Khoa học của Sherlock Holmes


Rõ ràng, Sherlock Holmes là nhân vật hư cấu, nhưng nền tảng để nhà văn Arthur Conan Doyle xây dựng hình tượng Holmes lại bắt nguồn từ những tri thức khoa học sâu sắc, tiên phong, thậm chí đôi khi mang tính dự báo của thời đại bấy giờ, theo Nature.

 

Sherlock Holmes ứng dụng kỹ năng về hóa học trong một bức vẽ năm 1893 của Sidney Paget, họa sỹ chuyên vẽ minh họa trên tạp chí The Strand. Nguồn: Nature

Những người mê Sherlock Holmes hẳn còn nhớ trong lần đầu gặp bác sỹ John Watson, chỉ bằng một cái liếc mắt, Sherlock Holmes đã nhận ngay ra toàn bộ thông tin cơ bản về người bạn thân thiết trong tương lai của mình. Arthur Conan Doyle đã miêu tả khoảnh khắc gặp gỡ hết sức thú vị của hai nhân vật này trong tiểu thuyết đầu tiên “Cuộc điều tra màu đỏ” (A Study in Scarlet).

Họ gặp nhau ở một phòng thí nghiệm hóa học bề bộn những bình cổ cong, ống nghiệm và đèn hơi. Dù vui mừng về việc tìm ra một loại thuốc thử có thể làm kết tủa huyết sắc tố nhưng Sherlock Holmes cũng đã nhận ra ngay bác sỹ quân y Watson mới ở Afghanistan về qua một số đặc điểm: là bác sỹ quân y vì có phong cách quân nhân, nước da sẫm màu có thể là do ở vùng nhiệt đới, bị thương ở cánh tay vì cử động gượng gạo… Nhờ tổng hợp tất cả các yếu tố đó, Sherlock Holmes đã có thể rút ra kết luận trong vòng một giây.

Vậy nhờ đâu mà Conan Doyle lại có được những kiến thức về ngành y? Trước khi trở thành nhà văn, Conan Doyle là một bác sỹ nên ông có nhiều kiến thức trong lĩnh vực y học. Một trong những cố vấn của Conan Doyle chính là bác sỹ phẫu thuật Joseph Bell, giảng dạy tại trường Đại học Edinburgh – nơi Conan Doyle theo học ngành nhãn khoa. Chính Joseph Bell đã “cung cấp” thông tin về Afghanistan cũng như các đặc điểm của nhà thám tử lừng danh.

Độ chính xác trong chẩn đoán bệnh của Joseph Bell đã được chứng thực, và cũng nhờ nó mà ông đã được mời làm bác sỹ riêng cho nữ hoàng Victoria khi bà tới thăm Scotland. Thế mạnh lớn nhất của ông chính là óc quan sát. Khi làm trợ lý cho Joseph Bell, Conan Doyle đã từng chứng kiến cách người thầy của mình đoán “trúng phóc” nghề nghiệp cũ của một bệnh nhân cũng như nơi ông từng làm việc – Barbados đúng như cách của Sherlock Holmes. . Bell nhiều lần nói với Doyle, “cần phải học cách quan sát”. Bệnh nhân có thể tin tưởng vào sự tinh thông nghề nghiệp của bác sỹ “nếu như thấy bác sĩ biết rất nhiều về quá khứ của mình ngay từ một cái nhìn,”. Và thông điệp đó đã in hằn vào trí nhớ của Doyle. Nhiều năm sau, ông viết thư cho Bell, “chính nhờ việc tập trung vào suy luận và quan sát – những điều thầy dạy khắc sâu vào tâm trí, em đã cố gắng xây dựng lên hình tượng một nhân vật có khả năng thúc đẩy mọi thứ đi xa hơn”.

Những tư tưởng tiên phong

Holmes, tất nhiên, không chỉ là một thầy thuốc chẩn đoán bệnh. Ông còn là nhà hóa học, tâm lý học, logic học, người khám phá… Tất cả những “nhà” ấy đều hiển hiện trong giai đoạn cuộc đời “trước khi có Holmes” của Conan Doyle. Trong thời đại của những biến đổi khoa học đầy sâu sắc, đâu đâu cũng cũng có những ý tưởng xuất hiện – như cách mạng và sự tồn tại của sóng điện từ, đã ngay lập tức trở thành chủ đề của cuộc tranh luận. Từ bỏ ảnh hưởng của nhà thờ bởi học thuyết Darwin và chủ nghĩa kinh nghiệm, Conan Doyle ngày càng tiến gần đến cuộc cách mạng khoa học này.

Và tại Edinburgh, ông đã chạm trán nhiều nhà tư tưởng tiên phong của đổi mới sáng tạo. Bác sỹ phẫu thuật và người tiên phong nghiên cứu thuốc khử trùng Joseph Lister đã cho ông thấy những kết quả nghiên cứu về thuyết vi trùng của Louis Pasteur. Ngay lập tức, Conan Doyle bị cuốn hút về những tiềm năng rộng mở của y học – một sự hấp dẫn sau đó được Holmes đẩy lên những tầm cao đầy chất hư cấu. Ví dụ, trong “Cuộc điều tra màu đỏ”, Holmes tuyên bố, “tôi đã tìm ra một chất phản ứng cho phép phát hiện ra huyết sắc tố”. Sự hư cấu của văn học đã “viết lại” lịch sử khoa học: Nhà vi khuẩn học và miễn dịch học người Đức Paul Uhlenhuth khám phá ra bài kiểm tra nhanh chất kết tủa máu người vào năm 1900 trong khi truyện được xuất bản năm 1887.

Conan Doyle còn gặp gỡ nhà phân tích độc học người Scoland Robert Christison, một chuyên gia từng chứng kiến rất nhiều vụ án li kỳ – và là một trong những nguồn cảm hứng về chuyên môn chất độc cho thám tử Holmes. Và cũng có thể sự quan tâm đến khoa học pháp y của nhà văn xuất phát từ một nhân vật nổi tiếng khác: Alphonse Bertillon – người tiên phong về nhân trắc học với việc sử dụng phép đo người để nhận diện tội phạm. Trong cuốn “Con chó săn của dòng họ Baskervilles” xuất bản năm 1902 (The Hound of the Baskervilles), chúng ta thấy Holmes được coi là “chuyên gia xuất sắc nhất châu Âu” về nhân trắc học, sau Bertillon. Conan Doyle tin tưởng, kiến thức y học đã giúp ông thúc đẩy “một chủ nghĩa hoài nghi lành mạnh” và sự thật là “nguồn sinh dưỡng tốt nhất cho mọi suy luận”. Do đó, Holmes là người theo chủ nghĩa hoài nghi số một.

Dù chủ ý hay không thì rút cuộc Holmes đã xuất hiện như một vị đại sứ khoa học của đại chúng. Trong “Cuộc phiêu lưu của ngón tay cái viên kỹ sư” (The Adventure of the Engineer’s Thumb) xuất bản năm 1892, Conan Doyle đã liên hệ với cách khử trùng bằng a xít carbolic của Lister khi miêu tả Watson xử lý một vết thương.

Trước khi Sigmund Freud trở thành một tên tuổi lớn và đặt nền tảng cho lĩnh vực phân tâm học, thì trong cuốn “Ngọn lửa bạc” (Silver Blaze) xuất bản năm 1892, Holmes đã suy luận về những điều thúc đẩy một người luyện ngựa đua làm hại con ngựa quý của mình (Conan Doyle đã từng đọc những tác phẩm giai đoạn đầu của Freud , trong đó có bài viết “Về coca”  – xuất bản năm 1884, nguyên nhân dẫn đến “thói nghiện” cocaine của Holmes).

Cách suy luận của Holmes

Holmes đã khám phá một cách chi tiết để nghiên cứu về những quyết định bị ảnh hưởng bởi định kiến hay những suy đoán bị “kẹt giữa” lý trí của cái đầu lạnh và cảm xúc của trái tim nóng. Trong “Truy tìm dấu bộ tứ” (The Sign of Four) sáng tác năm 1880, ông giải thích với Watson, điều quan trọng nhất là không được để suy đoán của mình bị thiên kiến bởi những phẩm chất cá nhân: “Mỗi khách hàng chỉ đơn thuần là yếu tố để tìm ra vấn đề. Cảm tính đi ngược lại với lý lẽ”, và cho biết thêm “người phụ nữ quyết rũ nhất mà tôi biết đã bị treo cổ vì đầu độc ba đứa trẻ để lấy tiền bảo hiểm”, “người đàn ông đáng ghét mà tôi biết lại là một nhà từ thiện đã chi 250.000 bảng cho người nghèo London”. Cảm xúc là nguyên nhân của nhiều quyết định sai lầm, nhiều nhà tâm lý học đã chỉ ra điều đó, ví dụ như Daniel Kahneman trong cuốn sách nổi tiếng của mình, “Thinking, Fast and Slow” (Farrar, Straus and Giroux, 2011).

Ngày nay, Holmes đã trở thành một biểu tượng văn hóa. Ít nhất, vị thám tử này là nhân vật hư cấu đầu tiên được lập bảo tàng: năm 1990, bảo tàng Sherlock Holmes đã được xây dựng ngay tại phố Baker, London với những hiện vật là đồ dùng, trang phục của Holmes phỏng theo mô tả của nhà văn cũng như đạo cụ từ bộ phim truyền hình dài tập “Sherlock Holmes” sản xuất năm 1984. Bảo tàng do Hội những người yêu Sherlock Holmes tại Anh quản lý và điều hành.

Là nhà vô địch trong quan sát và hiện thân của lẽ phải, Holmes dường như vô cùng thích hợp với một thế giới còn bị ảnh hưởng của chủ nghĩa phủ định khoa học và tính đa cảm. “Bạn biết phương pháp của tôi rồi đấy. Hãy áp dụng chúng”, nhà thám tử từng khuyên Watson trong “Truy tìm dấu bộ tứ”. Còn với chúng ta, đã đến lúc làm theo lời khuyên của Holmes.

 

Anh Vũ lược dịch

Nguồn: http://khoahocphattrien.vn/kham-pha/khoa-hoc-cua-sherlock-holmes/20180504102323875p1c879.htm

 

Albert Einstein và đạo Phật


tuong-Phat-nam

Gần đây có nhiều độc giả thắc mắc về mối liên hệ giữa nhà khoa học thiên tài Albert Einstein (1879-1955) và Đạo Phật như thế nào? Vì họ thấy đây đó có nhiều trích dẫn lời phát biểu của ông về Đạo Phật. Bài viết sau đây sẽ đề cập đến mối liên hệ ấy.

Dù chưa đầy đủ, nhưng hy vọng rằng nó sẽ là mấu chốt để chúng ta phăng tìm những tư liệu chi tiết về sau:

Ông Albert Einstein, sinh ngày 14 tháng 03 năm 1879 tại thành phố Ulm, Đức quốc, trong một gia đình làm nghề thủ công và tiểu thương. Bố là một người giỏi về hóa học và mẹ là người có khiếu về âm nhạc. Năm 1894, gia đình ông di cư sang sống tại Ý. Ông được bố gởi đi học ở Thụy Sĩ và đã tốt nghiệp tiến sĩ triết học tại Đại học Zurich. Sau khi ra trường, ông được mời dạy toán và vật lý tại một trường bách khoa ở Thụy Sĩ, ngoài việc dạy học, ông dành hết thời gian còn lại để nghiên cứu vật lý học và ông còn làm việc tại văn phòng thẩm tra cấp bằng sáng chế ở Berne, Thụy Sĩ. Năm 1905, ông gởi đăng bài “Lý thuyết tương đối hẹp” dài 5 trang trên tờ Physics. Bài báo nhanh chóng được chú ý và nó là tiếng nổ lớn của ngành khoa học về không gian và thời gian, ông đã phá vỡ các khái niệm tuyệt đối về không gian và thời gian của nhà vật lý học và toán học vĩ đại, Issaac Newton (1642-1727). Lập tức tên tuổi của ông được nhiều người biết tới và được xem là một khoa học gia nổi tiếng nhất vào thời điểm ấy.

Năm 1911, Ông là giáo sư vật lý ở Prague. Năm 1913, ông được mời làm giám đốc Học Viện Vật Lý Hoàng Đế Wilhelm tại Berlin. Đến năm 1921, ông được trao giải thưởng Nobel về Vật lý học qua đề án nghiên cứu “Lý Thuyết Tương đối” (The Theory of Relativity). Trong thế chiến thứ nhất (1914-1918), ông từng bị tống giam vì tội “chống chiến tranh và ủng hộ hòa bình”. Sau khi Adolf Hitler (1889-1945) trở thành quốc trưởng của Đức, ông ra sức chống lại chủ nghĩa phát xít và rời bỏ nước Đức sang sống tại Hoa Kỳ.

Từ năm 1933 đến năm 1945, ông là giáo sư toán và lý tại Viện Cao học Princeton ở bang New Jersey. Phát xuất từ lòng căm thù chủ nghĩa phát xít mà ông đã giúp cho Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt (1882-1945) chế tạo bom nguyên tử và cuối cùng bị xem là “cha đẻ” của thứ vũ khí giết người này. Đây cũng là lý do mà về sau năm 1950, ông thành lập Viện Kiểm Soát Nguyên tử Quốc tế tại Hoa Kỳ.

Ba thập niên cuối đời mình, ông dành thời gian để nghiên cứu về “Lý thuyết thống nhất giữa lực hấp dẫn và hiện tượng điện quang” (The Theory of unify gravitation and eletro-magnetism).

Mặc dù bận rộn nghiên cứu và giảng dạy khoa học, nhưng ông Einstein vẫn dành thời gian nhất định để nghiên cứu triết học và tôn giáo, đặc biệt trong đó có Đạo Phật. Theo tài liệu “The World As I See It” (Trần thế khi tôi nhìn thấy nó, nhà xuất bản Philosophical Library, New York, 1949) và quyển “Ideas and Opinions” (Những Ý Kiến và Những Quan Điểm, nhà xuất bản Crown, NY, 1945) là hai tuyển tập những bài báo, bài tham luận về tôn giáo và khoa học mà ông Einstein viết từ đầu những năm ba mươi. Đáng chú ý trong tập này là các bài như “Religion and Science” (Tôn giáo và Khoa học), viết từ 1930; bài “Science, Philosophy & Religion, A Sumposium” (Khoa học, Triết học và Tôn giáo, một buổi hội thảo) viết năm 1941; bài “Religion and Science: Irreconcilable?” (Tôn giáo và Khoa học: không thể hòa giải được sao?) viết vào năm 1948.

Theo các tài liệu trên thì chính A. Einstein tự xem mình là một người thuộc về tôn giáo. Tôn giáo của ông được người ta biết qua lý thuyết khoa học của ông. Ông bác bỏ sự thần thánh hóa trong tôn giáo, ông quan tâm đến đời sống con người ở hiện tại và ngay cả sau khi chết. Trong các buổi hội thảo về triết học và tôn giáo, có lúc ông trích dẫn lời của Chúa, rồi có khi ông dẫn lời trong kinh Phật. Quan điểm của ông về tôn giáo chưa bao giờ có hệ thống và nhất quán. Tuy nhiên, với trí tuệ sắc bén và lòng ngưỡng mộ của ông đối với các tôn giáo đã giúp cho ông hiểu đúng và chính xác về các tôn giáo mà ông để tâm nghiên cứu. Ông vẫn thường nhắc nhở các nhà khoa học nên học hỏi ở các tôn giáo để bổ sung cho những khiếm khuyết của khoa học. Ông nói: “Khoa học mà thiếu tôn giáo là khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng” (Science without religion is lame. Reigion without science is blind).

Cũng theo các tài liệu trên cho thấy, ông đã nghiên cứu Đạo Phật qua các sách báo của các học giả Phật học của người Âu Mỹ viết, đáng kể là triết gia người Đức Schopenhauer Arthur (1788-1860), tiến sĩ người Đức Paul Carus (1852-1919), viện sĩ hàn lâm người Nga Vasily Vasaliyey (1818-1900)… là những nhà Phật học nổi danh ở phương Tây. Nhờ nghiên cứu như vậy mà A. Einstein đã nhìn thấy Đạo Phật như là một triết lý phương Đông cực kỳ sống động và triết lý ấy đã đi vào cuộc đời bằng chân lý thực chứng của mình, ngỏ hầu cắt ngang sự chậm tiến, lạc hậu, mê tín, cuồng tín và kém văn minh của thời đại. Đạo Phật đã đem lại cho con người một cái nhìn mới, một lối sống mới, một sự hài hòa mới, sống với nhau như ánh sáng trong không gian, chan hòa với nhau như nước với sữa. Chính vì thấy rõ cái độc đáo đó mà ông Einstein đã phát biểu về Đạo Phật như sau : “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó” (The religion of the future will be a cosmic religion. It would transcend a person God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sence, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description). Đồng thời, một lần khác ông cũng khẳng định rằng: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học” (If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific finding. Buddhism need no surrender its view to science, becauseit embrances science as well as goes beyond science). (Cả hai câu trên được trích từ Collected famous quotes from Albert Einstein. http://rescomp.stanford.edu/~ cheshire/ Einstein quotes.htm).

Dù những lý thuyết khoa học của ông rất phức tạp và khó hiểu, nhưng tấm lòng nhân đạo và mến chuộng hòa bình của ông đã khiến cho mọi người cảm thấy gần gũi với ông. Ông đã cống hiến tất cả trí tuệ và sức lực của mình đối với sự phát triển khoa học của nhân loại. Ông làm việc không biết mệt mỏi cho đến ngày qua đời. Ông mất vào lúc 1giờ 25 phút rạng sáng ngày 19 tháng 04 năm 1955 tại Princeton, Hoa Kỳ, hưởng thọ 76 tuổi. Ngày nay, đối với mọi tín đồ Phật Giáo trên khắp năm châu đều thành kính khi nhắc đến tên tuổi của ông, người đã từng góp phần khẳng định lại giá trị vĩnh cửu đối với Giáo lý của Đạo Phật.

 

Lê Văn Phước

http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/245/0/3049/Albert_Einstein_va_dao_Phat

 

Không chỉ có một loại quyền tác giả


Có thể với rất nhiều hoặc hầu hết mọi người, chỉ có duy nhất một chế độ quyền tác giả, và với chế độ đó, tác giả của tác phẩm được giữ lại tất cả các quyền bản quyền (bao gồm tất cả các quyền nhân thân và các quyền tài sản của tác giả) hoặc chuyển toàn bộ quyền tài sản sang nhà xuất bản thông qua việc tác giả ký thỏa thuận chuyển giao bản quyền – CTA (Copyright Transfer Agreement) cho nhà xuất bản để đổi lại việc đăng tác phẩm đó trên tạp chí tác giả lựa chọn và nhận tiền nhuận bút trong một lần duy nhất từ nhà xuất bản đó. Ngày nay, nhận thức về chỉ có một chế độ quyền tác giả duy nhất đó không còn đúng nữa!

A. Các chế độ quyền tác giả

Tài liệu ‘Giới thiệu truy cập mở1’ của UNESCO xuất bản năm 2015 đưa ra 3 chế độ quyền tác giả (Author Rights Regimes2) khác nhau với những giải thích như sau:
“Có 2 lựa chọn thay thế cho chế độ bản quyền – Copyright để vừa bảo vệ các quyền của tác giả vừa bảo vệ quyền tự do của những người sử dụng để sử dụng, sử dụng lại, chia sẻ, phân phối và sửa đổi tác phẩm gốc ban đầu. Đó là Copyleft và các giấy phép Creative Commons”


Hình 1: Các chế độ quyền tác giả.

Copyleft

Copyleft là phương pháp chung làm cho tác phẩm sáng tạo  có thể được cộng đồng sửa đổi một cách tự do, và yêu cầu tất cả các phiên bản được sửa đổi và mở rộng từ tác phẩm sáng tạo đó cũng phải tự do như vậy. Những người tin tưởng vào phong trào Copyleft đấu tranh để đưa ra lựa chọn thay thế cho chế độ hà khắc hiện hành về kiểm soát sở hữu trí tuệ.

Phong trào này đưa ra khẩu hiệu châm biếm của mình “Bảo vệ những gì sai trái – All wrongs reserved”. (Chế nhạo cụm từ “All rights reserved”, ý nói rằng phong trào này bảo vệ cho tất cả những gì sai trái, theo quan điểm sở hữu trí tuệ hẹp hòi trước đó). Nó được đánh dấu bằng Giấy phép Công cộng chung GNU – GPL (GNU General Public License) của dự án GNU, được Quỹ Phần mềm Tự do – FSF (Free Software Foundation) hỗ trợ, tuân theo các nguyên tắc của Copyleft, về sau trở thành đặc tính của nhiều giấy phép của phần mềm nguồn mở – OSS (Open Source Software).”

Creative Commons – Những cái chung có tính sáng tạo

Trong khi các giấy phép Copyleft, GNU-GPL và OPL3 chủ yếu cung cấp cho các mục đích của phần mềm máy tính và các tài liệu kỹ thuật, thì các giấy phép Creative Commons (CC) được ưu tiên trong giới hàn lâm cũng như trong truyền thông nghe – nhìn có tính sáng tạo. Creative Commons, được khởi xướng vào năm 2001 như một tổ chức phi lợi nhuận, là kết quả của các phong trào cộng đồng lớn hơn so với copyleft, bao trùm các khái niệm về quyền tự do của việc chia sẻ, sử dụng lại và sửa đổi các nội dung hàn lâm và nghệ thuật để tái tạo và tối ưu hóa việc sử dụng tri thức. Creative Commons trong môi trường học thuật trở thành những cái chung của khoa học (Science Commons) đảm bảo truy cập mở tới tư liệu và dữ liệu nghiên cứu. Giấy phép tự do nhất là CC BY, nơi mà những người sử dụng có thể sao chép, phân phối, hiển thị, thực thi và pha trộn tác phẩm của tác giả nếu họ thừa nhận ghi công cho tác giả như được tác giả yêu cầu. Giấy phép hạn chế nhất là CC BY-NC-ND, nơi mà những người sử dụng có thể sao chép, phân phối, hiển thị, và thực thi các bản sao y hệt tác phẩm của tác giả nhưng chỉ không cho các mục đích thương mại.”


Hình 2: Sử dụng các giấy phép GPL trong các dự án PMNM.

 

B. Ví dụ áp dụng các chế độ bản quyền copyleft và creative commons 

B1. Các phần mềm với họ các giấy phép Copyleft

Theo bảng tổng hợp trên trang Giấy phép Công cộng Chung GNU – GPL (GNU General Public License4) – giấy phép điển hình nhất của chế độ bản quyền Copyleft, dựa vào số liệu thống kê của BlackDuck5, hãng chuyên nghiên cứu và phát triển nguồn mở, tới tháng 2/2017, trong số hơn 2 triệu dự án phần mềm nguồn mở (PMNM) từ hơn 9.000 kho trên toàn thế giới, các giấy phép copyleft (bao gồm các giấy phép như GPLv2, GPLv3, LGPL 2.1, LGPL 3.0) chiếm tới 33%, nghĩa là khoảng 700.000 dự án.
Thông thường, mỗi dự án PMNM phát triển một PMNM cụ thể. Một PMNM mang bất kỳ giấy phép nào trong họ các giấy phép copyleft cũng đều trao cho người sử dụng PMNM đó các quyền tự do cơ bản sau đây:

1. Tự do sử dụng vì bất kỳ mục đích gì.
2. Tự do phân phối cho bất kỳ ai.
3. Tự do sửa đổi để phục vụ cho mục đích cá nhân của bạn (để làm được điều này, bạn cần có mã nguồn, hay nói cách khác, mã nguồn cần phải được mở trên Internet để bất kỳ ai cũng có thể tải nó về được).
4. Tự do phân phối phần mềm sau khi bạn đã sửa đổi (chương trình phái sinh dựa vào chương trình gốc ban đầu) cho bất kỳ ai, vì bất kỳ mục đích gì.


Hình 4: 65% trong số 1 tỷ 200 triệu tài nguyên có các giấy phép của “Văn hóa tự do”.


Hình 4: 65% trong số 1 tỷ 200 triệu tài nguyên có các giấy phép của “Văn hóa tự do”.

B2. Các tài nguyên được cấp phép mở và văn hóa tự do với các giấy phép Creative Commons (CC)

Hệ thống giấy phép mở Creative Commons ra đời vào năm 20016 và cho tới hết năm 2016 đã có hơn 1 tỷ 200 triệu tài nguyên được cấp phép mở Creative Commons7 trên thế giới. Hơn thế nữa, trong số hơn 1 tỷ 200 triệu tài nguyên đó, có 65% được cấp phép theo văn hóa tự do (gồm 2% các tài nguyên trong phạm vi công cộng, 6% được cấp phép CC0, 20% được cấp phép CC BY và 37% được cấp phép CC BY-SA), nghĩa là khoảng 780 triệu tài nguyên từng người trong số hơn 90 triệu người dân Việt Nam có khả năng để sử dụng, sử dụng lại, phân phối, phân phối lại hoặc tùy biến sửa đổi chúng mà không vi phạm bản quyền của bất kỳ ai trên thế giới, thậm chí còn được tự do sử dụng chúng cho các mục đích thương mại, miễn là: (1) thừa nhận ghi công (các) tác giả đúng như họ yêu cầu và/hoặc (2) chia sẻ tương tự (các tác phẩm sau khi tùy biến sửa đổi phải mang giấy phép y hệt như các tác phẩm gốc ban đầu).

Cần phải nhấn mạnh ở đây rằng đối với một tài nguyên MỞ, điều quan trọng bậc nhất là người sử dụng PHẢI có quyền để tùy biến sửa đổi tài nguyên đó, chứ không chỉ đơn giản và tối thiểu là không mất tiền để có được tài nguyên đó!

Cũng theo tổ chức Creative Commons, tới hết năm 2017, con số các tài nguyên được cấp phép mở trên thế giới đã là hơn 1 tỷ 471 triệu8.


 Hình 5: Mức độ tự do của các giấy phép CC9.

Các tài nguyên được cấp phép mở theo văn hóa tự do – các tài nguyên nằm trong phạm vi công cộng – PD (Public Domain) hoặc được cấp các giấy phép CC0, CC BY hoặc CC BY-SA là các tài nguyên có khả năng được sử dụng cho các mục đích thương mại (Commercial) – các tài nguyên có các giấy phép nằm ở ô trên cùng của Hình 5. Đây cũng chính là vùng (các) tài nguyên dữ liệu được cấp phép mở để trở thành dữ liệu mở!

C. Tác phẩm nguồn mở là không có bản quyền và các quyền tác giả? 

Bạn có thể đã từng tham dự các cuộc hội nghị hay hội thảo về sở hữu trí tuệ và có thể đã từng nghe các ‘chuyên gia về sở hữu trí tuệ’ giải thích khi có ai đó nêu về các tác phẩm sáng tạo của thế giới NGUỒN MỞ, rằng các tác phẩm sáng tạo của thế giới nguồn mở là các tác phẩm không có bản quyền, họ không quan tâm đến các tác phẩm mà
tác giả của chúng từ bỏ tất cả các quyền bản quyền. Nhưng thực tế có phải như vậy không?.

C1. Với các sản phẩm PMNM mang giấy phép copyleft

Trang các câu hỏi thường gặp về các giấy phép GNU9 có cặp câu hỏi và trả lời như sau:

Tôi muốn có sự thừa nhận đối với tác phẩm của tôi. Tôi muốn mọi người biết tôi đã viết những gì. Liệu tôi có thể vẫn có sự thừa nhận nếu tôi sử dụng giấy phép GPL hay không?

Bạn chắc chắn có được sự ghi nhận đối với tác phẩm. Một phần của việc phát hành chương trình mang giấy phép GPL là viết lưu ý bản quyền yêu cầu ghi tên của bạn (giả thiết bạn là người nắm giữ bản quyền). Giấy phép GPL đòi hỏi tất cả các bản sao cần phải gắn liền với những lưu ý bản quyền thích hợp.

Điều này ngụ ý rằng, khi bạn viết mã nguồn cho một chương trình mang giấy phép dạng copyleft như GPL của dự án GNU, bạn hoàn toàn có khả năng yêu cầu người sử dụng phải ghi nhận bạn là tác giả đoạn mã nguồn bạn đóng góp bằng cách viết lưu ý bản quyền thích hợp cho các dòng mã lệnh mà bạn viết, đồng thời bạn cũng hiểu rõ mình cần trao đủ cả bốn quyền tự do như đã nói ở trên của một giấy phép copyleft cho những người sử dụng chương trình.

C2. Với các sản phẩm PMNM mang giấy phép dễ dãi

Trong thế giới nguồn mở có một họ giấy phép phổ biến khác – họ các giấy phép dễ dãi (permissive) với tên gọi là ‘Phát tán phần mềm Berkeley’ – BSD10 (Berkeley Software Distribution).

Bạn cũng có thể thấy các giấy phép họ BSD cũng có các lưu ý giấy phép11 giống như của các giấy phép copyleft như ở trên, khi nó luôn có các trường như Bản quyền <năm> <người m=”” n=””> (Copyright ) để thể hiện bản quyền của lập trình viên, dù đây là họ các giấy phép dễ dãi, ngụ ý (các) lập trình viên có thể tùy biến thích nghi chương trình được cấp phép BSD rồi sau đó biến nó thành chương trình đóng hoặc mở là tùy theo ý muốn của chính (các) lập trình viên đó.

C3. Với các tài nguyên mở mang một trong các giấy phép Creative Commons

Tất cả 6 giấy phép tiêu chuẩn của hệ thống Creative Commons đều có yếu tố ghi nhận công lao của tác giả (Attribution, viết tắt bằng chữ BY và có hình người trong vòng tròn như trên Hình 5), có nghĩa là, khi bạn sử dụng bất kỳ tài nguyên nào được cấp một trong sáu giấy phép đó, bạn có nghĩa vụ phải thừa nhận công sức của các tác giả như họ mong muốn. Tác giả khi xuất bản tác phẩm của mình, thường hướng dẫn cho những người sử dụng cách để ghi công cho chính tác giả theo nguyên tắc tối thiểu được viết bằng 4 ký tự đầu bằng tiếng Anh là TASL12, có nghĩa là:

T – Title: Tiêu đề hay tên của tác phẩm
A – Author(s): (Các) tác giả
S – Source: Nguồn, thường là đường liên kết tới tác phẩm ở dạng số mà người sử dụng có thể tải về được; và
L – License: Giấy phép, thường đi cùng với đường liên kết tới giấy phép CC trên Internet.

Trường hợp tài nguyên mang giấy phép CC0 là trường hợp đặc biệt13, tương tương với việc không giữ lại quyền gì, khi tác giả từ bỏ tất cả các quyền đối với tác phẩm của mình và đặt tác phẩm vào phạm vi công cộng, sao cho những người khác có thể được tự do để sử dụng, sử dụng lại, tùy biến thích nghi, xây dựng dựa vào tác phẩm đó vì bất kỳ mục đích gì và không có bất kỳ hạn chế nào theo luật bản quyền. Người sử dụng thậm chí không cần phải thừa nhận ghi công cho tác giả khi sử dụng tác phẩm mang giấy phép CC0.

***
Không chỉ có một chế độ quyền tác giả ĐÓNG duy nhất, mà còn có các chế độ quyền tác giả MỞ như Copyleft và Creative Commons!

(Các) tác phẩm được cấp phép mở là có (các) tác giả, và vì thế có bản quyền và các quyền tác giả. Điều quan trọng là với các tác phẩm được cấp phép mở, (các) tác giả thường chỉ giữ lại một số quyền (Some Rights Reserved) cho bản thân mình và từ bỏ một số quyền bản quyền (chứ không từ bỏ tất cả, ngoại trừ khi tác giả sử dụng giấy phép đặc biệt CC0) để trao chúng cho những người sử dụng, điều khác biệt cơ bản với một tác phẩm của thế giới ĐÓNG khi thường đi với việc (các) tác giả giữ lại tất cả các quyền (All Rights Reserved).

Nếu luật sở hữu trí tuệ chỉ bảo vệ bản quyền và các quyền tác giả cho những ai đi theo con đường ĐÓNG với việc giữ lại tất cả các quyền cho tác giả, nhưng lại không bảo vệ cho những ai đi theo con đường MỞ khi chính tác giả có mong muốn chia sẻ và/hoặc từ bỏ một số quyền của mình cho những người sử dụng, thì diều đó thật không công bằng.

Đối với những tác giả lựa chọn đi theo con đường MỞ, quyền được tự do chia sẻ và quyền để từ bỏ một số quyền đối với các tác phẩm họ nắm giữ bản quyền cần phải được tôn trọng và cần phải được nêu rõ ràng rành mạch trong luật sở hữu trí tuệ và tất cả các văn bản pháp quy có liên quan tới luật đó.
——-
1 https://www.dropbox.com/s/pieghb3m5r7hm5i/231920E-Vi-06082017.pdf?dl=0, trang 54-56
2 http://unesdoc.unesco.org/images/
3 Xem https://www.dropbox.com/s/ pieghb3m5r7hm5i/231920E-Vi-06082017.pdf?dl=0, trang 55-56 để biết chi tiết về Giấy phép Xuất bản Mở – OPL (Open Publication License)
4 https://en.wikipedia.org/wiki/GNU_ General_Public_License
5 https://www.blackducksoftware.com/ top-open-source-licenses
6 https://creativecommons.org/about/ history/
7 https://stateof.creativecommons.org/
11. https://stateof.creativecommons.org/
8 https://en.wikipedia.org/wiki/Creative_ Commons_license
9 https://www.gnu.org/licenses/gpl-faq.en.html#IWantCredit
10 https://opensource.org/licenses/BSD-3-Clause
11 https://wiki.creativecommons.org/wiki/ Best_practices_for_attribution
12 https://creativecommons.org/share-your-work/public-domain/cc0/
13 https://creativecommons.org/licenses/ by/4.0/</người></năm>

Giấy phép nội dung bài viết: Creative Commons 4.0 Quốc tế.

 

Lê Trung Nghĩa

http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/Khong-chi-co-mot-loai-quyen-tac-gia-12644

 

 

Chuyện đời của một kỹ sư phần mềm Ấn Độ – Cuộc sống chỉ có vậy thôi sao?


Dragging your office to the office?

Thực hiện giấc mơ của hầu hết các bậc phụ huynh tại Ấn Độ, tôi đã tốt nghiệp đại học với mảnh bằng kỹ sư máy tính và xin được vào làm việc tại một công ty phần mềm có trụ sở tại Mỹ, mảnh đất của những con người dũng cảm và có rất nhiều cơ hội. Khi tôi đặt chân lên đất Mỹ, đó cũng là lúc giấc mơ trở thành sự thật.

Cuối cùng thì tôi cũng đã đến được nơi mà mình muốn. Tôi quyết định là mình sẽ làm việc ở Mỹ trong vòng khoảng 5 năm, và trong thời gian đó tôi sẽ kiếm đủ tiền để quay trở về sống tại quê nhà Ấn Độ.

FatherAndSon

Nhưng một câu hỏi luôn dằn vặt tôi mỗi đêm là “Tất cả cuộc sống chỉ có vậy thôi sao?

Bố tôi là một công chức nhà nước và sau khi ông nghỉ hưu, tài sản duy nhất ông có thể kiếm được là một căn hộ khá tốt với chỉ một phòng ngủ.

Tôi muốn làm một điều gì đó nhiều hơn ông. Sau một thời gian, tôi bắt đầu cảm thấy rất nhớ nhà và cảm thấy cô đơn. Tôi thường gọi điện về nhà để trò chuyện với bố mẹ tôi mỗi tuần bằng cách sử dụng các thẻ điện thoại gọi quốc tế giá rẻ. Hai năm trôi qua, cũng là 2 năm tôi luôn phải gặm bánh Burger tại các cửa hàng McDonald’s hoặc bánh pizza và nghe nhạc disco, và trong 2 năm đó tôi thường xuyên theo dõi tỷ giá tiền tệ và thường cảm thấy hạnh phúc khi thấy trị giá đồng Rupee (đồng tiền của Ấn Độ) giảm xuống so với đồng đô-la. (Vì điều này khiến những đồng đô-la mà tôi tích cóp sẽ có giá trị hơn khi tôi quay về Ấn Độ.)

Cuối cùng tôi quyết định mình nên lập gia đình. Tôi nói với cha mẹ mình rằng tôi chỉ có 10 ngày trong dịp nghỉ phép và mọi thứ phải hoàn thành nội trong vòng 10 ngày ngắn ngủi đó. Tôi đặt vé máy bay trên một chuyến bay thuộc loại giá rẻ nhất. Vui mừng và thực sự thích thú là những cảm xúc đan xen khi tôi nghĩ đến việc quay về gặp lại gia đình và các bạn bè của mình. Tôi băn khoăn liệu mình có bỏ sót bất kỳ ai mà tôi nên gặp lại và nói chuyện hay không. Sau khi về đến nhà, tôi dành ra một tuần để xem một lượt các bức hình của tất cả các cô gái mà bố mẹ tôi đã nhờ người mai mối, và khi thời gian còn lại rất ít thì tôi đã lựa chọn được cho mình một “ứng cử viên” để làm vợ.

Ông bà sui gia vô cùng sửng sốt khi tôi nói với họ rằng đám cưới sẽ phải tổ chức nội trong vòng từ 2 đến 3 ngày, vì tôi sẽ không có thêm kỳ nghỉ nào nữa. Sau khi tổ chức lễ cưới xong, đó là thời điểm để quay trở lại Mỹ, sau khi đưa một số tiền cho bố mẹ tôi, và nhờ những người hàng xóm chăm sóc họ, vợ chồng tôi lên đường quay trở lại Mỹ.

Khoảng hai tháng đầu, vợ tôi cũng thấy thích thú với lối sống ở Mỹ, sau đó cô ấy bắt đầu cảm thấy cô đơn. Số lần gọi điện về Ấn Độ của cô ấy tăng dần từ 2 lần/tuần lên 3 lần/tuần. Số tiền chúng tôi dành dụm được bắt đầu vơi dần. Hai năm sau đó thì chúng tôi bắt đầu có con. Hai đứa bé rất dễ thương, một trai và một gái, đó là món quà mà ơn trên đã ban tặng cho chúng tôi. Mỗi lần mà tôi gọi điện về nói chuyện với bố mẹ mình, họ thường hỏi tôi khi nào thì quay về Ấn Độ để ông bà có thể nhìn thấy mặt các cháu của mình.

Năm nào tôi cũng suy nghĩ đắn đo để có thể thu xếp một chuyến quay về thăm Ấn Độ. Nhưng một phần vì lý do công việc, một phần khác vì lý do về điều kiện tài chính đã không cho phép chúng tôi làm điều đó. Nhiều năm trôi qua, việc quay về thăm Ấn Độ là một giấc mộng quá xa vời. Rồi một ngày kia tôi đột ngột nhận được tin rằng cha mẹ tôi đang bị bệnh rất nặng. Tôi đã cố gắng hết sức nhưng không thể có được kỳ nghỉ phép nào để có thể quay về Ấn Độ. Tin tiếp theo mà tôi nhận được là cha mẹ tôi đã qua đời và không có một ai thân thích để thực hiện những nghi lễ cuối cùng đưa ông bà về nơi chín suối. Tôi đã hoàn toàn suy sụp. Bố mẹ tôi đã qua đời mà thậm chí họ còn chưa được gặp mặt những đứa cháu của mình.

Sau đó một vài năm, mặc dù hai đứa con tôi không thích nhưng tôi và vợ vẫn quyết định quay trở về Ấn Độ để sinh sống. Tôi bắt đầu tìm kiếm để mua một ngôi nhà phù hợp với số tiền mà mình có, nhưng tôi đã thực sự choáng váng vì số tiền mà mình dành dụm được thì quá ít mà giá nhà đất ở Ấn Độ thì đã tăng một cách chóng mặt trong những năm vừa qua. Vì vậy tôi đành phải quay trở lại Mỹ.

Vợ tôi từ chối quay lại Mỹ cùng với tôi, còn 2 đứa con lại không muốn ở lại Ấn Độ. Vì vậy tôi cùng 2 con quay lại Mỹ cùng lời hứa với vợ mình là tôi sẽ quay về Ấn Độ sau 2 năm nữa khi tình hình kinh tế khá hơn.

Thời gian dần trôi qua, con gái tôi quyết định kết hôn với một người đàn ông Mỹ, và con trai tôi cũng cảm thấy hạnh phúc khi sống tại đây. Tôi quyết định rằng mọi thứ đã ổn và không còn vương vấn điều gì, vì vậy tôi sẽ quay về Ấn Độ. Tôi cũng vừa tiết kiệm đủ tiền để có thể mua một căn hộ có 2 phòng ngủ khá tốt ở một khu vực mới xây dựng của địa phương.

Bây giờ tôi đã 60 tuổi và chỉ dành thời gian ra khỏi căn hộ để đi loanh quanh viếng thăm những thánh đường Hồi giáo gần nhà. Người vợ thủy chung của tôi cũng đã rời bỏ tôi để đi về nơi chín suối.

Thỉnh thoảng tôi cũng tự hỏi mình rằng, liệu đây là tất cả những gì tôi có ư? Bố tôi, thậm chí chỉ sống tại Ấn Độ cũng đã có căn hộ của riêng ông, và tôi cũng không có gì hơn vậy.

Thật cay đắng, tôi nhận ra mình đã mất cả bố mẹ và hai đứa con để đổi lấy THÊM MỘT PHÒNG NGỦ.

Nhìn ra ngoài từ cửa sổ, tôi nhìn thấy rất nhiều trẻ em đang nhảy các điệu nhảy hip-hop theo những hình ảnh trên truyền hình. Cái TV truyền hình cáp chết tiệt đó đã đầu độc thế hệ trẻ của chúng ta và tạo ra một lũ trẻ đánh mất cả giá trị của chúng và bản sắc văn hóa dân tộc. Thỉnh thoảng tôi cũng nhận được thư từ 2 đứa con để hỏi thăm về sức khỏe của cha mình. Vâng, điều an ủi lớn nhất là ít ra chúng vẫn nhớ còn có tôi tồn tại trên cõi đời này.

Bây giờ có lẽ sau khi tôi chết đi, tôi sẽ lại phải nhờ những người hàng xóm thực hiện những nghi lễ rửa tội cuối cùng dành cho mình, Chúa sẽ phù hộ cho họ. Nhưng một câu hỏi luôn dằn vặt tôi mỗi đêm là “Tất cả cuộc sống chỉ có vậy thôi sao?

Tôi vẫn đang tìm kiếm cho mình câu trả lời… !!!

 

Ký tên:

Một lập trình viên Ấn Độ đã từng sống tại Mỹ.

 

Bài viết được dịch từ Sulekha.com

Quote

Cyber Threat Intelligence: Applying Machine Learning, Data Mining and Text Feature Extraction to the Darknet


News Monitors – Abstract The Darknet has become a hub for hacking communities, offering cyber criminals the ability to freely discuss and sell unknown and emerging exploits. This paper focuses its attention on studying the effectiveness of machine learning for providing cyber threat intelligence from Darknet hacking forums. Developing a functioning system for extracting information from […]

via Cyber Threat Intelligence: Applying Machine Learning, Data Mining and Text Feature Extraction to the Darknet — The Official News Monitors Blog

Quote

Making Sense of the Swamp – Azure Data Catalog for your Data Lake


“Where’s my raw data? Is this data set complete? Am I using dev or test data from the lake? Can I trust this data set, where did it come from and who owns it?” Data Lakes are a great design feature for a modern data warehouse however they can quickly deteriorate into a Data Swamp […]

via Making Sense of the Swamp – Azure Data Catalog for your Data Lake — Another Blog on Cloud Data

Quote

ORACLE INFORMATION SECURITY – Where It Begins, Where It Ends


Background and Introduction Targeted cyber intrusions remain the biggest threat to government ICT systems. Since opening in early 2010, the Australian Cyber Security Centre (ACSC) has detected and responded to thousands of these intrusions. These attacks are dealing with the Zero-Day exploits, DoS, DDoS, SQL Injections, Phishing, Ransomware, Large XML payloads and many other innovative […]

via ORACLE INFORMATION SECURITY – Where It Begins, Where It Ends — RedThunder.Blog