại học đã đưa các môn mỹ thuật, nghệ thuật vào khoa kinh doanh hoặc hướng sinh viên lấy hai bằng về kinh doanh và mỹ thuật (double degree).  Ắt hẳn các nhà vật lý lý thuyết đã chân nhận điều này ngay từ nửa đầu thế kỷ 20 khi Niels Bohr nói “Chúng ta phải hiểu rất rõ rằng, khi đến với những nguyên tử, chỉ có thể dùng được ngôn ngữ của thi ca”.

Trong Kỷ nguyên Sáng Tạo, người ta ít nệ vào lý lẽ (Argument), mà thuyết phục qua kể chuyện (story telling); Không quan sát sự vật qua lần lượt phân tích lý, hóa tính…như nghe những bản Độc Tấu riêng lẻ của các nhạc cụ khác nhau (Solo, Focus) mà thưởng thức một Hòa Tấu (Symphony) của tất cả các nhạc cụ; Không hành động chỉ với Ý Thức (Seriousness) mà trải nghiệm sự cuộc chơi của Vô Thức (Play) với tất cả các giác quan.

Trong Kỷ nguyên Sáng Tạo, không phải Trí-Thức, mà “Cảm”-Thức mới là người mang lại giá trị gia tăng cao cho xã hội. Tính Sáng Tạo ít phụ thuộc vào Học Vấn mà vào Cách Sống. Trí Thức không còn ở bậc thang cao trong xã hội mà là Giai Tầng Sáng Tạo bao gồm rất nhiều các ngành nghề, cách sống, bản ngã, văn hóa, sắc tộc…khác nhau trên thế giới. Nếu các nước đang phát triển biết khai thác tốt khả năng sáng tạo của mình, bản đồ phân bố Tính Sáng Tạo của thế giới sẽ hoàn toàn khác so với ngày nay. Theo Gs. Florida, Kỷ nguyên Sáng Tạo là một cuộc chơi hoàn toàn rộng mở…(The Creative Age is a wide-open game…). Con người ngày càng tự do hơn, thoát khỏi các ràng buộc vật chất, các ước lệ hữu hạn thông qua việc nhất thể hóa với Thiên Nhiên.

 

Tham khao: http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/ky-nguyen-sang-tao-lien-quan-gi-voi-chau-a-va-dao-phat-2333

Tâm lượng rộng lớn


Duc Phat

“Khi đã nếm trải hương vị của bầu trời, bạn sẽ vĩnh viễn ngước nhìn lên”. Hãy cảm nhận thật kỹ câu nói này của Leonardo da Vinci, mở rộng mọi giác quan để cảm nhận sự kết nối vô hình giữa bản thể của bạn với vũ trụ vô tận, có thể bạn sẽ mơ hồ nhận thấy một rung động kỳ lạ trong tâm khảm.

tuong-Phat-nam-2
Rung động kỳ lạ đó có nguồn gốc từ bản năng có trong mọi cá thể, khát vọng chinh phục vị thế trong không gian, từng được người viết đề cập trong bài Vị thế và không gian (I): Luận về cội nguồn nghệ thuật1; và Vị thế và không gian (II): Luận về cội nguồn tôn giáo và khoa học2. Trong bài viết lần này, tôi sẽ phác thảo một bức tranh có tính hệ thống hơn, trước hết chỉ ra mối liên hệ giữa bản năng chinh phục vị thế trong không gian với trí tuệ Bát Nhã, và xa hơn là một ý thức hướng tới điều mà Einstein gọi là Đạo của vũ trụ cũng như ý nghĩa thực tiễn của nó trong đời sống, không chỉ trong tôn giáo mà cả khoa học, nghệ thuật, và rộng hơn nữa.

Trí tuệ Bát Nhã

Dưới cái nhìn của nhà Phật, tâm người có thể chia thành hai phần: phần nổi là những dục vọng; phần chìm là Phật tính. Phật tính ai cũng có nhưng không dễ nhận biết vì thường bị dục vọng che mờ. Vì vậy, một cách logic, con đường tu hành trong Phật giáo có mục đích giúp con người tìm thấy Phật tính của mình, bằng cách gạn đục khơi trong, yêu cầu người tu hành kiểm soát các dục vọng, không để chúng làm chủ thân – tâm mình. Tuy nhiên, trở ngại mấu chốt trên con đường này là không ít người trong chúng ta không có định hình cụ thể và rõ ràng về Phật tính. Chúng ta thường nghe về đức Phật đại từ, đại bi, những khái niệm nghiêng về sắc thái siêu phàm, một biểu tượng để ngưỡng vọng hơn là cái đích gần gũi, cụ thể, phù hợp để mọi người có thể phấn đấu hướng tới. Điều đó dẫn tới sự thiếu định hướng của người tu hành trong quá trình kiểm soát dục vọng. Một cách dễ hiểu, khi ta không có mục tiêu và định hướng rõ ràng, thì việc kiểm soát dục vọng, một đối tượng đầy sức mạnh bản năng và tưởng chừng bắt rễ sâu trong từng tế bào, là điều vô cùng gian nan, và người ta mặc định rằng chỉ có những bậc chân tu ý chí sắt đá mới được coi là phù hợp cho việc tu hành. Mặt khác, cũng không ít người quan niệm sai lệch, đánh đồng Phật tính với sự vắng lặng, dẫn tới nỗ lực triệt bỏ dục vọng một cách máy móc, hoặc là thái độ chấp vào chủ nghĩa hư vô.

Từ khoảng thế kỷ thứ 7, Lục tổ Huệ Năng đã chỉ ra một cách tiếp cận về tu hành có tính khoa học, trái ngược với phương thức triệt bỏ dục vọng theo quán tính máy móc. Tập Pháp Bảo Đàn Kinh ghi lại những chỉ dẫn về tu hành, có cấu trúc chia thành mười phẩm, thì ngay từ phẩm thứ hai đã chỉ ra đâu là mục tiêu tối hậu mà người tu hành cần hướng tới: trí tuệ Bát Nhã. Trí tuệ Bát Nhã có thể hiểu tóm lược là “tâm lượng rộng lớn như hư không”. Đó là sự biểu hiện trực quan nhất của Phật tính với sự tương phản sâu sắc với những dục vọng của chúng sinh.

Chúng ta thường mưu sinh trong những không gian hẹp – không gian ở đây hiểu theo nghĩa trừu tượng, không nhất thiết là không gian vật lý – gắn với những mối làm ăn, những quan hệ xã hội, những biến hóa được/mất. Bản năng chinh phục không gian khiến chúng ta say mê theo đuổi, đắm chìm trong những không gian ấy, kèm theo đó là vô tận những dục vọng không ngừng sinh sôi và phát triển. Ta không có ý thức, hoặc không coi trọng thực tế rằng đó chỉ là những không gian hẹp so với thế giới rộng lớn bên ngoài chúng. Đồng thời, ta cũng không nhận ra rằng thế giới nội tâm của mình thực chất có thể phong phú, phức tạp, và sâu thẳm hơn những điều bấy lâu nay mình hằng vướng bận.

Việc nhận biết về trí tuệ Bát Nhã, hay “tâm lượng rộng lớn như hư không” là một sự thức tỉnh. Sự thức tỉnh đó không chỉ có trong Phật giáo, cũng không chỉ giới hạn trong các tôn giáo, mà có thể trên mọi lĩnh vực, trong đó điển hình là khoa học và nghệ thuật. Những bậc vĩ nhân khi đi đủ xa trên hành trình khám phá trong từng lĩnh vực hẹp của mình đều nhận thấy khát vọng chinh phục, hòa cái tôi riêng lẻ vào một không gian tối hậu cuối cùng.

Điều đó thể hiện rõ khi Einstein viết về Đạo của vũ trụ trong cuốn Thế giới như tôi thấy của ông: “Một cá nhân cảm thấy sự phù phiếm trong những  ham muốn và mục đích của con người, [tương phản với] sự hùng vĩ cùng trật tự huyền diệu hiển hiện trong thiên nhiên cũng như trong thế giới nội tâm. Sự tồn tại của cá nhân đối với anh ta trở nên như một thứ tù ngục và anh ta muốn trải nghiệm tất cả vũ trụ như một chỉnh thể thống nhất đầy ý nghĩa.3

Khi “tâm lượng rộng lớn như hư không” thì tất cả những không gian khác mà lâu nay chúng ta vẫn đắm đuối chợt lộ rõ tầm vóc khiêm tốn của chúng. Ta chợt nhận ra rằng trong những không gian hẹp người ta có thể đạt được sự thỏa mãn tạm thời, nhưng ta sẽ sớm trở nên thất lạc, chán nản nếu không tìm thấy sự gắn kết với thế giới bên ngoài chúng. Chỉ khi tâm mình hòa thành một thể thống nhất với không gian rộng lớn như hư không thì mới đạt tới sự viên mãn chân chính. Câu nói của Leonardo da Vinci, người họa sỹ kiêm sáng chế gia thiên tài, cũng như suy nghiệm của Einstein trên đây, đều có hàm ý này.

Một vài ý nghĩa thực tiễn 

Như vậy, “tâm lượng rộng lớn như hư không” là một chỉ dấu giúp chúng ta định vị mình, từ đó chỉ ra phương hướng đúng đắn, tuy không quá cụ thể nhưng khá trực quan, trên con đường của mình. Dù là ai, ở đâu, trong hoàn cảnh nào, ta đều có thể dừng lại tự hỏi: liệu tâm lượng mình có đang nhỏ hẹp hay không, có đang mê chấp trong một ảo vọng hay không, liệu tâm ta có thể rộng rãi và khoáng đạt hơn một chút hay không. Và khi trái tim cùng tâm trí ta đã được điều tiết để mở rộng hơn một chút như vậy, một thời gian sau ta lại lặp lại cùng một quá trình đó, để tâm lượng mình lại tiếp tục mở rộng thêm một chút. Đó là một tiến trình lâu dài, có thể là vô tận, nhưng có định hướng rất rõ ràng, phù hợp với sự tu hành nhập thế của tất cả mọi người.

Cũng với tinh thần như vậy, chúng ta có một căn cứ định vị để đánh giá các giá trị trong xã hội, để biết đâu là cái chân chính, đâu là hư ngụy. Ta sẽ không dễ bị dao động ảnh hưởng bởi những xu thế sùng bái của đám đông. Cái thiện và cái đẹp chân chính vốn ẩn chứa sẵn trong mỗi con người, cụ thể là trong “tâm lượng rộng lớn như hư không”; mọi sự tinh tế, huyền diệu đều hàm chứa trong đó. Khi ta lắng nghe một bản nhạc và xúc động thì cái đẹp đó không phải từ bên ngoài thâm nhập vào trong ta, mà thực chất đó là sự gợi ý, đánh thức cái đẹp sẵn có trong ta tỉnh dậy. Bởi vậy, những giá trị chân chính phải là những gì đánh thức cái đẹp, cái thiện tiềm ẩn sẵn trong ta, khiến tâm lượng ta mở rộng hơn, về gần hơn với “tâm lượng rộng lớn như hư không”.

Ý nghĩa thực tiễn cuối cùng chính là cách chúng ta giáo dục thế hệ tương lai. Hãy đặt câu hỏi rằng một đứa trẻ sinh ra vốn đã sẵn có “tâm lượng rộng lớn như hư không”, vậy điều gì đã làm nó quên mất điều ấy? Phải chăng lỗi do chính chúng ta, những người nuôi dạy chúng? Và nếu như vậy ta phải làm gì để đứa trẻ nhớ lại bản ngã lớn lao của nó? Đó là những câu hỏi không dễ trả lời đầy đủ, nhưng để ngắn gọn, ta có thể nói rằng: cần một tâm lượng rộng lớn để vun trồng, chăm sóc đúng nghĩa một tâm lượng rộng lớn khác.
———
1 http://tiasang.com.vn/-van-hoa/phan-1-luan-ve-coi-nguon-nghe-thuat-4530
2 http://tiasang.com.vn/-van-hoa/phan-ii-luan-ve-coi-nguon-ton-giao-va-khoa-hoc-4536
3 Nguyên văn: “The individual feels the futility of human desires and aims and the sublimity and marvelous order which reveal themselves both in nature and in the world of thought. Individual existence impresses him as a sort of prison and he wants to experience the universe as a single significant whole.”

 

Phạm Trần Lê

http://tiasang.com.vn/-van-hoa/Tam-luong-rong-lon-10798

Khoa học của Sherlock Holmes


Rõ ràng, Sherlock Holmes là nhân vật hư cấu, nhưng nền tảng để nhà văn Arthur Conan Doyle xây dựng hình tượng Holmes lại bắt nguồn từ những tri thức khoa học sâu sắc, tiên phong, thậm chí đôi khi mang tính dự báo của thời đại bấy giờ, theo Nature.

 

Sherlock Holmes ứng dụng kỹ năng về hóa học trong một bức vẽ năm 1893 của Sidney Paget, họa sỹ chuyên vẽ minh họa trên tạp chí The Strand. Nguồn: Nature

Những người mê Sherlock Holmes hẳn còn nhớ trong lần đầu gặp bác sỹ John Watson, chỉ bằng một cái liếc mắt, Sherlock Holmes đã nhận ngay ra toàn bộ thông tin cơ bản về người bạn thân thiết trong tương lai của mình. Arthur Conan Doyle đã miêu tả khoảnh khắc gặp gỡ hết sức thú vị của hai nhân vật này trong tiểu thuyết đầu tiên “Cuộc điều tra màu đỏ” (A Study in Scarlet).

Họ gặp nhau ở một phòng thí nghiệm hóa học bề bộn những bình cổ cong, ống nghiệm và đèn hơi. Dù vui mừng về việc tìm ra một loại thuốc thử có thể làm kết tủa huyết sắc tố nhưng Sherlock Holmes cũng đã nhận ra ngay bác sỹ quân y Watson mới ở Afghanistan về qua một số đặc điểm: là bác sỹ quân y vì có phong cách quân nhân, nước da sẫm màu có thể là do ở vùng nhiệt đới, bị thương ở cánh tay vì cử động gượng gạo… Nhờ tổng hợp tất cả các yếu tố đó, Sherlock Holmes đã có thể rút ra kết luận trong vòng một giây.

Vậy nhờ đâu mà Conan Doyle lại có được những kiến thức về ngành y? Trước khi trở thành nhà văn, Conan Doyle là một bác sỹ nên ông có nhiều kiến thức trong lĩnh vực y học. Một trong những cố vấn của Conan Doyle chính là bác sỹ phẫu thuật Joseph Bell, giảng dạy tại trường Đại học Edinburgh – nơi Conan Doyle theo học ngành nhãn khoa. Chính Joseph Bell đã “cung cấp” thông tin về Afghanistan cũng như các đặc điểm của nhà thám tử lừng danh.

Độ chính xác trong chẩn đoán bệnh của Joseph Bell đã được chứng thực, và cũng nhờ nó mà ông đã được mời làm bác sỹ riêng cho nữ hoàng Victoria khi bà tới thăm Scotland. Thế mạnh lớn nhất của ông chính là óc quan sát. Khi làm trợ lý cho Joseph Bell, Conan Doyle đã từng chứng kiến cách người thầy của mình đoán “trúng phóc” nghề nghiệp cũ của một bệnh nhân cũng như nơi ông từng làm việc – Barbados đúng như cách của Sherlock Holmes. . Bell nhiều lần nói với Doyle, “cần phải học cách quan sát”. Bệnh nhân có thể tin tưởng vào sự tinh thông nghề nghiệp của bác sỹ “nếu như thấy bác sĩ biết rất nhiều về quá khứ của mình ngay từ một cái nhìn,”. Và thông điệp đó đã in hằn vào trí nhớ của Doyle. Nhiều năm sau, ông viết thư cho Bell, “chính nhờ việc tập trung vào suy luận và quan sát – những điều thầy dạy khắc sâu vào tâm trí, em đã cố gắng xây dựng lên hình tượng một nhân vật có khả năng thúc đẩy mọi thứ đi xa hơn”.

Những tư tưởng tiên phong

Holmes, tất nhiên, không chỉ là một thầy thuốc chẩn đoán bệnh. Ông còn là nhà hóa học, tâm lý học, logic học, người khám phá… Tất cả những “nhà” ấy đều hiển hiện trong giai đoạn cuộc đời “trước khi có Holmes” của Conan Doyle. Trong thời đại của những biến đổi khoa học đầy sâu sắc, đâu đâu cũng cũng có những ý tưởng xuất hiện – như cách mạng và sự tồn tại của sóng điện từ, đã ngay lập tức trở thành chủ đề của cuộc tranh luận. Từ bỏ ảnh hưởng của nhà thờ bởi học thuyết Darwin và chủ nghĩa kinh nghiệm, Conan Doyle ngày càng tiến gần đến cuộc cách mạng khoa học này.

Và tại Edinburgh, ông đã chạm trán nhiều nhà tư tưởng tiên phong của đổi mới sáng tạo. Bác sỹ phẫu thuật và người tiên phong nghiên cứu thuốc khử trùng Joseph Lister đã cho ông thấy những kết quả nghiên cứu về thuyết vi trùng của Louis Pasteur. Ngay lập tức, Conan Doyle bị cuốn hút về những tiềm năng rộng mở của y học – một sự hấp dẫn sau đó được Holmes đẩy lên những tầm cao đầy chất hư cấu. Ví dụ, trong “Cuộc điều tra màu đỏ”, Holmes tuyên bố, “tôi đã tìm ra một chất phản ứng cho phép phát hiện ra huyết sắc tố”. Sự hư cấu của văn học đã “viết lại” lịch sử khoa học: Nhà vi khuẩn học và miễn dịch học người Đức Paul Uhlenhuth khám phá ra bài kiểm tra nhanh chất kết tủa máu người vào năm 1900 trong khi truyện được xuất bản năm 1887.

Conan Doyle còn gặp gỡ nhà phân tích độc học người Scoland Robert Christison, một chuyên gia từng chứng kiến rất nhiều vụ án li kỳ – và là một trong những nguồn cảm hứng về chuyên môn chất độc cho thám tử Holmes. Và cũng có thể sự quan tâm đến khoa học pháp y của nhà văn xuất phát từ một nhân vật nổi tiếng khác: Alphonse Bertillon – người tiên phong về nhân trắc học với việc sử dụng phép đo người để nhận diện tội phạm. Trong cuốn “Con chó săn của dòng họ Baskervilles” xuất bản năm 1902 (The Hound of the Baskervilles), chúng ta thấy Holmes được coi là “chuyên gia xuất sắc nhất châu Âu” về nhân trắc học, sau Bertillon. Conan Doyle tin tưởng, kiến thức y học đã giúp ông thúc đẩy “một chủ nghĩa hoài nghi lành mạnh” và sự thật là “nguồn sinh dưỡng tốt nhất cho mọi suy luận”. Do đó, Holmes là người theo chủ nghĩa hoài nghi số một.

Dù chủ ý hay không thì rút cuộc Holmes đã xuất hiện như một vị đại sứ khoa học của đại chúng. Trong “Cuộc phiêu lưu của ngón tay cái viên kỹ sư” (The Adventure of the Engineer’s Thumb) xuất bản năm 1892, Conan Doyle đã liên hệ với cách khử trùng bằng a xít carbolic của Lister khi miêu tả Watson xử lý một vết thương.

Trước khi Sigmund Freud trở thành một tên tuổi lớn và đặt nền tảng cho lĩnh vực phân tâm học, thì trong cuốn “Ngọn lửa bạc” (Silver Blaze) xuất bản năm 1892, Holmes đã suy luận về những điều thúc đẩy một người luyện ngựa đua làm hại con ngựa quý của mình (Conan Doyle đã từng đọc những tác phẩm giai đoạn đầu của Freud , trong đó có bài viết “Về coca”  – xuất bản năm 1884, nguyên nhân dẫn đến “thói nghiện” cocaine của Holmes).

Cách suy luận của Holmes

Holmes đã khám phá một cách chi tiết để nghiên cứu về những quyết định bị ảnh hưởng bởi định kiến hay những suy đoán bị “kẹt giữa” lý trí của cái đầu lạnh và cảm xúc của trái tim nóng. Trong “Truy tìm dấu bộ tứ” (The Sign of Four) sáng tác năm 1880, ông giải thích với Watson, điều quan trọng nhất là không được để suy đoán của mình bị thiên kiến bởi những phẩm chất cá nhân: “Mỗi khách hàng chỉ đơn thuần là yếu tố để tìm ra vấn đề. Cảm tính đi ngược lại với lý lẽ”, và cho biết thêm “người phụ nữ quyết rũ nhất mà tôi biết đã bị treo cổ vì đầu độc ba đứa trẻ để lấy tiền bảo hiểm”, “người đàn ông đáng ghét mà tôi biết lại là một nhà từ thiện đã chi 250.000 bảng cho người nghèo London”. Cảm xúc là nguyên nhân của nhiều quyết định sai lầm, nhiều nhà tâm lý học đã chỉ ra điều đó, ví dụ như Daniel Kahneman trong cuốn sách nổi tiếng của mình, “Thinking, Fast and Slow” (Farrar, Straus and Giroux, 2011).

Ngày nay, Holmes đã trở thành một biểu tượng văn hóa. Ít nhất, vị thám tử này là nhân vật hư cấu đầu tiên được lập bảo tàng: năm 1990, bảo tàng Sherlock Holmes đã được xây dựng ngay tại phố Baker, London với những hiện vật là đồ dùng, trang phục của Holmes phỏng theo mô tả của nhà văn cũng như đạo cụ từ bộ phim truyền hình dài tập “Sherlock Holmes” sản xuất năm 1984. Bảo tàng do Hội những người yêu Sherlock Holmes tại Anh quản lý và điều hành.

Là nhà vô địch trong quan sát và hiện thân của lẽ phải, Holmes dường như vô cùng thích hợp với một thế giới còn bị ảnh hưởng của chủ nghĩa phủ định khoa học và tính đa cảm. “Bạn biết phương pháp của tôi rồi đấy. Hãy áp dụng chúng”, nhà thám tử từng khuyên Watson trong “Truy tìm dấu bộ tứ”. Còn với chúng ta, đã đến lúc làm theo lời khuyên của Holmes.

 

Anh Vũ lược dịch

Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/kham-pha/khoa-hoc-cua-sherlock-holmes/20180504102323875p1c879.htm

 

Albert Einstein và đạo Phật


tuong-Phat-nam

Gần đây có nhiều độc giả thắc mắc về mối liên hệ giữa nhà khoa học thiên tài Albert Einstein (1879-1955) và Đạo Phật như thế nào? Vì họ thấy đây đó có nhiều trích dẫn lời phát biểu của ông về Đạo Phật. Bài viết sau đây sẽ đề cập đến mối liên hệ ấy.

Dù chưa đầy đủ, nhưng hy vọng rằng nó sẽ là mấu chốt để chúng ta phăng tìm những tư liệu chi tiết về sau:

Ông Albert Einstein, sinh ngày 14 tháng 03 năm 1879 tại thành phố Ulm, Đức quốc, trong một gia đình làm nghề thủ công và tiểu thương. Bố là một người giỏi về hóa học và mẹ là người có khiếu về âm nhạc. Năm 1894, gia đình ông di cư sang sống tại Ý. Ông được bố gởi đi học ở Thụy Sĩ và đã tốt nghiệp tiến sĩ triết học tại Đại học Zurich. Sau khi ra trường, ông được mời dạy toán và vật lý tại một trường bách khoa ở Thụy Sĩ, ngoài việc dạy học, ông dành hết thời gian còn lại để nghiên cứu vật lý học và ông còn làm việc tại văn phòng thẩm tra cấp bằng sáng chế ở Berne, Thụy Sĩ. Năm 1905, ông gởi đăng bài “Lý thuyết tương đối hẹp” dài 5 trang trên tờ Physics. Bài báo nhanh chóng được chú ý và nó là tiếng nổ lớn của ngành khoa học về không gian và thời gian, ông đã phá vỡ các khái niệm tuyệt đối về không gian và thời gian của nhà vật lý học và toán học vĩ đại, Issaac Newton (1642-1727). Lập tức tên tuổi của ông được nhiều người biết tới và được xem là một khoa học gia nổi tiếng nhất vào thời điểm ấy.

Năm 1911, Ông là giáo sư vật lý ở Prague. Năm 1913, ông được mời làm giám đốc Học Viện Vật Lý Hoàng Đế Wilhelm tại Berlin. Đến năm 1921, ông được trao giải thưởng Nobel về Vật lý học qua đề án nghiên cứu “Lý Thuyết Tương đối” (The Theory of Relativity). Trong thế chiến thứ nhất (1914-1918), ông từng bị tống giam vì tội “chống chiến tranh và ủng hộ hòa bình”. Sau khi Adolf Hitler (1889-1945) trở thành quốc trưởng của Đức, ông ra sức chống lại chủ nghĩa phát xít và rời bỏ nước Đức sang sống tại Hoa Kỳ.

Từ năm 1933 đến năm 1945, ông là giáo sư toán và lý tại Viện Cao học Princeton ở bang New Jersey. Phát xuất từ lòng căm thù chủ nghĩa phát xít mà ông đã giúp cho Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt (1882-1945) chế tạo bom nguyên tử và cuối cùng bị xem là “cha đẻ” của thứ vũ khí giết người này. Đây cũng là lý do mà về sau năm 1950, ông thành lập Viện Kiểm Soát Nguyên tử Quốc tế tại Hoa Kỳ.

Ba thập niên cuối đời mình, ông dành thời gian để nghiên cứu về “Lý thuyết thống nhất giữa lực hấp dẫn và hiện tượng điện quang” (The Theory of unify gravitation and eletro-magnetism).

Mặc dù bận rộn nghiên cứu và giảng dạy khoa học, nhưng ông Einstein vẫn dành thời gian nhất định để nghiên cứu triết học và tôn giáo, đặc biệt trong đó có Đạo Phật. Theo tài liệu “The World As I See It” (Trần thế khi tôi nhìn thấy nó, nhà xuất bản Philosophical Library, New York, 1949) và quyển “Ideas and Opinions” (Những Ý Kiến và Những Quan Điểm, nhà xuất bản Crown, NY, 1945) là hai tuyển tập những bài báo, bài tham luận về tôn giáo và khoa học mà ông Einstein viết từ đầu những năm ba mươi. Đáng chú ý trong tập này là các bài như “Religion and Science” (Tôn giáo và Khoa học), viết từ 1930; bài “Science, Philosophy & Religion, A Sumposium” (Khoa học, Triết học và Tôn giáo, một buổi hội thảo) viết năm 1941; bài “Religion and Science: Irreconcilable?” (Tôn giáo và Khoa học: không thể hòa giải được sao?) viết vào năm 1948.

Theo các tài liệu trên thì chính A. Einstein tự xem mình là một người thuộc về tôn giáo. Tôn giáo của ông được người ta biết qua lý thuyết khoa học của ông. Ông bác bỏ sự thần thánh hóa trong tôn giáo, ông quan tâm đến đời sống con người ở hiện tại và ngay cả sau khi chết. Trong các buổi hội thảo về triết học và tôn giáo, có lúc ông trích dẫn lời của Chúa, rồi có khi ông dẫn lời trong kinh Phật. Quan điểm của ông về tôn giáo chưa bao giờ có hệ thống và nhất quán. Tuy nhiên, với trí tuệ sắc bén và lòng ngưỡng mộ của ông đối với các tôn giáo đã giúp cho ông hiểu đúng và chính xác về các tôn giáo mà ông để tâm nghiên cứu. Ông vẫn thường nhắc nhở các nhà khoa học nên học hỏi ở các tôn giáo để bổ sung cho những khiếm khuyết của khoa học. Ông nói: “Khoa học mà thiếu tôn giáo là khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng” (Science without religion is lame. Reigion without science is blind).

Cũng theo các tài liệu trên cho thấy, ông đã nghiên cứu Đạo Phật qua các sách báo của các học giả Phật học của người Âu Mỹ viết, đáng kể là triết gia người Đức Schopenhauer Arthur (1788-1860), tiến sĩ người Đức Paul Carus (1852-1919), viện sĩ hàn lâm người Nga Vasily Vasaliyey (1818-1900)… là những nhà Phật học nổi danh ở phương Tây. Nhờ nghiên cứu như vậy mà A. Einstein đã nhìn thấy Đạo Phật như là một triết lý phương Đông cực kỳ sống động và triết lý ấy đã đi vào cuộc đời bằng chân lý thực chứng của mình, ngỏ hầu cắt ngang sự chậm tiến, lạc hậu, mê tín, cuồng tín và kém văn minh của thời đại. Đạo Phật đã đem lại cho con người một cái nhìn mới, một lối sống mới, một sự hài hòa mới, sống với nhau như ánh sáng trong không gian, chan hòa với nhau như nước với sữa. Chính vì thấy rõ cái độc đáo đó mà ông Einstein đã phát biểu về Đạo Phật như sau : “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó” (The religion of the future will be a cosmic religion. It would transcend a person God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sence, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description). Đồng thời, một lần khác ông cũng khẳng định rằng: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học” (If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific finding. Buddhism need no surrender its view to science, becauseit embrances science as well as goes beyond science). (Cả hai câu trên được trích từ Collected famous quotes from Albert Einstein. http://rescomp.stanford.edu/~ cheshire/ Einstein quotes.htm).

Dù những lý thuyết khoa học của ông rất phức tạp và khó hiểu, nhưng tấm lòng nhân đạo và mến chuộng hòa bình của ông đã khiến cho mọi người cảm thấy gần gũi với ông. Ông đã cống hiến tất cả trí tuệ và sức lực của mình đối với sự phát triển khoa học của nhân loại. Ông làm việc không biết mệt mỏi cho đến ngày qua đời. Ông mất vào lúc 1giờ 25 phút rạng sáng ngày 19 tháng 04 năm 1955 tại Princeton, Hoa Kỳ, hưởng thọ 76 tuổi. Ngày nay, đối với mọi tín đồ Phật Giáo trên khắp năm châu đều thành kính khi nhắc đến tên tuổi của ông, người đã từng góp phần khẳng định lại giá trị vĩnh cửu đối với Giáo lý của Đạo Phật.

 

Lê Văn Phước

http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/245/0/3049/Albert_Einstein_va_dao_Phat

 

Hai bài viết về Thế giới ảo và smartphone trên tạp chí Tia Sáng.


the-nsa-trained-edward-snowden-to-be-an-elite-hacker

Thế giới ảo có khiến chúng ta mất tự do?

Chúng ta tưởng rằng, chúng ta tạo ra mạng xã hội là để chúng ta tự do hơn: tự do phát ngôn, tự do thể hiện quan điểm và suy nghĩ của mình, nhưng nhìn những điều đang diễn ra, chúng ta liệu có đạt được tự do thực sự và quan trọng hơn, là tìm kiếm được hạnh phúc?

Đó là băn khoăn của TS. Khuất Thu Hồng, Giám đốc Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội (ISDS) trong buổi trò chuyện “Ta đã làm gì đời ta…trong thế giới ảo?” do Tia Sáng tổ chức diễn ra tại Cà phê Trung Nguyên vào ngày 9/6 vừa qua cùng với TS. Đặng Hoàng Giang, tác giả của quyển sách “Thiện, ác và smartphone” và TS. Giáp Văn Dương điều phối buổi nói chuyển. TS. Khuất Thu Hồng, mặc dù “tận hưởng mọi giây phút” mà tiện ích của mạng xã hội mang lại nhưng đầy bi quan về những hệ quả của nó. TS.Khuất Thu Hồng cho rằng, “cuộc đời thực đang xâm lăng thế giới ảo” khi mọi người thoải mái phơi bày cuộc sống và suy nghĩ riêng tư lên mạng xã hội, “sống thực hơn cả thực trong thế giới ảo”.


Từ trái sang: TS. Khuất Thu Hồng, TS, Giáp Văn Dương và TS. Đặng Hoàng Giang. TS. Khuất Thu Hồng cho biết bà chia sẻ trong buổi nói chuyện này với tư cách là một cá nhân, một công dân, một người làm về xã hội hơn là một nhà nghiên cứu. Mục đích của của buổi nói chuyện không tập trung vào trình bày kết quả nghiên cứu hay đi sâu vào các chi tiết kĩ thuật mà chỉ đặt ra vấn đề “chúng ta đã sống như thế nào trên mạng xã hội, chúng ta đã làm gì với mạng xã hội, mạng xã hội đã khiến chúng ta thay đổi như thế nào?”. 

Hiện nay, trung bình một người Việt sử dụng gần 7 tiếng đồng hồ mỗi ngày trên internet và gần một nửa thời gian đó cho mạng xã hội. Nhưng mọi lý do mà con người sử dụng một phần lớn thời gian của cuộc đời mình vào thế giới ảo, theo TS. Khuất Thu Hồng, dường như không phải là cách khiến họ hạnh phúc thực sự: Chúng ta tưởng rằng nhờ mạng xã hội, chúng ta được tự do phát ngôn, tự do thể hiện quan điểm của mình, nhưng nhìn những lời bình luận với đủ mức độ chỉ trích và thóa mạ trên mạng, “hình như thứ tự do mà chúng ta có được trên mạng xã hội chỉ là tự do ảo”, “chúng ta tưởng mình được tự do nhưng chúng ta thực ra là cướp đi tự do của người khác”. Nếu không phải là để tìm kiếm tự do phát ngôn, thì nhiều khi người ta dành nhiều thời gian cho mạng xã hội vì muốn trốn tránh thực tại khỏi những lo toan muộn phiền, lo lắng thường ngày; tìm kiếm “nơi cư trú cho trí tuệ” khi không tìm được tri kỉ để tâm sự…. TS. Khuất Thu Hồng gọi công nghệ thông tin là phát minh vĩ đại và rồ điên của loài người. Vì một mặt, nó thúc đẩy tiến bộ xã hội nhưng mặt khác, khiến mỗi cá nhân trở nên yếu đuối: trốn tránh thực tại, sợ hãi, chúng ta lợi dụng mạng xã hội để mạt sát và chửi rủa lẫn nhau. “Vô vàn những lời chà đạp, vô vàn lời sỉ mắng vô cùng thậm tệ và tôi tin rằng, ngoài đời, nếu đối diện trực tiếp với nhau, có thể sẽ không xảy ra nhưng mạng xã hội, với cái sự ảo của nó cho phép chúng ta trở nên độc ác, tàn nhẫn” – TS. Khuất Thu Hồng chia sẻ.

Không ngạc nhiên khi TS. Đặng Hoàng Giang, với quyển sách nổi tiếng “Thiện, ác và smartphone” cũng đồng tình với TS. Khuất Thu Hồng. Anh chia sẻ những phân tích từng gây chấn động của anh trên phương tiện truyền thông về tính ích kỉ và tàn nhẫn của con người bị đẩy đến cực điểm trong thời đại internet như thế nào. Internet khiến con người ta ái kỷ, nghiện cảm giác được tung hê, “được like”. Những hình thức như làm nhục công cộng (public shaming), công lý đám đông (một thứ công lý thô sơ mà đúng và sai hoàn toàn do số đông quyết định) tưởng như đã tuyệt chủng từ thời kì sơ khai của lịch sử loài người, giờ lại trỗi dậy mạnh mẽ với một mức độ khủng khiếp hơn trong thế giới mạng. Đó còn chưa kể, những người vi phạm những chuẩn mực nhất định, bị cộng đồng mạng giờ đây khó tái hòa nhập hơn trong xã hội khi toàn bộ thông tin về lỗi lầm của họ vẫn được lưu lại trên internet mãi mãi và không cập nhật gì sau khi họ “hoàn lương”. Người ta cũng tưởng rằng mạng xã hội tốt cho tiến trình dân chủ hóa, đem lại tiếng nói cho những người thấp cổ bé họng, nhưng gần dây, người ta phát hiện ra, mạng xã hội có thể bóp méo nền dân chủ khi các công ty có thể lợi dụng dữ liệu người dùng để điều khiển tâm lý của cử tri và con người, nhờ mạng xã hội, càng khó thay đổi quan điểm của mình khi chỉ kết bạn, theo dõi những gì cùng ý kiến với mình, thích ngồi mãi trong một “căn phòng đồng vọng” mà không quan tâm đến người khác nghĩ gì. Mạng xã hội có thể trở thành một quán bia khổng lồ, không phải những người thấp cổ bé họng được lắng nghe, mà kẻ hét to nhất mới là người chiến thắng, thì đó không phải là dân chủ.

Trái ngược với hai diễn giả TS. Giáp Văn Dương lại đầy sự lạc quan quan, anh coi cái người ta gọi là “thế giới ảo” thực chất chỉ là phần mở rộng của thế giới thực với “vật chất” là thông tin được mã hóa thành các bit 0 và 1. Theo anh, đây là lần đầu tiên trong lịch sử mà con người được trải nghiệm một không gian mở rộng, một cuộc đời kéo dài, hòa trộn giữa thực và ảo (một ví dụ đơn giản là nhấp chuột vào nút “mua” ảo trên mạng là một lát sau có người thực mang hàng đến cho bạn). Chính vì vậy, lần đầu tiên bước vào một không gian mới, con người không tránh khỏi những hoang mang và sai lầm. Những gì hệ mặt tiêu cực diễn giả trình bày, chỉ là do con người “chưa có kinh nghiệm”.

 

Hảo Linh

http://tiasang.com.vn/-van-hoa/The-gioi-ao-co-khien-chung-ta-mat-tu-do-12476

 


Salesforce.com's Wave on an iPhone.

“Thiện, Ác và Smartphone”: Một hành trình nội tâm

 

1. “Thiện, Ác và Smartphone” là tập tiểu luận thứ hai của Đặng Hoàng Giang, sau “Bức xúc không làm ta vô can” – cuốn sách ra mắt năm 2015 và gây được tiếng vang rộng rãi.

Điểm khác biệt dễ thấy ở tác phẩm mới này là thay vì xoay quanh nhiều chủ đề đa dạng, nhiều sự kiện thời sự, Đặng Hoàng Giang chủ yếu tập trung vào một hiện tượng: hành vi làm nhục công cộng trong thời đại số. Song không dừng ở việc mô tả bề mặt, mong muốn lý giải đến ngọn ngành của vấn đề khiến tác giả phải phát triển vấn đề xa hơn và sâu hơn, từ đó mở rộng sang nhiều khía cạnh khác: thiện và ác, trừng phạt và tha thứ, cái công cộng và cái riêng tư, tự do và trách nhiệm… Đó đều là những khía cạnh mà nếu không cho phép mình hời hợt, càng suy nghĩ, con người ta lại càng thấy ranh giới giữa những phạm trù tưởng như đối lập này thực ra rất bất định. Tìm hiểu nguồn gốc của vấn đề, móc nối hiện tượng mình đang bàn luận với những cách tiếp cận của triết học, tâm lý học, đạo đức, xã hội học… để có thể có thêm nhiều góc nhìn tham chiếu, tiểu luận của Đặng Hoàng Giang có xu hướng mang tính khảo cứu. Một danh mục gần 200 tư liệu tham khảo ở cuối sách nhắc chúng ta nhớ rằng trước khi xuất hiện trong tư cách của một cây bút tiểu luận sắc sảo, Đặng Hoàng Giang là một nhà khoa học.

2. Xu hướng gắn tiểu luận với tính khảo cứu là đặc điểm nổi bật ngay từ cuốn sách đầu tiên của Đặng Hoàng Giang. Anh được biết đến nhiều như một nhà hoạt động xã hội có ảnh hưởng; ngay ở cuốn sách này, vai trò đó của anh được thể hiện rõ nét, đặc biệt ở đề xuất về “Dự án trắc ẩn”1 trong phần kết. Song chính từ những trang cuối cùng này, tôi đã có một hình dung khác về người viết. Đặng Hoàng Giang viết cuốn sách đúng với tâm thế của người theo đuổi thể loại tiểu luận, theo đó: “Viết tiểu luận tức là nỗ lực, thử nghiệm, cố gắng đạt đến một điều gì đó mà không chắc mình có thành công không… Có một điều gì đó thật can đảm ở hành động của người viết tiểu luận: anh ta lao vào cái chưa biết, không những không có tấm bản đồ nào trong tay mà còn không chắc chắn có điều gì giá trị có thể tìm thấy được hay chăng…”2
Trên thực tế, cuốn sách đã bắt đầu từ sự băn khoăn, thậm chí có thể nói là hoang mang của tác giả về cơn bão căm ghét, thịnh nộ của đám đông đôi khi lại kịch phát dữ dội nhắm vào một vài đối tượng bị xem là làm ô uế danh dự cộng đồng hay xâm phạm vào giá trị mà một nhóm, một bộ phận xã hội coi như chuẩn mực. Những cơn bão ấy được hình thành qua lớp ngôn từ bạo lực và nhờ sự hiện đại của công nghệ, sức công phá của chúng lại càng nhanh và mạnh, để lại những tổn thương lớn song ít được chú ý. Và điều đáng nói là có vẻ chúng được xem như hiện thân của công lý đám đông, chúng thực thi sức mạnh ở nơi pháp luật chưa chạm đến.

3. Nếu để hiểu con người, nhất là những kẻ đã bị đám đông nhất trí tẩy chay, lòng trắc ẩn trở thành phẩm chất cần thiết thì để phân tích cơ chế và đặc biệt là môi trường nuôi dưỡng cơn bão căm ghét, biện hộ cho việc làm nhục công cộng lại cần đến một lý trí đủ lạnh. Những phân tích của Đặng Hoàng Giang về cơ chế ghi nhớ của thế giới mạng, tính chất mặt nạ của mạng xã hội cho phép con người ta thoái thác trách nhiệm trong những tương tác trên không gian vốn bị xem là “ảo” này… có sức thuyết phục. Nhưng điều có thể đánh động nhận thức của người đọc qua những phân tích ấy là sự đồng dạng giữa cơ chế của những cơn bão căm ghét và hành vi sỉ nhục công cộng diễn ra trên mạng với những hành vi xúc phạm nhân phẩm con người trong các thiết chế xã hội cũ. Những vết thích mà cư dân mạng khắc lên những kẻ bị coi là tội nhân, theo Đặng Hoàng Giang, không lu mờ nhanh như người ta tưởng, bởi cùng với đó là những tổn thương, những hệ lụy khó lường. Sự đồng dạng mà Đặng Hoàng Giang chỉ ra ở đây không khỏi làm tôi nghĩ đến một hiện tượng khác, rộng hơn đã được anh cảnh báo trong cuốn sách trước – sự trở lại của tư duy phong kiến. Với sự xuất hiện của những dân phòng mạng, những hình thức đấu tố, xét xử công cộng và hình thức gắn nhãn cho những cá nhân nào đó, không gian mạng rất có thể đã bị thu hẹp dần chiều kích tự do của nó.

Tất nhiên, ở đây, một đòi hỏi cao hơn sẽ muốn tác giả cuốn sách không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra cơ chế của tâm lý đám đông trong hành vi sỉ nhục công cộng hay sự tương đồng về tính chất kỹ thuật của việc thực hiện hành vi này ở thời đại số với những hình phạt thời phong kiến. Sự cô đơn của đám đông, nhu cầu góp mình vào công lý của đám đông… những căn nguyên ấy đều đã được cuốn sách phân tích một cách có lý. Nhưng đằng sau những cơn cuồng nộ của đám đông nhằm vào đối tượng mà họ kết án còn là một tâm lý bất an. Trạng thái bất an ấy chắc hẳn có căn nguyên sâu hơn từ sự khủng hoảng niềm tin, sự hồ nghi vào công lý xã hội trong đời sống, từ đó, mới dẫn đến sự trỗi dậy và lớn mạnh của “chủ nghĩa tự xử” mà Đặng Hoàng Giang đã nói đến trong cuốn sách. Thiết nghĩ, cũng chính vì sự khủng hoảng, hồ nghi này, “chủ nghĩa tự xử” từ cơn thịnh nộ của đám đông lại được biện hộ hơn là bị chất vấn.

4. Nếu hành vi sỉ nhục công cộng và cơn bão căm ghét biến ngôn từ thành bạo lực thì để hạn chế nó, xây dựng một môi trường xã hội nhân văn hơn, cũng có thể bắt đầu từ ngôn từ. Đặng Hoàng Giang đã chia sẻ những kinh nghiệm cho việc này qua những phần viết về nghệ thuật phê bình người khác, về sự lắng nghe để thấu cảm. Không quay lưng, ẩn mình trước những vấn đề bức xúc của xã hội, những hiện tượng đáng báo động trong đời sống, những nguy cơ nghiêm trọng mà con người đang phải đối mặt, nhưng Đặng Hoàng Giang không phải là con người dành thời gian chỉ để bi phẫn. Anh nuôi niềm tin vào những đổi thay theo chiều hướng tích cực và niềm tin ấy có cơ sở. Có thể minh chứng cho điều này bằng những trang khép lại của cuốn sách – những trang văn đẹp nhất, đối với tôi, ghi lại cuộc gặp gỡ và trò chuyện giữa tác giả và Nguyễn Lê Thiên Lý, cô bảo mẫu bạo hành trẻ em đã có thời là đối tượng của sự sỉ nhục công cộng.

Sau thời gian chịu cải tạo, cô gái ấy đã trở lại đời thường. Và dường như mọi thứ diễn ra bất ngờ với đám đông đã từng tạo nên vết thích cho cô, bất ngờ với cả hình dung của tác giả. Lý đang sống một cuộc sống yên ổn, người yêu của cô đã đợi cô ra tù để làm lễ cưới. Cô gái không quên những việc đã làm, cô không thanh minh cho mình, cô nhìn thẳng vào mắt tác giả, cô hiểu vì sao người ta đã từng đả kích, căm phẫn mình. Đặng Hoàng Giang không dành nhiều lời bình luận. Anh cố gắng quan sát, lắng nghe. Trong những gì anh nhìn thấy, trong câu chuyện của Lý kể, anh chú ý đến vai trò của người cha xứ, người đã im lặng nghe Lý xưng tội sau khi ra tù, đến hình ảnh của tượng Chúa trong phòng khách nhà Lý. Các chi tiết đều chỉ là những nét chấm phá nhưng gợi ra rất nhiều điều: về những khía cạnh sâu xa vừa đáng cảm thông, vừa đáng trân trọng ở một con người từng bị xã hội lên án là mất hết tính người, về khả năng chấp nhận, tha thứ, không phải chỉ của luật pháp, mà quan trọng hơn của những con người trong giáo xứ, về điểm tựa để những mầm thiện nơi con người có thể bám trụ… “Thiện, Ác, và Smartphone”, vì thế, có thể xem như một hành trình nội tâm của Đặng Hoàng Giang: bắt đầu từ sự giật mình trước cái ác công nhiên của đám đông, từ nỗi ái ngại trước khả năng cái ác trở thành bình thường, thậm chí được biện hộ trong thời đại số để kết lại bằng niềm tin vào việc nuôi dưỡng sự tử tế, lòng vị tha và thấu cảm. Đó không phải là một niềm tin được cường điệu để khiến cuốn sách trở thành cẩm nang bài học cuộc sống. Tôi muốn gọi đó là một niềm tin điềm tĩnh khi nhận ra vẫn có những giá trị bền vững ở con người và cuộc đời. Bởi vậy, tôi nghĩ “Dự án trắc ẩn” – một đề nghị tâm huyết của Đặng Hoàng Giang ở cuốn sách này – hoàn toàn khả thi.
——–
1 Một dự án kéo dài cả đời và đòi hỏi luyện tập hằng ngày để trở thành con người trắc ẩn, không thờ ơ với những bất công xảy ra trước mắt; không dung túng, biện hộ hay chấp nhận cái sai nhưng không căm ghét hay giận dữ người có hành vi sai.
2 Phillip Lopate, “The Art of Personal Essay” in trong The Art of Personal Essay: An Anthology from the Classical Era to the Present, New York & London: Anchor Books, Doubleday, 1994, trang XLII.

 

 

Trần Ngọc Hiếu

http://tiasang.com.vn/-van-hoa/%E2%80%9CThien-Ac-va-Smartphone%E2%80%9D-Mot-hanh-trinh-noi-tam-10571