Các Di Sản Lịch Sử – Văn Hóa Của Tỉnh Bình Dương


Tỉnh Bình Dương có điều kiện tự nhiên khá đa dạng: rừng cây, núi đá, sông suối, hồ nước và các vùng trũng của ven sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, Sông Bé tạo nên các cảnh quan đẹp với những vườn cây trái nổi tiếng như: Sầu riêng, măng cụt, bưởi… thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, xã hội và du lịch. Trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển hơn 300 năm, đã tạo nên các di sản văn hóa phong phú như: Các di tích khảo cổ, kiến trúc nghệ thuật, di tích lịch sử…Nhiều cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo như: đình, chùa, miếu, nhà thờ và đặc biệt là các công trình kiến trúc nhà cổ bằng gỗ lâu đời…Có các làng nghề truyền thống như: Sơn mài, gốm sứ, điêu khắc gỗ,…đã tạo nên các sản phẩm có giá trị nghệ thuật, văn hóa độc đáo hấp dẫn trong và ngoài nước, là điều kiện thuận lợi để khai thác phát triển ngành du lịch địa phương.

Về đặc điểm tự nhiên-xã hội

Trên bản đồ Việt Nam, tỉnh Bình Dương thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ, với diện tích tự nhiên 2.716 km2, dân số 1.995.817 người (2016), chiếm 0,83% diện tích cả nước. Phía Bắc tiếp giáp tỉnh Bình Phước, phía Đông tiếp giáp tỉnh Đồng Nai, phía Nam tiếp giáp thành phố Hồ Chí Minh và phía Tây tiếp giáp tỉnh Tây Ninh. Tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của tổ quốc, vì thế có những điều kiện thuận lợi trong quá trình phát triển đô thị và sớm tiến lên một tỉnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa. Điều kiện tự nhiên đã tạo cho tỉnh một địa thế rất thuận lợi để phát triển, có bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng và đồi núi thấp với mức chênh lệch độ cao giữa các vùng không quá lớn. Nền địa chất ổn định vững chắc, nhiều sông suối nhưng không sâu và rộng, nên rất thuận tiện cho việc phát triển các công trình giao thông và sản xuất công nghiệp. Bình Dương xưa vốn là rừng nhiệt đới, chiếm phần lớn diện tích tự nhiên, có rừng dày và rừng thứ sinh phủ kín, phân nữa còn lại là đồn điền cao su, ruộng lúa và vườn cây ăn trái. Đó là rừng thuộc hệ thống đồng bằng của miền Đông Nam Bộ, nổi tiếng giàu nhất nước về các loài cây gỗ quí. “ … rừng mang tính phong phú bậc nhất, chứa nhiều loại danh mộc và cây gỗ tốt”, “số người sống bằng nghề lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đông hơn số người sống bằng nghề nông nghiệp trồng lúa”Bình Dương được bao bọc bởi 3 sông lớn: sông Sài Gòn ở phía Tây làm ranh giới với tỉnh Tây Ninh, Sông Bé ở phần phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bình Phước và sông Đồng Nai ở phía Đông, làm ranh giới với tỉnh Đồng Nai; do đó Bình Dương dễ dàng nối kết với các cảng biển lớn ở phía Nam Tổ quốc. Với hệ thống dòng chảy trên đã tạo cho Bình Dương một hệ thống giao thông thủy rất tốt trong quá trình giao thương buôn bán và phát triển. Bình Dương có hệ thống giao thông đường bộ phát triển sớm, tương đối thuận lợi và ổn định. Có quốc lộ 13 đi Bình Phước nối vào quốc lộ 14 đi Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung, nối vào Quốc lộ 1 đi thành phố Hồ Chí Minh.

Trong địa bàn tỉnh còn có các tỉnh lộ Tân Vạn- Mỹ Phước, 742, 743, 744, 745, 746… tạo thành mạng lưới giao thông liên hoàn, thông suốt. Tạo điều kiện cho Bình Dương nối với các tỉnh bạn trong hệ thống giao thông xuyên Việt, xuyên Á trong tương lai.

Các di sản lịch sử – văn hóa của tỉnh Bình Dương

Khái niệm về di sản văn hóa: Di sản văn hoá: “Bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác…”. Di sản văn hóa là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam. Tỉnh Bình Dương, có một quá trình lịch sử phát triển hơn 300 năm, từ khi Chúa Nguyễn vào Đàng Trong phân chia địa giới hành chính, lập phủ Gia định năm 1698. Năm 1808, huyện Phước Long nâng lên thành Phủ bao gồm 4 huyện, trong đó có huyện Bình An là vùng đất Bình Dương ngày nay. Trong suốt chiều dài lịch sử, mọi tầng lớp cư dân từ nhiều miền khác nhau của đất nước ta đã hội tụ về đây, cùng cư dân bản địa chung lưng đấu cật, khai phá, xây dựng nên vùng đất Bình Dương ngày càng phát triển phồn vinh và giàu đẹp. Trong quá trình đó, người dân đã sáng tạo nên những Di sản lịch sử – văn hóa đặc sắc của vùng đất Thủ Dầu Một- Bình Dương xưa và nay. Hiện tại, tỉnh Bình Dương có khoảng 175 ngôi chùa và tịnh xá, 112 ngôi đình làng và hàng trăm cơ sở tín ngưỡng, thờ tự khác. Toàn tỉnh có 54 di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng, trong đó có 12 di tích cấp Quốc gia và 42 di tích cấp tỉnh; với loại hình phong phú đa dạng: Lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ và danh lam thắng cảnh. Đối với công tác Bảo tàng, đã sưu tầm và gìn giữ di sản văn hóa với nhiều bộ sưu tập hiện vật có giá trị cao với 18.233 tài liệu, hiện vật các loại 4 . Công tác kiểm kê di sản văn hoá phi vật thể trong năm 2015 đã được thực hiện tốt như: Lập hồ sơ về “Võ thuật Tân Khánh Bà Trà”; xây dựng đề án “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ, giai đoạn 2015-2020”; hoàn thành hồ sơ khoa học về “Nghề Sơn mài ở Bình Dương” để trình Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia. Năm 2017, đã thu hút 4,5 triệu lượt khách đến tham quan, học tập và nghiên cứu di sản lịch sử – văn hóa, đạt doanh thu 1.280 tỷ đồng.

Di sản vật chất (đình, chùa, nhà cổ, mộ cổ, danh lam thắng cảnh)

Di chỉ khảo cổ

Bình Dương có vị trí nằm giữa vùng trung du và châu thổ nên có môi trường sinh thái thuận lợi cho con người sinh sống, dọc theo các bãi bồi ven sông Đồng Nai, sông Sài gòn đã phát hiện nhiều di chỉ khảo cổ quan trọng như: Di chỉ Cù Lao Rùa, Mỹ Lộc, Dốc Chùa (Tân Uyên), di chỉ Bà Lụa ( Thủ Dầu Một), Vịnh Bà Kỳ (Bến Cát)…Trong đó di chỉ Dốc Chùa, Cù Lao Rùa được công nhận là di tích cấp quốc gia, bởi nó chứa đựng các hiện vật khảo cổ có giá trị cao của thời tiền sử, của sự phát triển đỉnh cao của trung tâm thời đại kim khí của vùng đất Bình Dương nói riêng và vùng Đông Nam Bộ nói chung. Ngoài ra, tại di chỉ Bưng Sình- Phú Chánh (Tân Uyên), đã phát hiện liên tiếp 5 chiếc trống đồng Đông Sơn, là tỉnh có số lượng trống đồng nhiều nhất (06 cái) so với các tỉnh trong khu vực Nam Bộ. Qua các di chỉ khảo cổ, có thể khẳng định “Thời tiềnsơ sử Bình Dương trải qua hơn 1.500 năm tồn tại và phát triển đã tích tụ những vết tích vật chất và tinh thần để có thể chứng minh đây là một cộng đồng cư dân bản địa có trình độ tổ chức, có các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp có tính chuyên hóa cao…”

Di sản kiến trúc nghệ thuật

Đình

Ngôi đình là trung tâm sinh hoạt của làng xã Việt Nam, có thể xem đình như là một trụ sở hành chính, nơi thờ tự, nhà văn hóa của làng, qui mô của ngôi đình, vẻ đẹp và sự sang trọng của nó cho biết sự giàu có của làng đó; địa điểm chọn xây dựng ngôi đình là nơi đẹp nhất của làng người Việt. “ Theo thống kê của đoàn khảo sát do Sở Văn hóa-Thông tin tỉnh Bình Dương tổ chức thực hiện, hiện nay trong toàn tỉnh có 112 ngôi đình…là con số đáng tin cậy vì theo thống kê của thực dân Pháp năm 1863 toàn vùng Bình Dương có 111 làng.”Bình Dương có các ngôi đình nổi tiếng như: đình Phú Long (Lái Thiêu), đình Tân An, đình Phú Cường ( Thủ Dầu Một), đình Long Hưng, đình Tân Trạch (Tân Uyên)… Nổi tiếng có đình Phú Long được xây dựng vào năm 1842, trên tổng diện tích 5.828m2, đình thờ Thần Hoàng Bồn Xứ, được ban sắc thần thời vua Tự Đức (thứ 5). Là một công trình nghệ thuật độc đáo mang đậm nét Nam Bộ. Kiến trúc đình theo lối chữ Tam, mái lợp ngói âm dương, tổng diện tích xây dựng là 1.258m2. Với phong cách trang trí mang mỹ thuật thể hiện qua loại hình tranh ghép gốm đặc sắc, là nơi có nghề gốm sứ phát triển lâu đời. Trong hai cuộc kháng chiến, đình là cơ sở hoạt động cách mạng của địa phương, đình được công nhận là di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia. Ngoài ra còn có, đình Tân An tọa lạc tại khu 1, phường Tân An, thành phố Thủ Dầu Một. Đình do dân 4 làng Tương Hiệp, Tương An, Tương Hòa và Cầu Định chung sức xây dựng vào năm 1820 để thờ Tiền Quân Cơ Nguyễn Văn Thành. Ngôi đình được xây dựng trên một khuôn viên rộng rãi với cảnh quan thiên nhiên tĩnh mịch và mái ngói rêu phong tạo nên nét cổ kính của ngôi đình. Trước đình có cây đa trăm tuổi, với bộ rễ chằng chịt cuốn lấy chiếc cổng rêu phong cũ kỹ. Về kiến trúc ngôi đình được làm toàn bằng gỗ, theo lối chữ Tam, dân gian gọi là đình ba nóc. Tất cả đều làm theo lối nhà xuyên tính, hai mái, hai chái, có 40 cột, hành lang rộng có 30 cột đúc vôi gạch; đình Tân An cũng được công nhận là di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia. Đình làng gắn liền lễ hội kỳ yên, cúng tế là dịp để nhân dân địa phương đến lễ bái cầu làng xóm bình yên, quốc gia thịnh vượng, mùa màng tươi tốt. Biểu thị tấm lòng của người dân đến người có công xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước, truyền thống uống nước nhớ nguồn. Tổ chức các trò chơi dân gian, đua ghe, đua xuồng, hát bội, văn nghệ. Lễ vật là hương hoa, trái cây, con gà, con lợn,…Nhìn chung, đình làng Bình Dương góp phần quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa, nơi sinh hoạt tinh thần phong phú của người dân Bình Dương.

Chùa

Vào những năm đầu thế kỷ XVII, khi người Việt vào khai phá vùng đất phương Nam, các tăng sĩ người Việt, người Hoa cũng theo vào truyền đạo và dựng chùa, gồm đủ các hệ phái Phật giáo Bắc tông, Nam tông và du tăng khất sĩ. Những ngôi chùa được xây đựng đầu tiên như: chùa Châu Thới (Dĩ An)-năm 1681, chùa Hưng Long (Tân Uyên)-năm 1695, chùa Hội Khánh -năm 1741, chùa Long Thọ (1756) ở Thủ Dầu Một, chùa Long Hưng (1768) ở Bến Cát… Theo số liệu điều tra của Ban Tôn giáo tỉnh ở Bình Dương có 175 cơ sở thờ tự.Trong đó chùa Hội Khánh là công trình kiến trúc bằng gỗ lớn nhất tỉnh Bình Dương, với diện tích xây dựng 1,222m2. Chùa được xây dựng năm 1741. Chùa Hội Khánh là công trình chạm trổ tinh vi, khéo léo và độc đáo. Đặc biệt có bộ tượng bằng gỗ Thập Bát La Hán và Thập Điện Minh Vương có giá trị nghệ thuật cao. Từ năm 1923-1926, cụ Nguyễn Sinh Sắc thân sinh Bác Hồ, cùng các vị Tú Cúc, Hòa thượng Từ Văn lập nên Hội Danh Dự yêu nước tại chùa, để tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước và chữa bệnh, hốt thuốc cho người dân trong vùng. Các ngôi chùa trên đất Bình Dương gắn liền gắn liền với đời sống tâm linh, văn hóa, kiến trúc, nghi lễ mang nét đặc thù giữa Phật giáo và cư dân địa phương.

Nhà cổ

Theo ghi chép trong địa chí Bình Dương xuất bản năm 1991 “trở lại quá khứ 50 năm về trước hơn phân nữa diện tích của tỉnh Bình Dương ngày nay có rừng cây và rừng thứ sinh phủ kín… rừng mang tính phong phú bậc nhất, chứa nhiều loại danh mộc và cây gỗ tốt”,… Chính những điều kiện đó, trên tỉnh Bình Dương có hàng chục ngôi nhà cổ hoàn toàn làm bằng gỗ mà không sử dụng một cây đinh nào và tồn tại trên 100 năm. “ Trên địa bàn Sông Bé có nhiều gỗ quí, nên Thủ Dầu Một ngày nay mới được coi là “Thủ Đô” của Nam Bộ về nhà cửa và chùa chiền cổ, được xây dựng từ 1 hai thế kỷ trước, bằng đủ loại danh mộc bền đẹp, theo kiểu cách thuần túy Việt Nam và chạm trổ công phu trang nhã…”. Nhất là các ngôi nhà cổ của họ Trần ở thành phố Thủ Dầu Một, trong đó nhà Trần Công Vàng được xem là cổ nhất có kết cấu, trang trí nội thất còn nguyên vẹn nhất. Tại Cù lao Bạch Đằng (Tân Uyên) có ngôi nhà ông Đỗ Cao Thứa, nhà ông Dương Văn Bảnh (xây dựng đầu thế kỷ XX)… Để giữ gìn những ngôi nhà cổ này, tỉnh Bình Dương đã lập hồ sơ xếp hạng di tích 5 ngôi nhà cổ. Nhà cổ Trần Văn Hổ (Tự Đẩu ), nhà cổ Trần Công Vàng, nhà cổ ông Nguyễn Tri Quan (TP. Thủ Dầu Một) xây dựng năm 1890, nhà cổ ông Đỗ Cao Thứa (Bạch Đằng, Tân Uyên ) xây dựng năn 1890.

Nhà cổ Trần Công Vàng được xây dựng vào năm 1892 (Nhâm Thìn), trên tổng diện tích 1.333m2, kiến trúc kiểu chữ Đinh. Nhà làm bằng các loại gỗ quí được chạm khắc tinh xảo, lắp ráp bằng hệ thống mộng, nêm chứ không dùng đinh hoặc bù lon. Phần tranh trí nội thất rất phong phú và đa dạng, theo phong cách cổ truyền của người Việt. Cách bày trí thể hiện sự đề cao việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, giáo dục đạo đức cho con cháu, khuyên chăm chỉ làm ăn, cố gắng học hành để thành người có ích cho xã hội.

Nhà cổ Trần Văn Hổ được xây dựng năm Canh Dần (1890), trên tổng diện tích 1.296m2, kiến trúc theo lối chữ đinh. Nhà được trang trí các bao lam, cửa võng, hoành phi chạm trổ tinh vi, độc đáo… có giá trị văn hóa, nghệ thuật đặc sắc.

Nhà cổ Bình Dương vẫn nối tiếp truyển thống của kiến trúc dân tộc, đa số nhà kiểu chữ đinh, được xây dựng vào những năm 90 của thế kỷ XIX. “ Trong số trên 10 ngôi nhà cổ mà chúng tôi đến tìm hiểu thì tại thị xã Thủ Dầu Một đã có 7 ngôi (xã Tân An 3 ngôi, phường Phú Cường 4 ngôi)”.Về mặt kỹ thuật, không thể không nhắc đến một nét thủ công truyền thống mà ai cũng công nhận là sự sáng tạo tài tình của người xưa, đó là kỹ thuật lắp ráp các cột, kèo, xuyên, trính,… không sử dụng đinh có thể gỡ ra ráp lại dễ dàng. Ngoài sự độc đáo về hình thức, trang trí nội thất bên trong còn mang đậm triết lý nhân sinh, giáo dục lễ giáo gia đình, mang đậm chất văn hóa Nam Bộ.

Di tích lịch sử cách mạng

Bình Dương có vị trí đặc biệt quan trọng, phía Tây và Bắc vừa tiếp giáp với vùng rừng núi Tây Ninh, Bình Phước; phía Đông và Nam tiếp giáp với khu trung tâm đô thị là thành phố Hồ Chí Minh và Biên Hòa là trung tâm quân sự đầu não của kẻ thù trước năm 1975. Với địa thế đó, trong suốt hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Bình Dương sớm hình thành các chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, các phong trào đấu tranh cách mạng, trong 9 huyện, thị, thành phố của tỉnh Bình Dương đều có các căn cứ cách mạng nổi tiếng như: chiến khu D, chiến khu Long Nguyên, Tam Giác Sắt, Thuận An Hòa…. Từ đây, hình thành những đoàn quân cách mạng tấn công kẻ thù ghi lại những chiến công vang dội, đánh dấu những giai đoạn lịch sử oai hùng của dân tộc như: Chiến thắng Phước Thành, Dầu Tiếng, Bàu Bàng, Bông Trang – Nhà Đỏ,… Trong đó nổi bật có Nhà tù Phú Lợi do chế độ Ngô Đình Diệm và đế quốc Mỹ xây dựng năm 1957, với diện tích 77.082m2 để giam cầm các chiến sĩ cách mạng và những người yêu nước lúc bây giờ. Tại đây, vào ngày 1 tháng 12 năm 1958, Mỹ-Diệm đã gây ra vụ đầu độc tù nhân chính trị. Sự kiện này gây ra sự phẩn nộ trong nước và thế giới, làm dấy lên làn sóng đấu tranh của nhân dân Việt Nam giành lấy độc lập, tự do cho dân tộc. Nhà tù Phú Lợi là một chứng tích tố cáo tội ác của chiến tranh xâm lược.

Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh ở Dầu Tiếng, đây là một di tích tiêu biểu thể hiện sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Trong Bộ chỉ huy có ba đồng chí trong Bộ Chính trị: Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng và Phạm Hùng trong 5 ngày (26-30/4/1975) chỉ huy, làm việc tại đây trong thời gian chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh Lịch sử. Di tích lịch sử cách mạng là những điểm son chói lọi phản ánh sinh động quá trình đấu tranh cách mạng kiên cường của quân và dân ta, tinh thần yêu nước nồng nàn, những chiến công oanh liệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trên đất Bình Dương.

Danh lam thắng cảnh

Bình Dương, có địa hình nhấp nhô là nơi chuyển tiếp từ cao nguyên xuống đồng bằng tạo nên địa thế uyển chuyển; và có ba con sông lớn chảy qua sông Đồng Nai, Sài Gòn và Sông Bé tạo nên cảnh quan hấp dẫn trong du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng. Từ hơn thế kỷ, Bình Dương có vùng cây trái Lái Thiêu nổi tiếng khắp Nam Bộ, các thắng cảnh được xếp hạng di tích như: núi Châu Thới, núi Cậu – Lòng Hồ Dầu Tiếng. Dọc theo các dòng sông, suối lớn đang hình thành các khu du lịch sinh thái như: khu du lịch Hồ Bình An (Dĩ An), khu du lịch Thanh Cảnh (Thuận An ), khu du lịch Phương Nam (Vĩnh Phú – Thuận An), khu du lịch Hàn Tam Đẵng (Tân Định – Tân Uyên), khu du lịch Bạch Đằng (Tân Uyên). Đặc biệt, Bình Dương có khu Du lịch Đại Nam, là một công trình tôn vinh và vọng ngưỡng lịch sử – văn hóa từ xưa đến nay của đất nước Việt Nam. Với tổng diện tích giai đoạn 1 là 261ha, giai đoạn 2 là 450ha, khu Du lịch Đại Nam có chùa, thành, biển hồ, sông núi, vui chơi giải trí,… tất cả làm toát lên vẽ đẹp của một khu du lịch có tầm cỡ quốc gia và trong khu vực.

Về các làng nghề truyền thống:

Bình Dương là vùng đất có nhiều làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng tồn tại gần 200 năm; với nguồn tài nguyên phong phú như: đất cao lanh, rừng có nhiều loại gỗ quí, con người cần cù, khéo tay…đã tạo điều kiện phát triển các nghề thủ công phát triển như: Gốm sứ, sơn mài, điêu khắc gỗ, khai thác lâm sản, đóng ghe thuyền, nghề nấu mía đường, nghề ép dầu đậu phộng, nghề đục đá ong, đan lát mây tre, rèn sắt, dệt chiếu… là những nghề nổi tiếng ở tỉnh Thủ Dầu Một Bình Dương. Sản phẩm từ các nghề thủ công không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ mà còn được đem trao đổi, buôn bán với các địa phương khác trên cả nước, nhất là ở Nam kỳ lục tỉnh. Nghề làm gốm: Từ rất sớm những người dân sống trên vùng đất Bình Dương đã biết làm gốm do có nguồn nguyên liệu tại chổ, có đội ngũ thợ thủ công lành nghề. Nghề gốm không chỉ có một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của địa phương mà nó còn tạo nên việc làm và cả việc xác lập một sắc thái văn hóa mang một phong cách nghệ thuật của dòng gốm Nam bộ. Tỉnh Bình Dương có hơn 100 cơ sở gốm sứ, được coi là một trong hai trung tâm gốm sứ nổi tiếng của khu vực Đông Nam Bộ, với nhiều cơ sở gốm sứ nổi tiếng như: Gốm sứ Minh Long I, Cường Phát, Phước Dũ Long, với các làng gốm Tân Phước Khánh, Lái Thiêu, Tân Uyên,… Đặc biệt công ty gốm sứ Minh Long I đã xây dựng một trung tâm Minh Sáng Plaza, đây là một trung tâm thương mại dịch vụ gốm sứ hiện đại đầu tiên của Bình Dương, chỉ cách thành phố Hồ Chí Minh 20 km, nằm trong khuôn viên 25.000m2 , nơi đây giới thiệu 15.000 sản phẩm gốm đa dạng, phong phú về mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc mang đậm yếu tố truyền thống, đặc sắc, tiện dụng và hiện đại, các sản phẩm cao cấp: Hồn Việt, Sơn Hà Cẩm Tú, Vinh Qui Bái Tổ, Hoa Sen… Và sự ra đời của Trung tâm thương mại Minh Sáng Plaza, đã tạo cho sản phẩm gốm sứ của Bình Dương, một đẳng cấp riêng mà không sản phẩm gốm sứ trong nước có thể sánh được. Sản phẩm đã được xuất khẩu sang các nước châu Âu, châu Mỹ, châu Á… Nghề mộc, điêu khắc gỗ đã đ ư ợ c cư dân người Việt ở miền Bắc, miền Trung vốn có tay nghề đã lần lượt đến Bình Dương khai thác thế mạnh ở đây là giàu gỗ quý (cẩm lai, giáng hương…) tạo nên một nghề điêu khắc gỗ nổi tiếng cho Bình Dương. Qua tài liệu, xung quanh Phú Cường có 22 cơ sở đóng thuyền, cưa gỗ, làm mộc với tên gọi là “ An Nhất thuyền” đã tạo ra các sản phẩm nổi tiếng như: Gường lèo, tủ thờ cẩn ốc, bộ salon- Louis, nhà gỗ, xây dựng đình, chùa… “Qua công trình mang dấu ấn những bàn tay tài nghệ độc đáo của lớp thợ Thủ Dầu Một.” Sau này Pháp mở trường Bá Nghệ ở Thủ Dầu Một (1901) nhằm đào tạo thợ thủ công, nghề mộc càng có điều kiện phát triển trên cơ sở tiếp thu những kỹ thuật hiện đại, kết hợp với những truyền thống vốn đã có tạo nên những sản phẩm nổi tiếng không những thị trường trong nước mà còn cả trên thị trường quốc tế. Nghề sơn mài đã sớm hình thành và phát triển ở Bình Dương, tập trung ở các làng như: Tương Bình Hiệp, Tân An và Định Hòa…. Năm 2016, làng sơn mài Tương Bình Hiệp được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Theo tài liệu từ năm 1945, Bình Dương có 40 lò gốm, 10 cơ sở sơn mài, 80 gia đình làm nghề guốc, 300 gia đình làm nghề điêu khắc. Và hiện nay Bình Dương “có 32 làng nghề (mới), 9 nghề truyền thống, 55 làng nghề truyền thống với 45.611 hộ, cơ sở tham gia 46 loại ngành nghề truyền thống, thu hút 103.182 lao động, giá trị sản lượng đạt 4.802 tỷ đồng/năm”. Nghề truyền thống Bình Dương dù gặp rất nhiều khó khăn trong cơ chế thị trường và bị sự tác động của sản xuất công nghiệp hiện nay. Nhưng qua từng giai đoạn lịch sử đã đứng vững và khẳng định được vị trí của mình trong cơ cấu kinh tế của tỉnh và đang làm tăng thêm giá trị kinh tế, bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống trên từng sản phẩm, giải quyết việc làm cho người lao động, bảo đảm một phần an sinh xã hội và bảo tồn được nghề thủ công truyền thống ra đời từ những ngày đầu khai phá của vùng đất Bình Dương. Ẩm thực (nem Lái Thiêu, bánh bì bèo Mỹ Liên, Măng cụt Lái Thiêu, bưởi Bạch Đằng, bánh tráng Phú An)

Ẩm thực:

Nghệ thuật ẩm thực của Bình Dương được thể hiện qua các món ăn mang đậm tính Nam Bộ như: Gỏi măng cụt, mít hầm, rau biền tép um, bánh bao nướng và nem Lái Thiêu, bánh tráng Phú An, bánh bèo bì Mỹ Liên, cơm thố, bánh xèo….Theo thông báo số 374/TB-TBKLVN ngày 29/8/2012 của Công ty cổ phần Kỷ lục Việt Nam gửi Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc công bố TOP đặc sản Việt Nam lần thứ I năm 2012, trong đó tỉnh Bình Dương có 02 đặc sản được lọt vào các TOP nói trên đó là: Bánh bèo bì nằm trong TOP 50 món ăn đặc sản và Măng cụt Lái Thiêu nằm trong TOP 50 trái cây đặc sản nổi tiếng Việt Nam. Ông Paul Doumer, trong thời gian cai quản sứ Đông Dương (1898-1902) đã khen trái măng cụt của Thủ Dầu Một “…là một vùng trồng cây ăn trái, có loại cây ăn trái rất ngon là trái măng cụt, cung cấp cho Sài Gòn và Chợ Lớn, tới mùa trái cây ghe thuyền tấp nập chuyên chở suốt đêm… loại trái cây đáng được nói kỹ vì nó không chỉ làm bụng dạ cồn cào mà còn rất ngon, đặc biệt là rất đẹp; đó là quả măng cụt,… Đối với ông trái măng cụt là một sự ưu ái của thiên nhiên đối với vùng nhiệt đới nắng nóng đã tạo nên một loại trái cây ngon đặc biệt mà không ở đâu sánh được “Thiên nhiên đã rất xảo diệu khi chỉ cho những vùng nóng như thiêu như đốt những trái cây ngọt ngào,…”

Di sản văn hóa tinh thần ( tín ngưỡng, lễ hội, tôn giáo, đờn ca tài tử)

Văn hóa – Nghệ thuật:

Tỉnh Bình Dương nằm trong khu vực Đông Nam Bộ, nghệ thuật biểu diễn truyền thống cũng mang những đặc trưng nổi bật của vùng đất này. Các loại hình biểu diễn nghệ thuật truyền thống có khả năng khai thác thu hút khách bao gồm: Cải lương, tuồng cổ Nam Bộ, thơ ca, hò vè, đờn ca tài tử…Đặc biệt đờn ca tài tử có quá trình hình thành và phát triển sớm trong cư dân Bình Dương. Theo số liệu điều tra của Bảo tàng năm 2009, tỉnh Bình Dương có 56 câu lạc bộ và 5 nhóm đờn ca tài tử. Loại hình nghệ thuật này hầu như có mặt trong các dịp lễ hội, các sự kiện quan trọng trong đời sống mỗi cá nhân hay trong lúc nhàn rỗi. Đờn ca tài tử Nam Bộ đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2012, và được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 12 năm 2013. Năm 2017, Bình Dương đã tổ chức thành công festival đờn ca tài tử toàn quốc lần thứ 2.

Về hoạt động lễ hội:

Trên vùng đất tỉnh Bình Dương, trong quá trình khai phá lập làng, lao động sản xuất, đấu tranh giải phóng dân tộc đã hình thành nhiều lễ hội đặc sắc như: Lễ hội cúng đình, chùa, miếu, tổ nghề, dòng họ.v.v…các lễ cúng tế là dịp cho người dân đến lễ bái cầu xóm làng bình yên, quốc gia thịnh vượng, mùa màng tươi tốt. Biểu thị tấm lòng của người dân đến với người có công xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước, truyền thống uống nước nhớ nguồn. Tổ chức các trò chơi dân gian, đua ghe, đua xuồng, hát bội, văn nghệ. Lễ vật là hương hoa, trái cây, con gà, con lợn,… Lễ hội là dịp để người dân gởi gấm ước nguyện về gia đình bình an, được mua may bán đắt, bệnh tật tiêu trừ, tai qua nạn khỏi, bảo hộ cuộc sống, việc làm…Lễ vật, biểu hiện tấm lòng thành, hoàn toàn tự nguyện, lễ hội là được xem hát tuồng, hát chặp, cải lương, hồ Quảng, múa bông, địa nàng,…Nếu chùa, miễu của người Hoa còn có tục cho vay tiền, xin lộc, đấu giá lồng đèn, đấu giá vinh dự bưng lư hương, bài vị,… Các lễ hội cúng đình, cúng chùa, cúng miếu,…đều do ban nghi lễ của cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo tổ chức, quản lý. Nghi lễ không đơn thuần phục vụ đối tượng là các vị thần thánh và người đã khuất, người còn sống, gia chủ và cư dân địa phương cũng được quan tâm. Do vậy, mỗi khi ở chùa, đình, miếu,… tổ chức lễ, cũng chính là lễ của cả làng. Mọi người cùng nhau đến để giúp các việc lớn nhỏ, xem hát…buổi lễ do vậy trở thành một lễ hội của cả làng và khu vực xung quanh. Về lễ hội gắn với di tích và cơ sở tín ngưỡng của địa phương như lễ hôi kỳ yên, lễ phật đản của đình, chùa (Hội Khánh, Châu Thới ) lễ rướt kiệu Bà của chùa Bà Thiên Hậu, miễu thờ Ông Bổn…kinh phí tổ chức đều do nhân dân tự nguyện đóng góp. Lễ hội chùa bà Thiên Hậu rằm tháng giêng hàng năm ở Thủ Dầu Một, Lái Thiêu, Búng (Thuận An) thu hút đông đảo nhân dân từ các nơi đến. Nguồn kinh phí tổ chức, thùng tiền công đức do Ban nghi lễ, Hội tương tế, quản lý và chi tiêu, nhà nước không can thiệp vào. Trong đó chính quyền địa phương vận động sử dụng quỹ công đức vào công tác từ thiện- xã hội: Nuôi dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, cấp học bổng cho học sinh nghèo hiếu học, xây nhà tình thương, bếp ăn tình thương, giúp đỡ người nghèo, trẻ mồ côi, người khuyết tật, người già neo đơn, thiên tai,…

Tình trạng bảo vệ và phát huy di sản lịch sử – văn hóa trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã nêu cụ thể về việc bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa: “Di sản vǎn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu vǎn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị vǎn hóa truyền thống (bác học và dân gian), vǎn hóa cách mạng, bao gồm cả vǎn hóa vật thể và phi vật thể. Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại”.Thực hiện nghị quyết trên, công tác Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã được tổ chức quản lý, bảo tồn, phổ biến tuyên truyền, giới thiệu giá trị các di sản văn hóa như: sưu tầm, khảo sát, lập hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích, bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy hiệu quả các giá trị của di tích để phục vụ cho nhiệm vụ chính trị và phục vụ cho mọi tầng lớp nhân dân tham quan, du lịch. Tỉnh Bình Dương đã đầu tư cả ngàn tỷ đồng để trùng tu, tôn tạo, chống xuống cấp các di sản lịch sử – văn hóa: Nhà cổ Trần Công Vàng, Trần Văn Hổ, Nhà tù Phú Lợi, Chùa Hội Khánh, Đình Phú Long; sưu tầm, mua hiện vật bổ sung cho di tích nhà cổ Trần Văn Hổ, di tích Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh, địa đạo Tam giác sắt (Tây Nam Bến Cát); di tích Nhà tù Phú Lợi, di tích Địa đạo Tam Giác Sắt, Sở Chỉ huy tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh, Chiến khu Đ. Và các di sản giao cho huyện, thị, thành phố quản lý, bảo quản như: Di tích căn cứ Vườn Trầu, Địa điểm Mỹ rãi bom B52 lần đầu tiên, Vườn cây cao su thời Pháp thuộc, di tích lịch sử Rừng Kiến An; huyện Tân Uyên có di tích chiến khu Vĩnh Lợi; Thuận An có di tích (Chiến khu Thuận An Hòa, miếu Mộc Tổ, đình An Sơn); Bến Cát có di tích Chiến thắng Bàu Bàng; Thành phố Thủ Dầu Một có (Đình Phú Cường, Nhà cổ Nguyễn Tri Quan, lò lu Đại Hưng, trường Trung cấp Mỹ thuật Bình Dương),… Hàng năm thực hiện chương trình “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” phối hợp giữa Sở Giáo dục – Đào tạo và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Các di tích được giao về cho các trường học nơi có di tích thực hiện chăm sóc, vệ sinh. Các di sản văn hóa thường xuyên đón khách tham quan, mỗi năm trung bình từ 150.000 đến 200.000 lượt khách đến tham quan, hội trại, tổ chức lễ kết nạp đoàn viên,… Xây dựng các bộ phim tư liệu về di tích: Nhà cổ Trần Công Vàng, Trần Văn Hổ, Nhà tù Phú Lợi, Chùa Hội Khánh, Đình Phú Long, Đình Tân An, Lò Lu Đại Hưng và phối hợp với phòng Du lịch sở VHTTDL đã in và phát hành tờ bản đồ Du lịch Bình Dương và tập gấp giới thiệu các di tích tiêu biểu của tỉnh Bình Dương đến với du khách trong và ngoài nước. Các di sản văn hóa như đình, chùa luôn mở cửa đón khách đến tham quan, lễ bái vào mùa lễ hội, rằm tháng giêng, lễ kỳ yên hoặc các ngày cúng lớn trong năm. Một số di tích được địa phương tổ chức các ngày lễ lớn của đất nước diễn ra tại di tích: Thuận An Hòa, đình An Sơn, Dinh tỉnh trưởng tỉnh Phước Thành, Vườn cây cao su thời Pháp thuộc, di tích vườn Trầu, địa điểm Mỹ rải bom B52, núi Cậu lòng hồ Dầu Tiếng… Một số di sản có kết nối các tuor du lịch lữ hành, có khách trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch nhiều là di tích nhà tù Phú Lợi, Lò Lu Đại Hưng, đình Tân An (TDM), nhà cổ, nhà Bảo tàng, làng nghề truyền thống.v.v… Việc xã hội hóa hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh bước đầu thực hiện đạt được một số kết quả khả quan. Nguồn kinh phí xã hội hóa chủ yếu hỗ trợ công tác trùng tu, sửa chữa nhỏ cho các di tích tôn giáo, tín ngưỡng như: đình, chùa,… và công tác tu bổ, tôn tạo chủ yếu lót gạch nền, trùng tu ngôi miếu, nơi thờ tự, nhà lễ tân, mở rộng gian chánh điện và chăm sóc cơ sở vật chất góp phần gìn giữ, tôn tạo và phát huy giá trị của di sản.

Kết luận

Di sản lịch sử – văn hóa là sản phẩm của những điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế và chính trị quá hơn 300 năm hình thành, xây dựng và phát triển của tỉnh Bình Dương. Các sản phẩm này khá đa dạng từ các di tích khảo cổ, các di tích lịch sử cách mạng, các di tích kiến trúc tôn giáo cho đến các công trình kiến trúc nhà cổ,…Di sản lịch sử- văn hóa là sản phẩm của lịch sử, nó chứa đựng những giá trị điển hình, những tinh hoa tri thức của tiền nhân. Mỗi đất nước, mỗi dân tộc, mỗi địa phương tùy theo tình hình, hoàn cảnh, đặc điểm về tự nhiên, văn hoá xã hội của mình mà tạo nên sự phong phú đa dạng của di sản lịch sử – văn hoá của mình. Do đó, việc Bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa là một nhiệm vụ quan trọng trong việc giáo dục truyền thống của địa phương, phổ biến các tri thức khoa học, tri thức sống góp phần nâng cao sự cảm thụ và nhận thức trong nhân dân.

Phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm khẳng định nét đặc trưng văn hóa riêng của Bình Dương, góp phần vào công cuộc đổi mới, phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Di sản lịch sử – văn hoá còn được xem là một tiềm năng kinh tế, nhất là phục vụ cho ngành du lịch. Kinh tế du lịch hiện nay đang chiếm một tỉ trọng ngày càng lớn trong nền kinh tế quốc dân và địa phương. Di sản lịch sử – văn hóa là sản phẩm du lịch đặc thù, gắn kết vào những tuyến du lịch hấp hẫn, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của một trong những ngành kinh tế của tỉnh. Đồng thời, từng bước làm thay đổi cơ cấu kinh tế, cộng đồng cư dân nơi có di tích và lễ hội, sẽ mang lại cho họ những lợi ích vật chất cụ thể.

Thực tế cho thấy, những di tích có lễ hội luôn mang lại những nguồn thu có hiệu quả kinh tế. Vậy, Di sản văn hóa đóng một vai trò không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế của các địa phương trong tỉnh. Bình Dương có vị trí nằm ở trung tâm của vùng Đông Nam Bộ, vùng kinh tế trọng điểm 10 phía Nam, là khu vực năng động và phát triển nhất nước. Có hệ thống giao thông kết nối thuận lợi với các tuyến giao thông quan trọng trong Vùng như đường xuyên Á từ cửa khẩu Mộc Bài, cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất (hiện tại) và Long Thành (tương lai) cùng các đô thị lớn trong vùng kinh tế trọng điểm như Biên Hòa (Đồng Nai), Vũng Tàu (Bà Rịa Vũng Tàu),…

Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội tương đối phát triển so với một số địa phương trong vùng. Môi trường đầu tư thuộc loại hấp dẫn nhất trong toàn quốc với chỉ số PCI thuộc loại cao nhất trong cả nước là một lợi thế giúp Bình Dương thuận lợi hơn trong quá trình thu hút các nhà đầu tư phát triển du lịch. Nguồn nhân lực tương đối dồi dào đồng thời so với các địa phương khác trong Vùng, Bình Dương có sức hấp dẫn lớn đối với nguồn nhân lực, đó là điều kiện tương đối thuận lợi trong quá trình phát triển kinh tế. Bình Dương là một tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa thuộc vào nhóm nhanh nhất trong Vùng, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình dịch vụ du lịch trong tương lai. Đây là điều kiện thuận lợi để khai thác phát triển các sản phẩm di sản lịch sử – văn hóa phục vụ khách tham quan du lịch.

Tài liệu tham khảo:

  1. Trần Bạch Đằng (chủ biên) (1991), Địa chí Tỉnh Sông Bé, Nxb Tổng Hợp Sông Bé
  2. Phan Thanh Đào (2004), Nhà cổ Bình Dương, Hội Văn học-nghệ thuật Bình Dương.
  3. Quyết định số 81/2007/QĐ-TTg ngày 05/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020.
  4. Sở Văn hóa- Thông tin tỉnh Bình Dương (1998), Sơ khảo về tín ngưỡng, lễ hội dân gian và truyền thống tỉnh Bình Dương (lưu hành nội bộ), XN In tỉnh Bình Dương.
  5. Quyết định số 74/2007/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 26/7/2007 về Ban hành quy chế về quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
  6. Hội KHLS Bình Dương (2008), Bình Dương danh lam cổ tự, XN in Nguyễn Minh Hoàng.
  7. Bùi Chí Hoàng (Chủ biên)(2010), Khảo cổ học Bình Dương từ tiền sử đến sơ sử, Nxb Khoa học xã hội.
  8. Quyết định số 14/2010/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 04/5/2010 về Ban hành quy định trình tự, thủ tục xét công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh BìnhDương.
  9. Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Bình Dương đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2303/QĐ-UBND ngày 15/8/2011.
  10. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ IX, nhiệm kỳ 2011-2015;
  11. Văn bản số 2675/UBND-VX ngày 12/9/2011 của UBND tỉnh Bình Dương về việc xây dựng các đề án “Phát triển sản phẩm du lịch đặc thù Bình Dương” và “Đề án tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch” giai đoạn 2011 – 2015.
  12. Nghị quyết số 41/2011/NQ-HĐND của Hội đồng Nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 08/8/2011 Về quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Bình Dương đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
  13. Chương trình số 31/Ctr-TU ngày 31/10/2011 của Tỉnh ủy Bình Dương Phát triển văn hóa, thể thao, du lịch; đầu tư, xây dựng và sử dụng có hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao, du lịch tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011-2015.
  14. Kế hoạch số 862/KH-UBND ngày 06/4/2012 của UBND tỉnh về triển khai thực hiện Chương trình phát triển văn hóa, thể thao, du lịch; đầu tư, xây dựng và sử dụng có hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao, du lịch tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011-2015
  15. Quyết định số 1372/QĐ-UBND ngày 22/5/2012 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Đề án xã hội hóa hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Bình Dương đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020.
  16. Hội KHLS tỉnh Bình Dương (2015), Bình Dương 20 năm phát triển, Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương chặng đường 20 năm phát triển.
  17. Quyết định số 33/2016/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ngày 31/8/2016 về Ban hành Quy chế Quản lý và tổ chức lễ hội trên địa bàn tỉnh BìnhDương.
  18. http://www.sovhttdl.binhduong.gov.vn, Ngành văn hóa, thể thao và du lịch Bình Dương chặng đường 20 năm phát triển, Ngày truy cập 5/8/2016.
  19. wwww.dulichbinhduong.org.vn, Du lịch sinh thái miệt vườn, Ngày truy cập 2/8/2016.
  20. http://www.baobinhduong.vn, Phát huy hiệu quả du lịch làng nghề truyền thống: Phát triển du lịch làng nghề – Lợi thế và khó khăn, Ngày truy cập 27/7/2016.
  21. Paul Doumer “ Xứ Đông Dương” (hồi ký), sách tái bản, 2016, Nxb Thế Giới.
  22. .Nguyễn Hiếu Học (2018), Dấu xưa đất Thủ, tùy bút-tiểu luận, tái bản lần thứ 3, Nxb Văn hóa- văn nghệ.

Ghi chú NguoiDenTuBinhDuong: bài viết lượt bỏ các phần ghi chú nhỏ bên dưới mỗi đoạn, quý đọc giả cần tư liệu đầy đủ xin tham khảo link bên dưới và website. Chân thành cảm ơn.

Theo : TS. Nguyễn Văn Thủy

Bài gốc : http://sugia.vn/portfolio/detail/1751/cac-di-san-lich-su-van-hoa-cua-tinh-binh-duong.html

Tập Thiền mọi lúc, mọi nơi, không phải lúc nào Thiền cũng phải tĩnh, hãy tập và cảm nhận.


6 kỹ thuật độc đáo giúp bạn hành thiền mà không cần ngồi yên một chỗ

Đây chắc chắn là giải pháp sáng tạo và hữu hiệu nhất dành cho những người đam mê tập hành thiền nhưng không có đủ thời gian.

Một trong những thách thức lớn nhất của những người tập thiền, đó là làm sao để luyện tập đều đặn mỗi ngày. Hầu hết, cuộc sống của mọi người đều rất bận rộn, đến thời gian tắm rửa còn chẳng có, nói gì đến việc ngồi một chỗ yên tĩnh để hành thiền.

Tuy nhiên, tập thiền trong những ngày bận rộn không phải điều gì đó quá bất khả thi. Bạn hoàn toàn có thể kết hợp thiền định vào trong những hoạt động thường ngày của mình. Hãy thử làm theo các bước dưới đây trong 1 tuần, bạn sẽ thấy mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn.

Bạn phải làm gì?

Đồng hồ đếm giờ tắt không có nghĩa là bạn ngừng việc tập thiền. Thông thường, khi bạn tập thiền xong, chỉ mất vài phút là bạn lại cảm thấy căng thẳng và bế tắc, như thể mọi lợi ích khi tập thiền đều bị xóa sạch. Thực ra, bạn không nên coi thiền định là một khoảng thời gian nghỉ ngơi tạm thời, mà là một quá trình chuyển đổi để làm phong phú thêm cho cuộc sống của chính bạn và những người xung quanh. Bạn cần phải kết hợp thói quen tập thiền vào trong những hoạt động thường ngày của mình.

6 kỹ thuật kết hợp thiền vào cuộc sống thường ngày

Bằng cách chia nhỏ thời gian tập thiền trong ngày, bạn có thể duy trì được lợi ích của thiền trong suốt cả ngày. Bằng cách áp dụng một vài kỹ thuật dưới đây, bạn sẽ dễ dàng kết hợp thiền định vào trong sinh hoạt thường ngày của mình để bình tĩnh và tập trung hơn.

Hãy hành thiền ở nhiều môi trường đa dạng khác nhau vì điều này giúp bạn kiểm soát được tâm trí mình. Bạn sẽ không bị ảnh hưởng bởi những dòng cảm xúc bất chợt và tập trung tốt hơn vào những điều mình định làm.

Thiền khi làm việc nhà

 Bất cứ công việc nhà mang tính chất lặp đi lặp lại cũng có thể biến thành bài tập thiền nếu bổ sung thêm yếu tố tập trung. Bạn có thể đếm nhịp thở của mình trong khi dọn tủ, gấp quần áo, lau cửa sổ,… Bất cứ việc nhà nào không cần phải suy nghĩ để đưa ra quyết định đều rất phù hợp cho việc thiền.

Thiền khi đi lại

Khi đi bộ, hay liên kết từng nhịp thở với từng bước chân. Phương pháp thiền đi này đã từng được thiền sư Thích Nhất Hạnh giới thiệu, trong đó người tập sẽ hít vào thở ra theo từng bước chân. Kỹ thuật thiền khi đi bộ này mang lại lợi ích rất hiệu quả. Nếu bạn không có đủ thời gian hay địa điểm phù hợp để đi bộ, bạn có thể tập khi đi trong hành lang, đi đến bãi đỗ xe, hoặc trong cửa hàng. Hãy nhớ cứ 2-3 nhịp lại thở đều 1 lần.

Thiền khi tập thể dục

Biến việc tập thể dục thành bài tập thiền bằng cách dồn năng lượng tinh thần của bạn vào cơ thể. Tưởng tượng lực đẩy và lực kéo trong từng cơ bắp của bạn. Cảm nhận cách cơ thể dần dần điều chỉnh theo từng chuyển động. Bạn sẽ cảm thấy ngạc nhiên trước trạng thái cân bằng mà mình đạt được. Để tăng cường hiệu quả, bạn có thể thử những bài tập mang thiên hướng tập trung vào hơi thở như thái cực quyền hay yoga.

Thiền bằng cách thở 2 nhịp

Chỉ cần thở 2 nhịp đơn giản là đủ đưa bạn vào trạng thái thiền vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày. Hãy hít ra thở vào thật sâu, khoảng 2 nhịp, trước khi gọi điện, trả lời email, hay khởi động xe. Đây là một kỹ thuật rất hay để kết hợp thiền vào trong cuộc sống hàng ngày, nhất là khi bạn cảm thấy bận rộn, căng thẳng và cần tới nó nhất.

Thiền bằng âm thanh

Hãy chọn một loại âm thanh đặc biệt và hít vào thở ra 2 lần mỗi khi bạn nghe thấy âm thanh ấy. Bình thường, các vị thiền sư thường thực hiện kỹ thuật này mỗi khi nghe thấy tiếng gió hoặc tiếng chuông chùa. Hãy lựa chọn cho mình một âm thanh mà bạn thường nghe thấy xung quanh mình. Chẳng hạn, bạn có thể để cho đầu óc thư giãn trong 5 giây bất cứ khi nào nghe thấy tiếng điện thoại của ai đó.

Thiền khi di chuyển, thay đổi môi trường

Bạn có thể tập thiền ngay cả khi đang di chuyển hay thay đổi môi trường. Ví dụ, việc di chuyển từ nhà đến công ty mỗi sáng cũng chính là một cách chuyển đổi từ trạng thái cá nhân sang trạng thái làm việc chuyên nghiệp. Ăn trưa cũng là một hoạt động chuyển đổi môi trường. Thông thường, các thiền sư sẽ dừng lại một lúc mỗi khi bước qua ngưỡng cửa hoặc đi từ phòng này sang phòng khác.

Hãy chọn ra một vài hoàn cảnh mà bạn phải thay đổi môi trường trong cuộc sống hàng ngày (ngồi vào xe hơi, đi bộ đến chỗ làm, mở cửa trước), sau đó dừng lại để thiền nhanh trong 5 giây trước khi bước vào môi trường mới. Thậm chí, việc mở một chương trình máy tính hay kiểm tra email cũng được coi là một thời cơ tốt để thiền.

Chú ý:

Bạn không nên thay thế việc hành thiền hàng ngày bằng những kỹ thuật này. Việc ngồi yên và tập trung trong khi thiền vẫn rất quan trọng. Bạn chỉ nên áp dụng các kỹ thuật trên trong cuộc sống hàng ngày để bổ trợ và làm tăng hiệu quả cho thói quen tập thiền chính.

Ban đầu, hãy lựa chọn những phương pháp mà bạn có thể tự làm khi ở một mình. Bạn sẽ khó mà tập thở 2 nhịp khi đang nói chuyện với người khác, hay bị người khác nhìn chằm chằm chằm. Bạn có thể tập thiền tại một nơi riêng tư như xe hơi. Khi đang dùng máy tính hoặc khi đang giặt quần áo cũng là thời điểm thích hợp để tập thiền.

Ngọc Hà

Theo Trí thức trẻ/Verywellmind

Bài viết liên quan đến việc tập Thiền:

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/2015/12/16/steve-jobs-thien/

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/2019/01/23/tap-thien-chay-bo/

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/tag/giai-ma-nhung-bi-mat-cua-thien-dinh/

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/2018/10/22/nhan-ngay-phu-nu-viet-nam-20-10-2018-dang-bai-phong-van-chi-tran-lan-huong/

https://nguoidentubinhduong.wordpress.com/2018/06/20/30-cau-noi-bat-hu-cua-thien-su-thich-nhat-hanh/

Mỗi hơi thở, mỗi bước đi của chúng ta có thể lấp đầy bởi bình an, hạnh phúc và sự thanh thản.

Những việc làm tuổi thơ để lại suy nghĩ lúc trưởng thành


Con không thể vì “đã lỡ nhúng chàm”, mà…

Tôi là giáo viên, còn vài tháng nữa sẽ nghỉ hưu. Đi dạy hơn 33 năm, đến lúc nghỉ ngơi, nhìn lại quá trình dạy dỗ của mình thấy cũng có nhiều lúc sai trật. Song, dù khi là giáo viên hay 15 năm sau này có làm cán bộ quản lý, trong những sai trật vô tình khó tránh vẫn luôn nghĩ về một bài học thuở nhỏ để không dám phạm những sai trật phẩm hạnh, tư cách và danh dự không chỉ của bản thân mà còn của gia đình.

Năm đó tôi độ chừng 9-10 tuổi. Nhà có 5 đứa con, tôi luôn học trái buổi với các anh chị em của mình. Buổi sáng, chỉ mình tôi tha thẩn chơi ngoài sân trước, tự nghĩ ra đủ trò. Trong một lần tha thẩn như thế, tôi phát hiện cái vách gỗ nhà bác hàng xóm giáp nhà tôi bị long đinh, chỉ cần lấy tay nạy ra là có thể chui lọt qua. Chỗ vách đó dẫn ngay vào nhà trong của bác hàng xóm. Từ đó, trò mới của tôi là… nạy vách chui ra chui vào nhà bác hàng xóm.

Một lần chuẩn bị chui qua, tôi bắt gặp bác gái mở tủ thờ lấy ra một cái hộp, đếm tiền đưa cho chị lớn đi chợ. Hôm sau lẻn qua, gian nhà trong chẳng có ai, tôi đi vòng qua bên hông tủ thờ và thấy chìa khóa vẫn cắm ở ổ. Máu tò mò con nít nổi lên, tôi nhìn quanh quất rồi mở khóa. Hộp tiền nằm ngay tầm với và tôi mở ra xem. Ôi chao là tiền, vì nhà bác vốn là tiệm cho mướn sách lớn nhất nhì thành phố lúc đó.

Tần ngần một lúc, tôi lấy hai tờ giấy bạc 5 đồng cho vào túi áo, cất hộp vào tủ, khóa lại cẩn thận rồi giở vách ra chui về. Bây giờ kể lại thì nhanh, chứ lúc đó tay chân tôi run lẩy bẩy vì cũng ý thức được hành động của mình “có gì xấu lắm!”.

Tôi leo lên cây sung trước nhà, giấu tiền vào một hốc cây rồi leo xuống. Nghe ngóng suốt ngày, thỉnh thoảng chạy sang chơi, không thấy động tĩnh gì bên nhà bác hàng xóm, mấy hôm sau tôi mới dám leo lên cây moi tiền xuống đi mua đồ chơi và ăn hàng. Vài tuần sau, cần mua bộ lính để chơi bật tường, tôi lại sang nhà bác hàng xóm lấy tiền rồi cứ thế, tôi lấy tiền của bác thêm hai lần thì… mọi chuyện vỡ lở.

Khi soạn cặp cho tôi đi học, mẹ tôi ngạc nhiên thấy mớ lính, mấy cây kiếm, bộ cung… mới toanh trong đó. Ngay tối đó, chờ các con học bài xong, bà bắt ngồi lại hết. Bà nhìn tôi, đột ngột buông một câu: “Con nói cho mẹ nghe, tiền đâu con mua lính, mua đồ chơi để trong cặp?”.

Giọng mẹ nhẹ nhàng mà lúc đó tôi như nghe tiếng sấm. Gương mặt nghiêm nghị của mẹ sao mà… dễ sợ, các anh chị tôi thảng thốt quay sang nhìn em. Mặt xanh như tàu lá, nước mắt tôi chảy ra, tôi bắt đầu nghĩ ra đủ lý do định thưa với mẹ. Mẹ không để tôi suy nghĩ lâu, bà nói: “Con đừng tìm cách nói dối. Đã lỡ sai rồi thì phải thưa thật, nếu còn nói dối là tội sẽ nặng thêm!”. Hết đường, tôi lắp bắp thưa thật với mẹ mọi chuyện, nhìn mặt mẹ tôi xanh tái đi theo những câu kể của mình, tôi càng sợ hãi. Thời gian kể chừng 5 phút mà tôi tưởng 50 năm.

Nghe tôi kể xong, cả nhà im lặng một cách khủng khiếp. Mẹ nói tôi đi rửa mặt rồi dẫn ngay sang nhà bác hàng xóm. Nghe hết chuyện mẹ thưa, nghe lời mẹ xin lỗi, bác hàng xóm hết ngạc nhiên thì cười xòa, chỉ nói con nít nghịch ngợm, chuyện không đáng gì. Mẹ tôi trả lời: “Dạ thưa không, hôm nay cháu lấy được 10 đồng thì ngày mai lớn hơn sẽ tìm cách lấy 20 đồng, 30 đồng, rồi cứ thế trượt dài”. Mẹ tôi xin phép gửi lại chỗ tiền tôi đã lấy rồi dắt tôi về.

Về đến nhà, bà bắt tôi nằm dài trước ông bà, trước bố tôi và các anh chị em, nghiêm khắc nói từng chữ: “Hôm nay vì mấy chục đồng bạc này, con đã làm cho ông bà, bố mẹ vô cùng xấu hổ với hàng xóm. Nhưng mẹ thấy con đã dũng cảm nhận lỗi, nên mẹ sẽ chỉ đánh con một roi để con phải luôn nhớ đến lỗi lầm ngày hôm nay với gia đình mình. Bản thân con sau này sẽ khó lòng sang chơi nhà bác T.V. nữa, có sang người ta cũng sẽ canh chừng… Con có thấy xấu hổ không?”. Nói xong, bà quất tôi một roi đau điếng.

Ông bà rồi bố mẹ tôi giờ đã mất cả, anh chị em trong nhà có nhắc lại cũng không ai còn nhớ chuyện đó. Nhưng giọng nói buồn bã, đôi mắt đầy lệ của mẹ khi dang tay quất tôi một roi ngày ấy luôn còn mãi trong tâm trí tôi.

Tôi mang nó hơn 40 năm để luôn nhắc mình không được tái phạm trong việc tơ hào đến những gì không phải do mình làm ra. Cho đến hôm nay sắp nghỉ hưu, hằng ngày, hằng giờ đọc tin tức về những sai phạm của các quan chức khi tham nhũng, thâm lạm của công, tôi luôn chạnh lòng nghĩ đến gia đình họ. Tôi biết không cha mẹ nào lại dạy con làm điều xấu.

Nhưng như mẹ tôi nói khi dặn dò anh chị em tôi sau sự việc tôi làm: “Em các con đã trót dại, lỗi chính là ở nó hư, nhưng bố mẹ và các con cũng có lỗi. Bố mẹ quá tin vào các con, còn các con thì lơ là với em mình nên nó mới làm bậy. Từ hôm nay, đừng để cho em con và ngay cả các con làm việc “tay trót nhúng chàm”. Con người ta làm xấu đã tệ, tệ nhất là biết xấu mà vẫn làm và làm hoài không sửa!”.

Tôi cứ nghĩ nếu từng gia đình khi thấy người thân mình mang về những nguồn thu… quá lạ, hay gia đình tự dưng giàu có lên mà không phải… trúng số mà đủ nghiêm khắc, đủ can đảm từ chối thì chắc có lẽ ta đã không phải vất vả điều chỉnh lại trật tự nhân sự và gầy dựng lại niềm tin cho nhân dân vào chính quyền.

LÂM MINH TRANG – Tuoitre online

Khủng hoảng tuổi trung niên: Những người đeo đuổi “Chủ nghĩa duy thể thao cực đoan”


Khi đến giai đoạn giữa đời mình, ta nhận ra sự hữu hạn của cuộc đời, do đó ta bắt đầu hoảng loạn…

Năm 1957, Elliott Jaques – một nhà tâm lý học người Canada – đã trình bày một bài báo cho Hiệp hội Phân tâm học Anh về cái mà ông gọi là cuộc khủng hoảng trung niên (mid-life crisis). Theo lý thuyết của Jaques, khi đến giai đoạn giữa đời mình, ta nhận ra sự hữu hạn của cuộc đời, do đó ta bắt đầu hoảng loạn. Nhưng khủng hoảng trung niên có muôn vàn gương mặt và sắc thái khác nhau, cách nhận diện và ứng xử với nó cũng vô cùng khác biệt. Tuổi Trẻ Cuối Tuần bắt đầu diễn đàn này với vấn đề (chủ yếu) của những nam trung niên: thể thao quá độ.

NHỮNG TRUNG NIÊN BẮT ĐẦU BIẾT LO

Chín năm trước, ông T. bước vào tuổi “tứ thập nhi bất hoặc”, sau hơn 15 năm tốt nghiệp đại học rồi phấn đấu miệt mài, giữ vị trí quản lý hàng trăm nhân viên trong một doanh nghiệp nhà nước. Dù không đạt những thành tựu rực rỡ nhưng ông tạm ổn với một gia đình hạnh phúc, hai đứa con ngoan ngoãn. Tuy nhiên, một ngày nọ, ông cảm thấy khá mệt mỏi với thân hình nhiều mỡ mà chủ yếu tập trung ở bụng. Đi khám bác sĩ thì các chỉ số đường huyết, mỡ trong máu, chức năng thận, gan… đều có dấu hiệu đáng báo động. Bác sĩ khuyên ông nên tập thể dục, dọa thêm: “Nếu không, chỉ độ vài năm nữa là tình hình không thể cứu vãn được”.

Thế là ông t. thử tập ở công viên gần nhà. Ban đầu, ông chạy có 200m mà thở không ra hơi. Nhưng với quyết tâm, ông đã chạy được 5km sau ba tháng, 10km một năm sau đó. Ba năm sau ông tham gia giải half marathon đầu tiên. Năm sau nữa, ông tham gia giải marathon. Từ đó đến nay ông tham gia cả chục giải khác, cả Ironman, bơi lội, đạp xe. Giờ thì ngày nào ông T. cũng cố gắng chạy, đạp, bơi ít nhất một giờ, cuối tuần ông dành hẳn 2-3 giờ tập luyện.

Ông D. giờ làm phó chủ tịch của một định chế tài chính lớn. Sau khi rời cơ quan nhà nước, ông bỗng nhận ra những đấu đá, mệt mỏi ở nơi cũ đã ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và tinh thần mình. Giờ đây, khi đã lấy lại vóc dáng và trông khá trẻ so với tuổi gần 50, ông hãnh diện bước qua lời nguyền để trở thành một marathoner, một “Ironman finisher”, điều mà rất nhiều ông bạn đồng niên mơ ước.

Những thành phần tập luyện thể thao này khá đặc biệt. Đa số họ là những người có địa vị, thành đạt nhưng đã dành cả tuổi thanh xuân để lo cho sự nghiệp. Khi bước vào trung niên, họ bỗng nhận ra hình như thiếu một cái gì đó. Sự “hoàn thiện bản thân” (self actualization), một nhu cầu cao cấp trong tháp nhu cầu Maslow, được dồn cho việc khám phá những giới hạn về thể chất. Đi kèm một ám ảnh và ẩn ức về cơ thể sau bao năm bào mòn, dồn sức cho những danh vọng, gia đình và tinh thần.

Có một sự lo lắng không hề nhẹ mỗi khi đến dịp sinh nhật của một trung niên, như một cuarơ chuẩn bị đổ dốc, hào hứng pha lẫn căng thẳng, tay chực chờ bóp thắng nhưng lại hết sức cẩn thận tránh lộn nhào xuống dốc, khuôn mặt tỏ vẻ bình thản nhưng tim loạn nhịp bên trong, muốn lao dốc thật nhanh, dũng mãnh, khí thế nhưng lại cũng muốn hãm cho chậm lại, thong dong, tự tại. Đó là một phức cảm chỉ có ở trung niên.

Việc già đi có thể kích hoạt một loại tinh thần hướng nội, thường thì sự hướng nội đó tập trung quá khứ, thời gian còn lại và phải làm gì với nó. Điều đó có thể tạo ra sự lo lắng, và sự lo lắng đó có thể được nhân lên bởi sự chán nản, căng thẳng hoặc buồn chán. Khi lo lắng, buồn chán và bất lực, bạn làm gì? Đó là một vấn đề.

NHỮNG ĐIỀU CHỈNH BẤT NGỜ

Trong những thập kỷ trước, cuộc khủng hoảng trung niên được trình diễn trong một nền văn hóa đại chúng có phần phù du, với những người đàn ông da trắng lái xe thể thao, làm việc điên cuồng và chạy theo những phụ nữ trẻ trong nỗ lực tuyệt vọng mong muốn thấy mình trẻ lại.

Nhưng ngày nay, đám trung niên đang phản ứng với những lo lắng về tuổi trung niên không phải bằng cách bám vào những dấu tích cuối cùng của tuổi trẻ đã hết hạn mà là chấp nhận những thách thức dường như chỉ thuộc về giới trẻ: bằng cách đẩy lùi những giới hạn khả năng chịu đựng về thể chất, tham gia các môn thể thao về sức bền và sức mạnh. Đó là một sự hồi xuân hay sự điều chỉnh giữa cuộc đời đầy bất ngờ và không khỏi hoang mang.

Theo thống kê của Hiệp hội Triathlon (ba môn phối hợp) của Hoa Kỳ, gần 1/3 những người tham gia triathlon ở Hoa Kỳ nằm trong độ tuổi từ 40 đến 49. Đó là nhóm nhân khẩu học tham gia đông nhất và là một trong những nhóm cạnh tranh nhất.

Điều tương tự với giải Boston Marathon danh tiếng: hơn 8.200 vận động viên ở độ tuổi 40 đã vượt qua vạch đích vào tháng 4-2018 (chiếm 31% tổng số người về đích). Nhóm cạnh tranh lớn nhất tại New York Marathon 2017 là ở độ tuổi từ 40 đến 44. Tại London năm 2015, những vận động viên 40-49 tuổi này có thời gian trung bình nhanh hơn so với những người 20-29 tuổi.

Ở câu lạc bộ ba môn phối hợp lớn nhất Việt Nam, Vietnam Triathlon Club, hiện có hơn 3.000 thành viên, số lượng người trên 40 tuổi chiếm quá nửa. Các phong trào thể thao sức bền (endurance sports) mới phát triển gần đây ở Việt Nam nhưng những yếu tố về nhân khẩu học cũng không khác thế giới, lứa tuổi 40-49 vẫn là nhóm tham gia đông nhất.

Đối với một số người, cuộc khủng hoảng giữa cuộc đời nảy sinh từ nỗi sợ rằng những điểm yếu đã đeo bám không chỉ là những thách thức tạm thời, mà là một phần vĩnh viễn của con người mình. Cơ hội để đối mặt với những điểm yếu đó, nhận diện và đương đầu với nỗi sợ hãi là lợi ích chính của Ultra marathon, Crossfit, Ironman hay bất kỳ môn thể thao sức bền nào khác mà những trung niên này hướng đến.

ĐỐI DIỆN NHỮNG RỦI RO MỚI

Trong “Báo cáo hạnh phúc thế giới 2019” (“World Happiness Report 2019”) được Mạng lưới giải pháp phát triển bền vững của Liên Hiệp Quốc công bố tháng 3-2019 cho thấy đã năm thứ ba liên tiếp, Hoa Kỳ bị tụt hạng trong bảng xếp hạng hạnh phúc này.

Giáo sư Jeffrey Sachs của ĐH Columbia giải thích trong một báo cáo, rằng “xã hội nghiện hàng loạt” (“mass-addiction society”) Mỹ là động lực chính của sự không hạnh phúc này. Ông trích dẫn các chứng nghiện truyền thống, như rượu hoặc thuốc phiện, nhưng cũng nhấn mạnh những chứng nghiện khá đặc thù khác, bao gồm tập thể dục thể thao thái quá và các chế độ ăn kiêng đủ loại.

Hầu hết các chuyên gia đồng ý rằng khi một người theo đuổi việc luyện tập cường độ cao thái quá thì thường gặp những ảnh hưởng nghiêm trọng đến công việc, học tập, các mối quan hệ hoặc tạo ra cảm giác tội lỗi hay xấu hổ. Lúc này họ có những rối loạn về tâm lý. “Nếu nghỉ tập một ngày khiến bạn cảm thấy tồi tệ về bản thân thì đó là một vấn đề” – Hillary Cauthen, một nhà tâm lý học thuộc Hiệp hội Tâm lý học thể thao ứng dụng Hoa Kỳ, kết luận.

Mỗi người đối mặt cuộc khủng hoảng tuổi trung niên theo những cách khác nhau. “Khi bạn đến được đích cách đó 100 dặm (160km), ở đó không còn gì ngoài sự trống rỗng và người ta “chấp nhận thương đau” (embrace the suck) – nhà tâm lý học thể thao Dolores Christensen (ĐH California, Davis) nói.

Cô thực hiện một nghiên cứu về “100 milers” (những người hoàn thành cuộc đua 100 dặm) khi họ trải qua cuộc đua. Tuổi trung bình của những người này là 44. Cô theo dõi cảm xúc, mức độ tự tin của họ qua các giai đoạn khác nhau và nhận thấy: những người chạy bộ có thể chấp nhận nỗi đau của họ, không coi đó là mối đe dọa cho việc hoàn thành cuộc đua. Dường như họ có khoái cảm của những đau đớn, những ngón chân bật máu, chân tay rã rời. “Có một số người thực sự siêu việt về trải nghiệm đó – cô nói – Bằng cách nào đó, điều đó tốt cho chúng ta, vì nó nhắc nhở chúng ta về giới hạn sinh tử của mình”.

Tất nhiên, không có điều gì bắt người ta thúc đẩy bản thân như thế, vì chỉ cần hoạt động thể chất 150 phút mỗi tuần là giúp người ta giữ được sức khỏe. Nhưng từ kinh nghiệm của bản thân và kinh nghiệm của nhiều trung niên mà tôi quen biết, thể thao sức bền khắc nghiệt không tập trung vào việc làm bản thân trẻ lại mà là chú trọng nhiều hơn đến việc xây dựng bản thân trong những năm tới. Nói cách khác, trở nên già một cách tốt hơn. Hoặc nói theo nhà văn H. Murakami: “Hầu hết những người chạy bộ chạy không phải vì họ muốn sống lâu hơn, mà vì họ muốn sống trọn vẹn. Ngay cả khi ta chỉ định sống cho qua ngày đoạn tháng thì vẫn sẽ tốt hơn nhiều nếu sống những năm tháng ấy với những mục đích rõ ràng và sống động trọn vẹn thay vì bối rối hoang mang, và tôi tin rằng chạy bộ giúp ta làm được điều đó” (trích cuốn sách Tôi nói gì khi nói về chạy bộ).

Nhưng việc đẩy xa các giới hạn thể chất của giới trung niên có những rủi ro bất ngờ. Vài năm trước, ông L., người từng tham gia Ironman, đã phải nhập viện trong trạng thái hôn mê do bị sốc nhiệt khi chạy ngoài nắng. Các giải marathon lớn vẫn thường ghi nhận các trường hợp tử vong do quá sức ở người độ tuổi ngoài 40.

Có thể nói rằng những người thực hiện một tinh thần “không bao giờ bỏ cuộc” (never give up), “chấp nhận thương đau” và tìm niềm vui trong các môn thể thao đòi hỏi sức bền này là người theo “Chủ nghĩa duy thể thao” (Athleticism), thậm chí “Chủ nghĩa duy thể thao cực đoan” (Extreme Athleticism).

Khi thể thao trở thành một chủ nghĩa, nó gây những vấn đề khác, trầm trọng không kém. Một số người lúc nào cũng nói về các sự kiện thể thao của mình, dành nhiều thời gian cho tập luyện và bắt đầu bỏ bê các trách nhiệm với gia đình, cơ quan, sự nghiệp. Những vấn đề về chỉ số sức khỏe thể lý như đường huyết, tim mạch, gan, thận được giải quyết ổn thỏa nhưng có khi lại phát sinh những vấn đề tâm lý. Sự chìm đắm trong thể thao và tạm quên lãng những vấn đề liên quan cũng là một biểu hiện mất quân bình về tinh thần.■

Nguồn tham kho: 

1/Extreme Athleticism is the new midlife crisis (Medium.com).

2/http://worldhappiness.report/

3/ 21 bài học thế kỷ 21 – Yuval Harari.

Nhà sử học Yuval Harari cũng cho rằng hai kỹ năng quan trọng nhất của một người trong thế kỷ 21 là khả năng thích nghi với những biến đổi nhanh chóng, khôn lường và khả năng giữ được cân bằng về tinh thần.Những người theo “chủ nghĩa duy thể thao” dường như cố gắng tăng cường các hoạt động thể chất nhằm củng cố các năng lực tư duy để điều hướng trong bối cảnh thế giới mới.Nhưng họ rất cần giữ được sự thăng bằng tâm lý, chú ý đến những hậu quả nghiêm trọng của việc tập luyện thể thao quá mức này.

ĐÀO TRUNG THÀNH – Theo TuoiTre Online

Hoa Diên Vĩ – Iris


Truyền thuyết hoa diên vĩ

Tiếng Hy Lạp, “Iris” có nghĩa là Cầu Vồng. Trong thần thoại Hy Lạp, Iris là tín sứ của thần Zeus và nàng thường xuất hiện dưới hình một chiếc cầu vồng. Nàng là người đưa tin trên đỉnh Olympus, Iris mang thông điệp của các vị thần linh từ “con mắt Thiên Đường” xuống cho nhân loại trên trái đất qua vòng cung cầu vồng rực rỡ. Từ Iris cũng có nghĩa là “con mắt Thiên Đường” (the eye of Heaven). Iris, như ta đã biết, là tên của một nữ thần Hy Lạp, một loài hoa, và nó còn có nghĩa là tròng đen trong con mắt chúng ta. Điều này ngụ ý rằng mỗi chúng ta đều mang trong mình một mảnh của Thiên Đường. Những người đàn ông Hy Lạp thường trồng hoa Diên Vĩ tím trên mộ những người phụ nữ mà họ yêu thương để tỏ lòng tôn kính nữ thần Iris, người mang sứ mệnh dẫn dắt những linh hồn phụ nữ này đến chốn Thiên Đàng (the Elysian fields).

 Diên Vĩ là loài cây lưu niên có thân thảo vươn cao, lá hình lưỡi kiếm và những đóa hoa to nhiều màu sắc với ba cánh và ba đài hoa rũ xuống. Có hơn 200 loài hoa Diên Vĩ xinh đẹp khác nhau với các màu xanh da trời nhạt, tím, vàng, trắng, hồng, cam, nâu đỏ…đa dạng như màu sắc cầu vồng. Hoa Diên Vĩ được xem như sứ giả mang đến những điềm lành, niềm hy vọng. Ba cánh hoa Diên Vĩ đại diện cho lòng Trung Thành, sự Khôn Ngoan và lòng Dũng Cảm. Hoa Diên Vĩ vàng là biểu tượng của ngọn lửa và niềm đam mê.

Hoa Diên Vĩ đã từng được thấy ở sa mạc, đầm lầy hay cả miền Bắc cực Siberia lạnh giá, nhiều nhất vẫn là ở các vùng khí hậu ôn hòa. Hoa Diên Vĩ thường được vẽ trong những bức tranh tĩnh vật, như của các danh họa Vincent van Gogh, Monet…Có nguồn gốc từ vùng Địa Trung Hải và phía Nam Châu Âu, hoa Iris đã từng được những người Hy Lạp cổ đặt trên trán của Nhân Sư và trên vương trượng của đức vua xem như là biểu tượng của quyền lực. Vào năm 1479 trước Công Nguyên, ở Ai Cập, để ghi nhớ chiến công tại Syria, vua Thutmose III đã cho vẽ những bông hoa Diên Vĩ trên bức tường ngôi đền thờ của mình. Nhà thờ La Mã xem hoa Lily là hiện thân của Đức Mẹ Đồng Trinh. Do có ba cánh đặc biệt, fleur-de-lis cũng được làm hình ảnh tượng trưng cho Chúa Ba Ngôi linh thiêng (the Holy Trinity).

 Hoa Diên Vĩ đã là biểu tượng của hoàng gia và sự che chở thần thánh suốt hàng thế kỷ trên khắp thế giới. Loài hoa đầy sức thu hút này được rất nhiều người ngưỡng mộ. Các vị vua chúa nước Pháp đã dùng nó làm biểu tượng hoàng gia và gọi nó là Fleur-de-lis. “Fleur-de-lis” có nguồn gốc từ tên “Fleur-de-Louis”, sau thời vua Louis VII, năm 1147. Theo thời gian, tên đó chuyển thành “Fleur-de-luce”, có nghĩa là hoa của ánh sáng (flower of light), cuối cùng đến ngày nay, nó được gọi là “Fleur-de-Lys”, hay Flower of the Lily (Lily : Hoa Huệ Tây, Loa Kèn, Bách Hợp). Fleur-de-Lis đã là biểu tượng của nước Pháp từ thế kỷ 13. Hoàng gia Pháp trang trí hoa Diên Vĩ trên áo choàng, các đồ vật trong cung điện và trên những bức tường như biểu hiện của sự toàn bích, ánh sáng và cuộc sống. Có nhiều truyền thuyết khác nhau giải thích tại sao hoa Diên Vĩ được chế độ quân chủ Pháp chọn làm biểu tượng . Tương truyền rằng, Clovis, vua nước Pháp triều đại Mêrôvê khi đối mặt với đội quân thiện chiến của Alamanni (Đức) đến xâm chiếm vương quốc mình, ông đã nói với hoàng hậu Clotida rằng ông sẽ theo đạo và chịu rửa tội nếu như Chúa phù hộ ông đánh thắng trận đấu này (trước đó hoàng hậu đã nhiều lần khuyên chồng mình vào đạo nhưng ông vẫn không nghe). Cuối cùng, ông thắng thật và nhận fleur-de-lis làm biểu tượng. Tiếp đó, vào thế kỷ 12, vua Louis trở thành hoàng đế nước Pháp đầu tiên khắc họa hoa Diên Vĩ trên chiếc khiên của mình. Nữ anh hùng nước Pháp, Joan of Arc (Jeanne d’Arc) đã mang theo lá cờ trắng có biểu tượng Chúa hộ mệnh của hoàng gia (hoa Diên Vĩ ) khi bà đánh bại quân Anh tại Orléans (1429).

Ở Nhật, hoa Diên Vĩ tượng trưng cho chí khí anh hùng và dòng dõi quý phái. Hoa Diên Vĩ là một phần quan trọng trong lễ hội mùa xuân dành cho các bé trai. 

Được xem như một loài hoa thiêng, người ta tin rằng hoa Diên Vĩ có khả năng chữa bệnh và đã được dùng làm thuốc từ thời xa xưa. Vào thế kỷ đâu tiên sau Công Nguyên, vị y sĩ Hy Lạp Dioscorides đã đưa ra bài thuốc dùng rễ cây hoa Diên Vĩ uống với mật ong, giấm hay rượu vang để chữa ho, cảm lạnh, khó tiêu và chứng đau thần kinh tọa. Rễ cây hoa Diên Vĩ cũng được dùng để tạo hương thơm.

Bên cạnh đó, Diên Vĩ còn được trồng làm cảnh, chế nước uống và nước hoa.

Các nhà khoa học đã cho rằng, có thể lai tạo nhiều loại Diên Vĩ cho lá, hoa và dáng đẹp hơn cả những chiếc cầu vồng. Đến nay, sau nhiều lần thử nghiệm, họ đã tạo được loại Diên Vĩ râu quai nón cao có cánh chuẩn mầu đỏ thật.

Phần lớn các loài đều nở vào hè – thu, và nhiều lần trong năm, riêng loài thân lùn nở vào xuân. Trên thế giới và ở nước ta, hàng năm đều mở hội hoa Diên Vĩ, tổ chức thi và tặng huy chương cho những bông hoa Diên Vĩ đẹp nhất.

Kết quả hình ảnh cho hoa diên vĩ

Ý nghĩa : Lòng trung thành, sự khôn ngoan, lòng dũng cảm, niềm hy vọng.

Hoa Diên vĩ, tên tiếng Việt : Hoa Bướm, Păng-xê, Tử La Lan

Tên tiếng Anh : Pansy

Tên tiếng Pháp : Pensée

Tên Latin : Violatricolor

Biệt danh : “Heartsease” – Sự thanh thản

Biểu tượng : Vật kỷ niệm

Ý nghĩa : Tương tư

Thông điệp : Nhớ về em (Thinking of You); Người đã chiếm giữ mọi ý nghĩ của tôi

Người ta thường gởi loài hoa này đến những người gần gũi và thân thiết nhất để nhắc nhớ đến nhau. Loài hoa này có những cánh phẳng xòe rộng, mượt mà như nhung, với nhiều màu sắc rực rỡ. Ngày nay, hoa Bướm thường được trồng trông vườn xuất xứ từ loài hoa Pansy dại, mà thi hào Shakespeare từng gọi ” Tình yêu vu vơ”. Người đời đã yêu mến đặc cho loài hoa này nhiều biệt danh khác nhau, nhưng nổi bật nhất có lẽ là Thanh Thản ( Heartsease), bởi vì người ta tin rằng nếu bạn luôn giữ bên mình những cánh hoa này thì bạn sẽ chắc chắn nhận được tình yêu của người mình yêu… (chắc mình sẻ chạy ngay đi tìm hoa này để trong mình mới được)

Gửi tặng em hoa Păng-xê tươi trẻ

Vàng như ánh dương, tím tựa trời đêm

Kỷ niệm ùa về khúc hát dịu êm

Bằng ánh sáng rõ ràng và dào dạt

Những giấc mơ hoang những ngày tẻ nhạt

Tiếc núi vô bờ hoài niệm khôn nguôi

Với Păng-xê xin được nói cùng người

Hoa thanh thản một trái tim thi sĩ

Hoa khơi gợi một hướng về suy nghĩ

Hãy nhận và trao yêu quý ngọt ngào

Đặc điểm cây Hoa Diên Vĩ

Cây diên vĩ thuộc loại cây thân thảo, chiều cao khoảng  30 – 70cm, sống lâu năm. Diên vĩ có tên khoa học là Iris có nguồn gốc từ nam Châu Âu và địa trung hải. Hoa Diên Vĩ đã từng được thấy ở sa mạc, đầm lầy hay cả miền Bắc cực Siberia lạnh giá, nhiều nhất vẫn là ở các vùng khí hậu ôn hòa.

Thân cây thấp có lá vươn cao, hình dáng diên vĩ hơi giống cây rẻ quạt ở nước ta. Lá cây diên vĩ hình lưỡi kiếm, xanh quanh năm. Hoa diên vĩ rất đẹp, thu hút và ấn tượng ,nhiều màu sắc với ba cánh và ba đài hoa cong cong hình chuông cách điệu . Hiện nay trên thế giới có hàng trăm loài hoa Diên Vĩ xinh đẹp khác nhau với các màu xanh da trời nhạt, , hồng, cam,tím, vàng, trắng nâu đỏ… hoặc phối trộn hài hòa đa dạng các màu sắc như màu sắc cầu vồng…Hiện nay diên vĩ càng phong phú và độc đáo lạ mắt hơn vì được các nhà khoa học đầu tư lai tạo.

Hoa diên vĩ đa phần nở vào mùa hè, thu, có loại thân thấp nở vào mùa xuân, nhiều loại nở nhiều lần quanh năm

Cách trồng chăm sóc cây diên vỹ

Cây diên vỹ khỏe mạnh, khá dễ trồng, dễ chăm, chịu bóng bán phần, chịu hạn và cũng chịu úng được.

Đất trồng phù hợp với cây diên vỹ là loại đất tơi xốp,  giàu chất dinh dưỡng.

hoa-dien-vi-5-1

Cây ưa ẩm nên thường xuyên tưới nước đầy đủ cho cây, nên tưới vào sáng sớm hoặc chiều mát để tránh sốc nhiệt.

Hàng tháng nên bón phân nhả chậm hoặc phân hữu cơ lượng vừa phải khi trồng chậu, nếu trồng dưới đất không phải chăm bón nhiều vì nó cũng giống như cây rẻ quạt. Cắt tỉa lá già úa để tăng cường dinh dưỡng nuôi cây.

Bệnh thường gặp của cây diên vĩ là sâu đục thân, chúng ta nên thường xuyên kiếm tra để hạn chế sâu bệnh gây hại, tránh lây lan trên diện rộng.

Sưu tầm nhiều nguồn khác nhau trên internet.

4 GIẢI MARATHON THÂN THIỆN VỚI MÔI TRƯỜNG


Chạy bộ là hình thức di chuyển cực kỳ thân thiện với môi trường, tuy nhiên không phải giải chạy nào cũng đặt vấn đề bảo vệ môi trường làm ưu tiên. Chúng ta hãy cùng xem các giải chạy “nhà người ta” đã có những sáng kiến nào để trở nên “xanh” hơn nhé 🌳🌳🌳

#1 – SHELBY FARMS GREENLINE HALF MARATHON

Shelby Farms

#2 – PORTLAND MARATHON

Portland marathon

#3 – HARTFORD MARATHON

Hartford marathon

#4 – AUSTIN MARATHON

Austin marathon

Nguồn: Earth911.com
Biên tập bởi: The Running Hub

View original post

Bốn tâm vô lượng


Chúng ta thường nghe quen tai và nói quen miệng bốn tiếng “từ bi hỷ xả”. Nhưng chính vì “quen” quá mà chúng ta không để ý phân tách ý nghĩa sâu xa của nó. Bốn đức tánh ấy có một sự tương quan mật thiết và bổ túc cho nhau, thiếu một không được.

Ðứng về phương diện tuyệt đối, hay chơn như môn, thì tâm của chúng sinh hay tâm của Phật cũng vẫn là một, không có rộng hẹp, thấp cao, sai khác, ngăn cách. 

Nhưng đứng về phương diện tương đối hay sinh diệt môn, thì tâm có muôn hình vạn trạng, tùy theo chủng tánh của chúng sinh mà có cao thấp, rộng hẹp không đồng. Hễ nghĩ đến tham, sân, si, mạn v.v… thì tâm trở thành nhỏ hẹp, lớn bé, ngàn sai, muôn khác,cũng như cùng một thứ bột mà do người thợ làm bánh, khéo hay vụng mà có bánh ngon, bánh dở, bánh tốt, bánh xấu, bánh lạt, bánh mặn v.v…

Cho nên Tôn Cảnh Lục có chép: ” Tâm tạo chư Phật, tâm tạo chúng sinh, tâm tạo thiên đường, tâm tạo địa ngục. Tâm vọng động thì ngàn sự sai biệt tranh khởi, tâm bình thì thế giới thản nhiên, tâm phàm thì ba món độc trói buộc, tâm thánh thì sáu món thần thông tự tại, tâm không thì nhứt đạo thanh tịnh, tâm hữu thì vạn cảnh tung hoành. Tự mình đạp mây mà uống nước cam lồ, chẳng có ai cho mình. Nằm trong lửa hừng mà uống máu mủ cũng tự mình gây nê, không phải trời sanh ra, cũng không phải do đất mà có “. 

Xem thế thì cũng đủ biết tâm là động lực chính để làm cho ta sướng hay khổ, vui hay buồn, trầm luân hay giải thoát. Vậy muốn thoát khỏi khổ sanh tử luân hồi, muốn được quả vị thánh nhân, Bồ Tát, chúng ta cần trau dồi cho được một tâm vô cùng rộng lớn, một vô lượng tâm.

I. Ðịnh nghĩa 

Vô lượng là gì?
Vô lượng nghĩa là nhiều, rộng lớn, không thể lường tính được. Tâm vô lượng là tâm vô cùng rộng lớn thoát ra khỏi sự ràng buộc của các thứ phiền não đê hèn của phàm phu, phá vỡ được các thứ quan niệm chấp trước hẹp hòi của Nhị thừa, là tâm có một vùng thương yêu rộng lớn có thể bao trùm đến vô lượng chúng sinh, và tìm phương cứu cho tất cả.

Vô lượng tâm cũng có nghĩa là “Ðẳng tâm”, cái tâm bình đẳng, phổ biến; bình đẳng, vì tâm này chỉ tự nhiên, không phân biệt so đo thấp cao, hơn kém; phổ biến, bởi nó trang trải mọi nơi chẳng khu biệt, giới hạn. Và dĩ nhiên, nhân nào quả nấy: do thi hành bình đẳng, phổ lợi cho vô lượng chúng sinh, nên chi tâm này có công năng dẫn sinh vô lượng phước đức, làm cho sự kiện căn bản để cảm thành vô lượng quả báo tốt đẹp, ấy là quả vị Bồ tát và Phật đà.

Hơn nữa, tâm này không những làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh, dẫn sinh vô lượng phước đức, và tạo thành vô lượng quả vị tốt đẹp trong một thế giới và trong một đời, mà còn lan rộng ra đến vô lượng thế giới trong vô lượng kiếp sau này, và tạo thành vô lượng chư Phật. Tóm lại, chữ vô lượng ở đây hàm nhiều nghĩa, vô lượng nhân lành, vô lượng quả đẹp, vô lượng chúng sinh, vô lượng thế giới, vô lượng đời kiếp, vô lượng chư Phật và Bồ Tát. 

II. Thành phần và hành tướng của bốn món tâm vô lượng  

Tâm vô lượng gồm có bốn phần là: bi vô lượng, từ vô lượng, hỷ vô lượng và xả vô lượng.

1. Bi vô lượng.

Bi là lòng thường xót rộng lớn trước những nỗi đau khổ của chúng sinh và quyết tâm làm cho dứt trừ những đau khổ ấy. Nhưng chúng ta đã học trong khóa thứ ba nói về Tứ đế, cái khổ của chúng sinh thật là mênh mông, rộng lớn không thể nói hết. Nó bao trùm cả nhân lẫn quả, cả thời gian lẫn không gian, cả phàm lẫn thánh, thật đúng là vô lượng khổ. 

Khổ nằm trong nhân. Trong các kinh điển thường có câu: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả”. Chúng sinh vì không sáng suốt cho nên chỉ khi nào quả khổ hiện ra mới lo sợ, chứ trong khi đang gây nhân thì lại không nhận thấy, mà vẫn cứ thản nhiên như không. Họ đang sống trong cảnh khổ mà họ không biết, nhiều khi lại là cho vui.

Họ hoan hô tán thán và khuyến khích nhau gây khổ mà cứ tưởng là vui, như những đứa trẻ quẹt diêm quăng lên mái nhà lá, rồi vỗ tay reo mừng với nhau. Vì thiếu sáng suốt cho nên đôi khi họ gây khổ để cứu khổ, chẳng khác gì làm cho đỡ khát bằng cách uống nước mặn. 

Khổ nằm trong quả. Ðã gây nhân xấu, thì tất phải chịu quả khổ, đó là lẽ tất nhiên. Có ai trồng khoai mà được đậu bao giờ? Thế mà người đời ít ai chịu công nhận như thế. Người ta oán trời trách đất, rên khóc thảm thiết, làm cho cõi đời đã đen tối lại càng đen tối thêm, cuộc sống đã khổ sở lại càng khổ sở thêm. 

Khổ sở bao trùm cả thời gian. Từ vô thỉ đến nay, cái khổ chưa bao giờ dứt, mà cứ chồng thêm lên mãi. Nó gây nhân rồi lại kết quả, kết quả rồi lại gây nhân, cứ thế tiếp tục mãi trong một vòng luẩn quẩn, như bánh xe lăn tròn trên đường thiên lý, không bao giờ dừng nghỉ. 

Khổ bao trùm cả không gian. Cái khổ không có phương sở và quốc độ; ở đâu có vô minh thì ở đó có khổ! Mà vô minh thì như một tấm màn vô tận, bao trùm không chỉ một thế giới khác nữa. Khoảng không gian mênh mông vô tận như thế nào, thì nỗi khổ đau cũng mênh mông vô tận như thế ấy.

Khổ chi phối cả phàm lẫn thánh. Chúng sinh ở địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đã đành là khổ vô cùng, loài người vì say đắm dục lạc, và tham sân si chi phối, nên cũng quay cuồng lặn hụp trong biển khổ; còn chư thiên mặc dù không khổ như người, nhưng cũng không tránh được cái khổ vì ngũ suy tướng hiện. 

Cho đến các hàng thánh như Thanh Văn, Duyên giác, vì còn mê pháp, trụ trước Niết Bàn, nên cũng không tránh khỏi nỗi khổ biến dịch sanh tử. Xem thế đủ biết nõi khổ thật là lớn lao vô lượng. Có được một lòng thương xót lớn lao vô lượng cân xứng với nỗi đau khổ vô lượng và có một chi nguyện cứu độ tất cả thoát khỏi nỗi đau khổ vô lượng, ấy là tâm Bi vô lượng. 

Các vị Bồ Tát nhờ có lòng đại bi nên đã phát tâm bồ đề rộng lớn, thệ nguyện độ khắp tất cả. Các Ngài nhận thấy mình có sứ mạng vào trong sanh tử để hóa độ chúng sinh, nên không chấp trệ ở Niết Bàn. Sứ mạng chính của các Ngài là gần gũi chúng sanh để: 

Làm cho chúng sanh nhận được mặt thật của cõi đời, rõ thế nào là tà là chánh, là khổ là vui. 

Làm cho chúng sanh nhận rõ được thân phận của mình mà thôi làm các điều ác, chừa các điều tội lỗi.

Xem như thế đủ biết lòng đại bi chính là động lực chánh để đi đến quả vi Bồ tát và Phật. Trong đại hội Hoa Nghiêm đức Bồ tát Phổ Hiền cũng tự nhận và nói như thế này: “Nhơn vì chúng sanh mà khởi lòng đại bi. Nhơn lòng đại bi mà phát tâm bồ đề. Nhơn phát tâm bồ đề tiến thành ngôi chánh giác”. 

Câu nói của Ngài Phổ Hiền đã rõ ràng, không còn nghi ngờ gì nữa. Phật đã dạy: “Hạt giống Bồ đề, không thể gieo trên hư không, chỉ trồng trên đất chúng sinh mà thôi”. Vậy, chúng ta là Phật tử, muốn tu bồ tát hạnh, tất phải mở rộng lòng Bi, thương xót tất cả, không phân chia nhân, ngã, bỉ, thử, và phải phát nguyện độ khắp tất cả, nghĩa là phải tu luyện cho có được một lòng Bi vô lượng.

2. Từ vô lượng.

Từ là mến thương và vì mến thương mà gây tạo cái vui cho người. Từ vô lượng là lòng mến thương vô cùng rộng lớn, đối với toàn thể chúng sanh, và gây tạo cho chúng sanh cái vui chân thật. 

Vui của thế gian sở dĩ gọi là giả tạm, vì cái vui ấy không bền, cái vui ấy còn phiền não chi phối: khi tham, sân, si, mạn được thỏa mãn thì vui, nhưng có bao giờ những thứ dục vọng ấy có thể thỏa mãn được hoàn toàn và lâu bền đâu? 

Còn vui xuất thế gian là cái vui chân thật, vì nó lâu bền, thoát ra ngoài vòng phiền não của tham, sân, si, mạn; nó không bị dục vọng chi phối. Cái vui này không ồn ào, sôi nổi nhưng vĩnh viễn nhẹ nhàng, vì là cái vui của cảnh giới giải thoát siêu phàm. 

Muốn có được cái vui này, thì trước tiên phải dứt trừ cho hết các khổ do phiền não gây ra. Nếu không ngăn chặn được tham,sân, si hoành hành, thì chỉ có thể có được mọt cái vui nhất thời giả dối. 

Bởi thế, các vị Bồ Tát muốn ban vui cho chúng sanh, thì trước tiên phải có lòng từ bi vô lượng như đã nói trên, để luôn luôn nhắc nhở chúng sanh đừng gây tội dìu dắt chúng sanh tránh xa những hố hầm nguy hiểm. 

Qua các giai đoạn đầu tiên ấy rồi, các Ngài mới hướng dẫn chúng sanh đi lên con đường quang minh chánh đại, con đường sáng để tiến đến địa vị giải thoát mà hưởng cái vui vĩnh viễn. Nói một cách rõ ràng hơn là lòng Từ phải đi theo lòng Bi: Bi để chỉ nguyên nhân của đau khổ và khuyên bảo chúng sanh đừng gây nhân khổ; Từ để chỉ rõ phương pháp diệt khổ và được vui. 

Tỷ dụ Bồ Tát muốn cho chúng sanh hưởng cảnh Niết Bàn, thì trước hết các Ngài chỉ cho biết thế nào là khổ (khổ đế) và đâu là nhơn của khổ (tập đế), sau mới chỉ cho thấy cái vui Niết Bàn như thế nào (diệt đế). Nếu chúng sanh y theo lời dạy của các Ngài mà thi hành, thì cái vui Niết Bàn sẽ xuất hiện. Như thế, động lực dạy cho chúng sanh biết khổ đế và tập đế là Bi, còn động lực dạy cho chúng sanh biết diệt và đạo đế là Từ. 

Nhưng nỗi khổ của chúng sanh đã là vô lượng, lòng Bi đã là vô lượng, thì lòng Từ cũng phải như thế. Muốn thành tựu tâm Từ này, Bồ Tát phải dùng đủ phương tiện để làm lợi lạc cho chúng sanh. Tựu trung có hai điểm quan trọng sau đây mà Bồ Tát không thể bỏ qua trong khi hóa độ chúng sanh là: Tùy cơ và tùy thời.

Tùy cơ: Nghĩa là quan sát trình độ căn bản của chúng sanh như thế nào rồi tùy theo đó mà dạy bảo. Tâm bệnh của chúng sanh vô lượng, nên thuốc pháp của Bồ Tát cũng vô lượng. Nhưng chính vì bệnh vô lượng mà thuốc cũng vô lượng nên cho thuốc đúng với bệnh là một điều mà chỉ có các vi lương y đại tài như Hoa Ðà, Biển Thước mới làm được. 

Các vị bồ tát sở dĩ hóa độ được nhiều chúng sanh là nhờ, ngoài trí huệ sáng suốt, còn có một tâm Từ vô lượng, không quản khó khăn, không ngaị gian nguy, một lòng kiên nhẫn vô biên như lòng kiên nhẫn của người mẹ đối với người con, quyết tâm tác thành cho con nên người mới thôi. Nếu không có được trí huệ, chí kiên nhẫn và nhất là lòng từ bi vô lượng như các vị bồ tát thì kho tránh khỏi cái nạn thối chuyển vì trần sa hoặc. 

Dưới đây là một đoạn văn chương trong Kinh Hoa Nghiêm có thể chứng minh một cách hùng hồn lòng Từ vô lượng của đức Phổ hiền: 

“…Hằng thuận chúng sanh là như thế nào? Nghĩa là có bao nhiêu chúng sanh ở cõi nước mười phương trong cả pháp giới, hư không giới…tôi đều tùy thuận mà chuyển mọi thứ thừa sự, mọi cách cúng dường, như kình cha mẹ, như phụng sự sư trưởng và A La Hán cho đến bực như lai đều đồng không khác.
 
Với kẻ bịnh khổ thì làm lương y cho họ, với kẻ lạc đường, chỉ lối thẳng cho họ, với kẻ trong đêm tối, làm cho họ được sáng lên và với kẻ nghèo cùng, khiến cho họ được gặp của…Bồ Tát làm lợi ích bình đẳng với tất cả chúng sanh như thế là vì bồ tát nhận thấy rằng tùy thuận chúng sanh tức là tùy thuận cúng dường chư Phật nên tôn trọng thừa sự chúng sanh tức là tôn trọng thừa sự Như lai..”.


Tùy thời. Tức là thích ứng với thời đại với giai đoạn mà hóa độ chúng sanh. Thời gian xoay vần cuộc thế biến chuyển mỗi khi một khác. Thời tiết có khi mưa, khi nắng, thay đổi theo bốn mùa, thì lòng người cũng có khi thích cái này khi ưa cái khác. Nếu phương pháp hóa độ không biến chuyển, không thay đổi để cho thích nghi với hoàn cảnh, với giai đoạn thì phương pháp dù hay ho bao nhiêu, cũng chẳng thu được kết quả gì tốt đẹp. Bồ Tát hiểu rõ như thế, nên khi dạy chúng sanh cũng phải theo thời thế, biết khi nào là tượng pháp, khi nào mạt pháp để cho giáo pháp được thích hợp với căn cơ. 

Tóm lại, muốn hóa độ chúng sanh một cách có hiệu qủa thì Bồ Tát bao giờ cũng không quên hai điều chính là tùy cơ và tùy thời. Kinh “Tâm Ðịa Quán” cũng có dạy: 

” Các đức Phật chuyển pháp luân, vẫn tùy cơ mà nói pháp, bao giờ cũng tránh bốn điều sai lạc; một là nói không phải chỗ; hai là nói không phải thời; ba là nói không phải là căn cơ; bốn là nói không phải pháp”

Bởi những lẽ trên nên Bồ Tát trong lúc hóa độ khi thì hiện thân, khi thì ẩn thân lúc làm thuận hạnh, lúc lại nghịch hạnh, khi dùng oai dũng, lúc lại từ hòa. Công hạnh của bồ tát sai khác nhiều đến vô lượng, nhưng chỉ phát sinh từ một ý duy nhất là tạo cái vui chân thật cho chúng sanh. 

Nên nhớ “tạo cái vui chân thật” ở đây, không có nghĩa là tạo ra cảnh giới thiên đàng hay cảnh giới cực lạc để cho những chúng sanh thân yêu của mình vào hưởng, như người ta ban phép lạ, mà chỉ có nghĩa là tạo cho chúng sanh cái mầm an vui chân thật bằng cách thức tỉnh dắt dẫn chúng sinh tránh các điều dữ làm các điều lành một cách tích cực mạnh mẽ, cho đến khi cái mầm vui, các hành động lành ấy mà kết quả vui mới thôi. 

Ðấy, lòng Từ vô lượng là thế. Như trên đã nói Từ phải đi theo với Bi. Nếu chỉ có Bi không, thì đại nguyện của Bồ tát chưa thành, vì mới chỉ cứu hkổ, chứ chưa ban vui. Chúng ta là Phật tử, muốn tu hạnh Bồ Tát phải luyện tập cho lòng Từ mở rộng, mở rộng mãi cho đến vô lượng vô biên. 

3. Hỷ vô lượng.

Hỷ là gì? Nói cho đúng là tùy hỷ, nghĩa là “vui theo”. “Vui theo” có nhiều cách: Phóng tâm vui theo những cảnh trần: nào sắc, nào thanh, nào hương, nào vị, nào xúc, nào pháp… để mặc cho nó làm chủ, không biết phản giác, không biết tỉnh ngộ mà dẹp trừ những hiện hành phiền não, ấy là vui theo dục vọng, theo thói quen phóng túng của lòng phàm. Vui theo ác nghiệp, như khi thấy một người sát sanh, uống rượu, trộm cướp… đáng lẽ ta nên khuyên can mà lại không, còn bằng lòng theo họ đi vào con đường ác. Sự vui theo ở đây có nghĩa là khuyến khích đồng lỏa với kẻ ác vậy. 

Vui theo những việc nhân từ phước thiện, như khi thấy người đem của ra bố thí, lập nhà thương, ta tán thành, giúp đỡ vui theo với công việc của họ. Sự vui theo này là một bước tiến đi đến con đường thiện nghiệp. Tuy thế, ta nên phân biệt hai trường hợp tốt sẽ được nhiều phước báo, còn nếu không vì lòng thiện, nhưng vì thấy người làm thiện được người ta ca tụng, danh tiếng vang lừng mà mình cùng hùa theo tán thành, giúp đỡ để được tiếng khen lây, thì không khéo chỉ gây thêm ngã ái ngã mạn. 

Khác với những lối vui trên, là những lối vui tầm thường của thế gian, hàng Nhị thừa chỉ vui theo cảnh giới Niết Bàn tịch tịnh. Thứ vui theo này, tuy không có tánh cách trụy lạc ác độc, nhưng theo chánh giáo, thì cũng còn hẹp hòi, thiếu lòng Từ bi rộng rãi và chưa phải đúng nghĩa “hỷ” vô lượng tâm. Ðức Phật còn quở đó là cái vui “Khôi thân diệt trí” hay “thu tịch Niết Bàn”.

Chỉ có sự “vui theo” sau đây của Bồ Tát mới đúng với nghĩa tâm Hỷ vô lượng. Trong khi thực hành phương tiện Từ bi để độ sinh và sau khi công hạnh này được kết quả, nhận thấy chúng sinh hết khổ, hưởng vui, tâm của Bồ Tát tự nhiên cũng vui theo. Trong luận Ðại Thừa Trang nghiêm Ngài Trần Na Bồ Tát dạy rằng: “Sự vui này còn nhiều gấp bội sự vui của chúng sinh được hưởng”. Bồ tát còn xác nhận rằng: “Nếu làm chúng sinh được vui, tức làm cho tất cả chư Phật được vui mừng”. Ðó là lời nói của đức Phổ Hiền. 

Nên nhớ cái “Hỷ” của bồ tát có những đặc điểm sau đây: Chẳng những không làm cho chúng sinh mê lầm mà còn giác ngộ cái mê và được giải thoát. Không còn bị buộc trong vòng vui tự đắc làm tăng trưởng ngã mạn, chấp trước ở thế gian, mà trái lại, làm cho chúng sinh xuất thế. 

Thoát ra khỏi phạm vi tư lợi mà phổ biến và bình đẳng đối với tất cả chúng sinh. Tóm lại, sự vui ở đây bắt nguồn từ lòng Từ bi mà phát ra. Lòng Từ bi rộng lớn bao nhiêu thì cái “hỷ” này cũng rộng lớn như thế. 

Chúng ta là Phật tử, tu hạnh Bồ tát, chúng ta phải tập cho được cái vui trong sạch, giải thoát của các vị bồ tát, chứ đừng quay cuồng theo cái vui nhiễm ô ích kỷ, hẹp hòi của phàm phu hay hàng Nhị thừa. 

4. Xả vô lượng.

Xả là cái gì? Xả là bỏ, không chấp không kể. 

Thói thường, khi chúng ta làm điều gì, nhất là khi được kết quả tốt, thì ta hay tự hào, đắc chí đôi khi ngạo nghễ khó chịu. Sự bất bình, cãi vã xung đột giữa bạn bè thân thuộc hay giữa nhóm này và nhóm khác cũng do tánh chấp trước, tự cho là quan trọng ấy. Nguyên nhân của tánh nầy là do sự chấp ngã, chấp pháp mà ra. 

Phàm phu thì vừa thấy có mình làm (chấp ngã) vừa thấy có công việc kết quả mình đạt được (chấp pháp) nên cứ bị trói buộc trong cái giới hạn phân chia nhân ngã, bỉ thử và do đó, không bao giờ thoát được cảnh giới phàm phu. 

Còn hàng Nhị thừa tuy đã xả được chấp ngã, nhưng chưa xả được chấp pháp. Sau khi nhờ tu tập, các Ngài thoát ly được tam giới chứng được quả Hữu dư y Niết Bàn, các Ngài coi như đó là phần thưởng xứng đáng của bao công phu tu tập và yên trí nơi cảnh giới sở đắc ấy. Do đó, hàng Nhị thừa vẫn còn bị biến dịch sanh tử. 

Chỉ có các vị Bồ tát là những bậc chứng được pháp không, nên đã ly khai quan niệm pháp chấp. Khi các Ngài ra công cứu khổ cho chúng sinh, thì đó là một sự cảm ứng tự nhiên, giữa các Ngài với chúng sinh, các Ngài dùng trí hoàn toàn vô phân biệt để được bình đẳng phổ biến theo đồng thể đại bi. 

Chúng sinh có hưởng được vui chăng, Bồ tát không thấy mình là kẻ ân nhân chủ động. Trái lại, các Ngài còn thấy chúng sinh là ân nhân của mình trên bước đường lợi tha tiến đến công hạnh viên mãn. Bởi thế, lòng Từ, lòng Bi của Bồ tát thoát khỏi vòng ái kiến và trụ trước, túc là xả vậy. Ðến như lòng “Hỷ” cũng thế, Bồ tát vui lòng từ bi, thấy chúng sinh được vui chứ không phải lối vui tự đắc, vui vì thàh thật tán thán công đức chung cùng chư Phật, chư Bồ tát và chúng sinh, chứ không phải vui vì dắm miếng riêng tư. Cho nên tâm tùy hỷ đây cũng hoàn toàn giải thoát, nghĩa là cũng thanh tịnh trên tinh thần “Xả”

Như vậy, Xả là một tâm lượng quảng đại cao cả, ở đó, không kiến lập một tướng nào. Kẻ gần người xa đeù bình đẳng, kẻ trí người ngu vẫn như nhau, mình và người không khác; làm tất cả mà thấy như không làm gì cả; nói mà thấy mình có nói gì cả, chứng mà không thấy mình có chứng và quả gì được.

Cho nên trong kinh Tú thập nhị chương có chép “Niệm mà không chấp nơi niệm mới là niệm, hành mà không chấp nơi hành là hành, nói mà không chấp nơi nói mới là nói, tu mà không chấp nơi tu mới là tu. Lý hội nghĩa ấy là gần đạo, mê mờ không rõ là xa đạo”.

Làm như thế tức là Xả: Xả hết tất cả mới thật là Bồ tát. Nếu còn chấp một tướng gì, dù nhỏ nhặt bao nhiêu cũng chưa phải là Bồ tát. Hãy nghe trong kinh Kim Cang Phật dạy ông Tu Bồ Ðề. “Này ông Tu Bồ Ðề, nếu có vị Bồ Tát còn tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sinh, tướng thọ giả, tức chẳng phải là Bồ Tát”. 

Ý nghĩa chữ Xả đã rõ ràng. Bây giờ chúng ta chỉ còn cố gắng tu tập dần dần cho được cái tâm xả ấy. Thành tựu được cái Xả một cách hoàn toàn cái Xả vô lượng tức là chứng quả Bồ đề. 

III. Sự đối trị của bốn món tâm vô lượng  

Bốn món tâm vô lượng là bốn trạng thái của Tâm Bồ Tát, nhưng đó cũng là bốn pháp tu của những Phật tử tu hạnh Bồ tát. 

Trong mỗi con người đều có hai xu hướng: xu hướng thiện và xu hướng ác. Hai xu hướng này cứ xung đột nhau luôn: hễ thiện thắng thì ác lùi, hễ ác thắng thì thiện lùi. 

Khi lòng giận hừng hẩy, thì tâm Bi bị lấn. 
Khi lòng sân bừng dậy, thì tâm Từ bị che khuất. 
Khi ưu não dẫy đầy, thì tâm Hỷ không phát hiện. 
Khi lòng ái dục còn nặng nề, thì tâm Xả không sanh. 


Trái lại, khi tâm Bi lớn mạnh, thì lòng Hận phải yếu mòn. 
Khi tâm từ lan rộng, thì lòng sân phải lùi. 
Khi tâm hỷ bừng lên, thì lòng ưu não phải dẹp xuống. 
Khi tâm xả đủ đầy, thì lòng ái dục phải dập tắt.

Sự chiến đấu với phiền não cũng như sự chiến đấu với giặc cướp, phải tiếp tục mãi cho đến khi toàn thắng mới dừng lại. Nếu chúng ta mới chiến thắng vài ba trận đã vội thỏa mãn và dừng nghỉ, thì giặp cướp sẽ tai phát và hoành hành trở lại. 

Cũng thế, trong trận chiến đấu của Từ, Bi, Hỷ, Xả chống sân, hận, ưu, dục chúng ta phải tiếp tục thi hành cho đến toàn thắng, nghĩa là bành trướng các đức từ, bi, hỷ, xả cho đến vô cùng tận để sân, hận, ưu, dục hoàn toàn bị tiêu diệt mới thôi. Một khi bóng tối đang còn, là vì ánh sáng chưa mạnh, muốn bóng tối hoàn toàn tiêu tan, thì ánh sáng phải đủ sức chiếu soi cùng khắp. Khi từ bi, hỷ xả, đã trở thành vô lượng thì phiền não sẽ không còn và hành giả đạt đến quả vị Bồ tát. Ðó là ý nghĩa “phiền não tức là Bồ đề” mà Ngài Bồ tát Trần Na đã dạy trong Luận Ðại Thừa Trang Nghiêm. 

IV. Kết luận

Chúng ta thường nghe quen tai và nói quen miệng bốn tiếng “từ bi hỷ xả”. Nhưng chính vì “quen” quá mà chúng ta không để ý phân tách ý nghĩa sâu xa của nó. Bốn đức tánh ấy có một sự tương quan mật thiết và bổ túc cho nhau, thiếu một không được. 

Vì thấy chúng sinh vô cùng khổ sở, nên thương xót chúng sinh. Vì thương xót chúng sinh nên ra tay cứu chúng sinh khỏi khổ (Bi). Cứu chúng sinh khỏi khổ cũng chưa phải làm xong nhiệm vụ của tình thương, nên cần phải tiếp tục làm cho chúng sinh được vui (Từ). Khi chúng sinh hết khổ được vui, mình mới vui được (Hỷ).

Nhưng nếu cái vui này mà còn vướng ngã mạn, tự đắc vì tự cho mình đã thành tựu những công hạnh lớn lao, thì cái vui ấy trở thành ái dục, dơ bẩn nặng nề, kéo hành giả xuống hàng phàm phu. Vậy cái vui ấy cần phải là một thứ vui trong sạch, hoàn toàn xa lìa các thứ chấp trước như nhân, ngã, bỉ, thử, chúng sinh, Bồ tát...(Xả).

Ðó là về phần phẩm, còn nói về phần lượng thì bốn đức tánh này cần phải rộng lớn vô cùng, hay nói theo danh từ thường dùng, là phải vô lượng. Có vô lượng mới đủ sức cứu độ chúng sinh cũng nhiều vô lượng. Có vô lượng mới lấn át tất cả những phiền não và không cho chúng có đất sống để tái phát và nhiễu loạn. 

Ðó là hành tướng và ý nghĩa của bốn món Tâm vô lượng, hay của bốn đức: Ðại từ, Ðại bi, Ðại hỷ, Ðại xả, mà chúng ta thường tán thán mỗi khi niệm các danh hiệu Bồ tát hay Phật. 

Phải công nhận rằng có được bốn món Tâm vô lượng không phải là dễ, mặc dù bốn đức ấy đã nằm sẵn trong bản tánh thanh tịnh của chúng sinh. Nhưng cũng đừng thấy khó mà lại chùn chân, lùi bước. Có công việc gì được thành công lớn lao, rực rỡ mà dễ dàng đâu? 

Yếu tố quan trọng giúp cho sự thành công là sự quyết tâm và lòng kiên nhẫn. Người tu hành cũng như kẻ trèo núi. Ðừng thấy núi cao mà nản chí, sờn lòng. Trước tiên phải lập chí quyết trèo lên trên cho đến chót núi, rồi sau đó tuần tự kiên nhẫn bước từng bước một, đừng hấp tấp và cũng đừng trễ nải thì một ngày kia thế nào cũng đặt chân lên được chót núi cao. 

Người tu hành cũng vậy, hãy phát bốn lời thệ nguyện lớn, rồi cứ tuần tự, kiên nhẫn, mà tu tập theo những pháp môn Phật đã chế cho đến khi thành tựu mới thôi.

Hòa thượng Thích Thiện Hoa

http://vuonhoaphatgiao.com

Dành cho các bạn đang viết CV !


Suốt 20 năm tuyển dụng người tài, đây là chiếc CV ấn tượng nhất mà tôi từng thấy: Dễ đọc, thành thực và không chứa những ngôn từ sáo rỗng!

Gary Burnison là CEO của Korn Ferry, một công ty tư vấn toàn cầu giúp các công ty lựa chọn và thuê những nhân tài giỏi nhất. Ông là tác giả của cuốn sách best-seller trên New York Times “Lose the Resume, Land the Job” (Mất hồ sơ, tìm được việc) với phong cách nói chuyện thẳng thắn mà không ai – không phải là vợ/chồng, đối tác, cố vấn hay bất kỳ ai khác – sẽ nói với bạn.

Mới đây, ông đã có những chia sẻ về chiếc CV ông ấn tượng nhất trong 20 năm làm nghề tuyển dụng và phỏng vấn.

“Trong suốt toàn bộ sự nghiệp của mình, tôi đã nhận được hàng ngàn tập hồ sơ với đủ thể loại khác nhau: Quá dài, quá ngắn, quá nhàm chán, quá nhiều lỗi chính tả, quá khó đọc và đủ kiểu bố cục kỳ quặc khác.

Thành thật mà nói, tôi chưa bao giờ đánh giá cao tầm quan trọng của việc thiết kế CV. Thậm chí, trong cuốn sách “Lose the Resume, Land the Job” của mình, tôi tập trung vào mạng lưới bạn bè trong quá trình tìm việc làm thay vì đánh bóng bản thân trong những bản CV. Tất nhiên để xin vào vị trí của một công ty, bạn cần có một bản sơ yếu lý lịch, nhưng sai lầm lớn nhất của những người tìm việc là họ nghĩ rằng CV chiếm 90% quyết định tuyển dụng, trong khi nó chỉ thực sự chiếm 10%.

Vì thế, thật hiếm để một nhà phê bình khó tính như tôi phải chú ý tới một bản CV nào đó. Tuy nhiên một vài năm trước, tôi đã rất ngạc nhiên khi tìm thấy một bản lý lịch thực sự gây ấn tượng với mình.

Trên thực tế, đó là một trong những bản CV tốt nhất tôi từng thấy trong 20 năm làm nghề tuyển dụng và phỏng vấn. Nó không có mánh lới quảng cáo, không có công ty Fortune 500 nào được liệt kê. Và tất nhiên, tôi đã lựa chọn ứng viên tiềm năng đó.

Cụ thể, đây là những yếu tố giúp chiếc CV đó nổi bật hơn tập CV còn lại:

1. Thật dễ đọc

Bản CV này có nhiều khoảng trắng và dài 2 trang với hơn 10 năm kinh nghiệm làm việc.

Mọi thứ đều được tổ chức và sắp xếp rất khoa học: Khoảng cách dòng vừa phải, tên công ty in đậm, tiêu đề in nghiêng và những công việc chi tiết được liệt kê bằng những gạch đầu dòng. Và tất nhiên, không một lỗi đánh máy nào được tìm thấy.

Tôi ưa những kiểu phông chữ không quá lạ mắt. Nhưng thực tế, có rất nhiều ứng viên lãng phí thời gian để chọn lựa phông chữ nào cho bản CV. Times New Roman hay Calibri không phải là lựa chọn duy nhất, miễn là nó phải luôn đơn giản và dễ đọc.

2. Kể một câu chuyện

Bản CV này đã kể câu chuyện về hành trình sự nghiệp của ứng viên. Không có lỗ hổng thông tin (ví dụ như một mùa hè bỏ lỡ). Chỉ sau vài giây, tôi đã có thể dễ dàng nhận ra những nấc thang phát triển sự nghiệp của ứng viên.

Nói cách khác, danh sách lịch sử công việc – theo thứ tự thời gian, với vị trí gần đây nhất ở trên cùng – cho thấy sự tiến triển rõ rệt của ứng viên: vị trí càng cao, trách nhiệm công việc càng lớn.

3. Nhấn mạnh những thành tựu, thay vì chỉ liệt kê những nhiệm vụ đơn thuần

Tôi cũng như rất nhiều nhà tuyển dụng khác không quan tâm đến việc đọc những điều ứng viên sao chép từ bản mô tả công việc ban đầu. Điều mà các nhà tuyển dụng thực sự muốn biết là liệu bạn có phải là một ứng cử viên tiềm năng có khả năng mang lại kết quả tốt cho công ty không – và người này đã làm rất tốt khi chứng minh rằng mình là như vậy.

Làm nổi bật trách nhiệm bằng việc liệt kê cụ thể những thành tích ấn tượng nhất của bản thân là điều luôn luôn sáng suốt. Ví dụ:

– Thay vì viết “mở rộng hoạt động sang các thị trường quốc tế, thì bản CV viết “mở rộng hoạt động sang tám quốc gia mới ở Mỹ Latinh.”

– Thay vì viết “đội ngũ tiếp thị và bán hàng dẫn đầu” thì bản CV viết “đội ngũ tiếp thị và bán hàng đã đạt được mức tăng trưởng 15% hàng năm so với 0,5% ngân sách.”

4. Thành thật

Không có bất kỳ yếu tố nào khiến tôi phải ngờ vực. Mọi thứ đều đáng tin và những con số không phóng đại.

Thậm chí, sơ yếu lý lịch có dẫn link trang LinkedIn và trang web công việc của người đó, bao gồm một bản portfolio công việc cá nhân. Điều này giúp tôi dễ dàng kiểm tra hồ sơ thực tế hơn, từ đó gây dựng niềm tin rằng ứng viên là một người trung thực.

Suốt 20 năm tuyển dụng người tài, đây là chiếc CV ấn tượng nhất mà tôi từng thấy: Dễ đọc, thành thực và không chứa những ngôn từ sáo rỗng! - Ảnh 2.

Lời khuyên của tôi đó là hãy thành thật về cuộc sống của bạn. Một đồng nghiệp đã từng kể với tôi về câu chuyện một ứng viên đã liệt kê tội phạm hình sự trong hồ sơ xin việc của cô ấy. Sau khi nộp hồ sơ, cô gọi cho nhà tuyển dụng và hỏi rằng: “Liệu anh/chị có muốn thuê một người từng bị kết án như tôi không?” Sau khi trả lời một loạt câu hỏi với lòng nhiệt huyết của mình, cô ấy đã được nhận việc và cuối cùng trở thành một nhân viên tuyệt vời.

Mặc dù những thành tựu nổi bật và tên công ty lớn sẽ mang lại lợi thế cho bạn, nhưng đừng nhầm lẫn: Nhà tuyển dụng sẽ kiểm tra tham chiếu – và nếu họ phát hiện ra rằng bạn đã nói dối về điều gì đó, thì cơ hội việc làm của bạn chấm dứt lập tức.

5. Không có bất kỳ ngôn từ sáo rỗng

Không có những đặc điểm chung chung hay những yêu cầu cao trong bản CV, chẳng hạn như những từ ngữ “sáng tạo”, “làm việc chăm chỉ”, “chú trọng kết quả”, “giao tiếp xuất sắc”, hay “làm việc nhóm hiệu quả”.

Bất kỳ mục sáo rỗng nào đều sẽ khiến nhà tuyển dụng “tròn mắt” trong chưa đầy một giây. Vì thế, hãy bỏ qua các tính từ hay thuật ngữ đánh bóng bản thân quá mức và thay vào đó là sử dụng động từ hành động. Ví dụ:

– Thay vì ghi là “người giao tiếp xuất sắc” thì bản CV trình bày “có các cuộc đàm phán trực tiếp với khách hàng và phát biểu tại các sự kiện tuyển dụng đại học.”

– Thay vì ghi có “tính sáng tạo cao” thì bản CV viết “đã thiết kế và triển khai nền tảng giám sát ứng dụng toàn cầu mới.”

6. Đưa ra một đề nghị

Không phải ai cũng có mạng lưới bạn bè tại công ty mơ ước của mình nhưng một trong những cách hiệu quả nhất để có được sự chú ý của người khác đó là tìm những người có thể giới thiệu bạn trong quá trình tìm việc.

Một trong những lý do khiến tôi mở file PDF của chiếc CV này đó là nó được thông qua lời giới thiệu từ một đồng nghiệp đáng kính của tôi. Vì thế, ngoài vài giây lướt qua nó, tôi muốn biết nhiều hơn về ứng viên này.

Gửi hồ sơ của bạn ở khắp mọi nơi sẽ không giúp bạn có được công việc ưng ý nào. Thực tế, hàng ngày tôi nhận được hàng chục bộ hồ sơ từ những người mà tôi không biết, và phần lớn tôi không có đủ thời gian để mở ra.

Vì thế, nếu bạn đang cân nhắc một công việc nào đó, hãy tận dụng mạng lưới bạn bè của mình để tìm kiếm việc làm. Cố gắng kết nối trực tiếp với mọi người, có thể là tại một sự kiện hoặc thông qua một người bạn chung sẽ giúp hồ sơ của bạn được đưa lên đầu trong một chồng danh sách những hồ sơ xin việc và rơi vào đúng tay người quản lý đang tuyển dụng.”

Anh Thơ

Theo Nhịp sống kinh tế/CNBC