Chuyển đổi số: Quá trình chuyển mình của doanh nghiệp


Chuyển đổi số đang trở thành xu hướng toàn cầu trong rất nhiều doanh nghiệp, tổ chức trong CMCN 4. Theo báo cáo năm 2016 của công ty kiểm toán, tư vấn tài chính PricewaterhouseCoopers, 86% trong số 2000 doanh nghiệp từ 26 quốc gia được nghiên cứu kỳ vọng đạt được việc giảm kinh phí và tăng lợi nhuận nhờ nỗ lực chuyển đổi số trong vòng 5 năm. Vậy tác động của chuyển đổi số đến từ đâu?


Nếu thích ứng được với quá trình số hóa, sự chuyển đổi về kỹ năng và tay nghề của lực lượng lao động sẽ tạo thêm giá trị cho doanh nghiệp.

Về bản chất, chuyển đổi số bao gồm cả các quá trình, phương thức xử lý thông minh giúp doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ hơn với khách hàng, tùy chỉnh và chuyển đổi sản phẩm, tiết kiệm chi phí, tăng năng lực nhân viên qua công nghệ, tạo ra các mô hình kinh doanh mới, phương thức quản lý mới…

Trong buổi đầu của chuyển đổi số, có một số khái niệm khiến người ta dễ nhầm lẫn. Do đó, chúng ta cần phân biệt các khái niệm chuyển đổi sang dạng số (Digitization), áp dụng công nghệ số (Digitalization) mà ta hay gọi chung là số hóa với chuyển đổi số (Digital Transformation) mặc dù chúng là các quá trình khác nhau của chuyển đổi số. Để hiểu rõ hơn các khái niệm, chúng ta hãy thử lấy một ví dụ trong lĩnh vực chúng ta quen thuộc là giáo dục: 

Việc giáo viên đưa bài giảng lên thành slides, video, học sinh trao đổi, làm bài thi qua internet, trao đổi kiến thức qua email là bước chuyển đổi sang dạng số (Digitization). Bước này có thể coi như bước chuẩn bị, thay đổi cách lưu trữ, chuyển tải thông tin, kiến thức.

Việc ứng dụng các công nghệ dựa trên các dữ liệu dạng số này như tự động chấm điểm bài thi, phát hiện sao chép khi làm bài, dùng dữ liệu lớn phân tích khả năng của học sinh, nhu cầu đào tạo của của xã hội, dùng AI, máy tính trả lời tự động một số câu hỏi của học sinh, dùng internet thu/trả học phí, dùng mạng xã hội để marketing chương trình đào tạọ, kết nối học viên… là bước áp dụng công nghệ số (Digitalization) vào các quy trình giáo dục. Ở bước này, giá trị mang lại là sự tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức của con người nhờ sử dụng công nghệ.

Việc dựa vào các công nghệ mới này nảy sinh ra các hình thức đào tạo, cách thức quản lý giáo dục mới như học và dạy từ xa, có thể mở ra chương trình đào kết nối giáo viên từ nhiều nơi trên thế giới, tận dụng giáo viên dư thừa nơi này để dạy nơi khác, có thể dùng bài giảng hay thanh toán học phí qua các phương tiện online để mở ra thị trường, khai thác các giá trị mới… chính là chuyển đổi số (Digital Transformation) trong lĩnh vực giáo dục. Bước này tạo ra đột phá về giá trị khi tạo ra cách tiếp cận mới, nguồn thu mới trong giáo dục. 

Do đó có thể nói một cách ngắn gọn, chuyển đổi số là hệ quả, hiệu ứng của quá trình chuyển đổi sang dạng số và tận dụng các công nghệ xử lý số. 

Có rất nhiều lĩnh vực có thể hưởng lợi sớm từ chuyển đổi số như chăm sóc sức khỏe, ngân hàng – tài chính, thương mại điện tử, sản xuất đồ chơi, kinh tế chia sẻ, quản lý khách sạn, dịch vụ taxi – vận tải… Cùng với các  lĩnh vực khác đang tham gia tích cực và tận dụng quá trình chuyển đổi số, chúng cùng tạo ra các hình thức kinh doanh, mang lại giá trị mới cho con người và xã hội. Tuy nhiên chuyển đổi số cũng sẽ đối mặt với các thách thức mới, nên doanh nghiệp, tổ chức vẫn cần liên tục thay đổi để thích ứng và  giải quyết, ví dụ công nghệ số phải đi đôi với bảo mật số. Các ứng dụng số càng nhiều thì nguy cơ bị tấn công mạng (cyber attack) càng cao hơn, dữ liệu dễ bị rò rỉ nhiều hơn. Sự phát triển công nghệ, mô hình kinh doanh mới xuất hiện quá nhanh cũng khiến các chế tài, luật pháp hay các quy định (regulation) của các mô hình kinh doanh truyền thống không theo kịp, cần phải chuyển đổi để thích ứng.

Vài kinh nghiệm thực tiễn khi tham gia quá trình chuyển đổi số

Mặc dù các bước chuyển đổi sang dạng số, áp dụng công nghệ số là quá trình tất yếu của chuyển đổi số, tuy nhiên mỗi ngành công nghiệp, dịch vụ có một đặc thù nhất định nên không dễ định nghĩa một quy tắc thành công hay bước cụ thể chung nào. Qua quan sát và trải nghiệm về quá trình chuyển đổi số ở một số các tổ chức, doanh nghiệp, tôi nhận thấy có một số vấn đề cần chú trọng:   

Thu thập dữ liệu, thiết lập chỉ số và đánh giá

Luôn phải coi dữ liệu là tài sản của doanh nghiệp, tổ chức hay của quốc gia. Có thể thấy các công nghệ mấu chốt trong cuộc CMCN 4.0 đều xoay quanh vấn đề dữ liệu như IoT dùng để thu thập dữ liệu, các công nghệ BigData, AI cần dữ liệu để đào tạo, xử lý, các công cụ Analytics cần dữ liệu để hỗ trợ quyết định…  Thu thập, làm sạch, có biện pháp bảo vệ dữ liệu, có các công nghệ tiên tiến xử lý, phân tích dữ liệu là những khía cạnh không thể thiếu trong doanh nghiệp tham gia vào quá trình chuyển đổi số. Lưu ý chất lượng của dữ liệu là rất quan trọng. Quyết định, gợi ý, dự báo sai hay lãng phí tài nguyên, công nghệ xử lý dữ liệu là hậu quả của dữ liệu kém chất lượng khi thu thập. 

Quá trình chuyển đổi số không chỉ diễn ra bên trong một doanh nghiệp hay trong một ngành dịch vụ nhất định mà có sự tương tác trong chuỗi cung ứng giá trị.

Khi có dữ liệu, quy trình được số hóa, việc “cân, đo, đong, đếm” trở nên dễ dàng hơn. Các tổ chức doanh nghiệp cần xác định ra các các chỉ số liên quan đến nghiệp vụ của doanh nghiệp để so sánh và cải tiến và tập trung tối ưu chỉ số này. Có thể ban đầu chỉ xác định ra một chỉ số (ví dụ giảm thời gian trung bình khách hàng nhận được sản phẩm của công ty), chỉ số này được phân nhỏ ra xem phụ thuộc vào chỉ số thành phần nào, mỗi chỉ số thành phần phụ thuộc vào quy trình nào, sản phẩm nào, có thể cải tiến bằng một giải pháp công nghệ mới nào không, nếu thay đổi giải pháp, chỉ số này tăng giảm ra sao

Bắt đầu bằng những giải pháp “thắng nhanh” (quick win solution)

Đừng trông chờ vào số hoá toàn bộ các bước, quy trình hay có một giải pháp công nghệ tổng thể cho doanh nghiệp, tổ chức. Quá trình chuyển đổi số là quá trình liên tục: thu thập dữ liệu, thay đổi cải tiến dựa trên dữ liệu này, tiếp tục thu thập dữ liệu từ sự thay đổi, tiếp tục chuyển đổi… và có thể áp dụng trong từng bộ phận nhỏ của tổ chức hay doanh nghiệp hay chỉ trong một quy trình dịch vụ. Các công nghệ cũng thay đổi rất nhanh, nên nếu có dữ liệu, có công nghệ xử lý dữ liệu ở quy trình nào để giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh doanh hãy áp dụng ngay. |

Nên áp dụng số hóa, chuyển đổi ở từng bước, quy mô nhỏ để tránh bị ảnh hưởng đến các nguồn thu, mô hình kinh doanh chủ đạo của doanh nghiệp, giảm thiệt hại khi mắc sai lầm. Cách tiếp cận số hóa từng bước sẽ tránh bị sa lầy vào các giải pháp công nghệ chưa thành thạo, không “gây sốc” đến quy trình truyền thống của doanh nghiệp. Việc thường xuyên cập nhật, nắm bắt sự ra đời các công nghệ, dịch vụ mới sẽ hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các giải pháp “thắng nhanh” này.  

Tích hợp số, API và Microservice 

Quá trình chuyển đổi số không chỉ diễn ra bên trong một doanh nghiệp hay trong một ngành dịch vụ nhất định mà có sự tương tác trong chuỗi cung ứng giá trị. Ví dụ một doanh nghiệp cần dữ liệu, quy trình xử lý từ một doanh nghiệp khác thay vì trao đổi qua email, hệ thống file, mua ứng dụng có thể dùng các giao diện lập trình ứng dụng (API) để trao đổi dữ liệu và xử lý dữ liệu đấy. Việc tạo ra các API cũng có thể giúp doanh nghiệp nhanh chóng tạo ra hướng dịch vụ, tiếp cận khách hàng mới. Ví dụ doanh nghiệp chỉ có ứng dụng trên Web, dựa vào API có thể nhanh chóng có ngay ứng dụng trên mobile hoặc tích hợp vào ứng dụng của doanh nghiệp khác để chia sẻ thị trường (chẳng hạn doanh nghiệp thương mại điện tử dùng API của một doanh nghiệp cung cấp giải pháp thanh toán, doanh nghiệp vận tải dùng API của doanh nghiệp dịch vụ bản đồ…). 

Với các tổ chức, dịch vụ công, dữ liệu mở, API mở càng trở nên quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế số. Ví dụ các nguồn dữ liệu về nghiên cứu khoa học, địa lý, lệ phí dịch vụ công, thông tin thời tiết, giao thông, phân bố dân số… đều là các nguồn dữ liệu rất có ích cho nhiều doanh nghiệp trong việc xây dựng ứng dụng, dịch vụ của mình.

Việc thiết kế, tổ chức các thành phần IT trong doanh nghiệp, tổ chức dưới dạng các microservice (chia một khối phần mềm lớn thành các dịch vụ nhỏ hơn), có thể triển khai trên các máy chủ khác nhau sẽ giúp việc tháo, lắp, tích hợp, thử nghiệm công nghệ mới diễn ra dễ dàng mà không ảnh hưởng đến quy trình hoạt động hằng ngày của doanh nghiệp.

Quy tắc 80/20

Thu thập và số hóa dữ liệu có thể giúp doanh nghiệp giải quyết được 80% vấn đề chỉ với 20% nỗ lực. Trong thực tế có nhiều hiện tượng, dạng dữ liệu được phân bố theo nguyên tắc Pareto (Pareto principle) để có thể áp dụng quy tắc 80/20 này, ví dụ như một số từ chiếm phần lớn nội dung của văn bản, một số người có giá trị tài sản bằng phần lớn còn lại của thế giới, một số ít nguyên nhân gây ra phần lớn lỗi của một hệ thống…

Khi tôi tham gia một nhóm vừa triển khai sản phẩm mới của một doanh nghiệp, những ngày đầu tiên liên tiếp có phản hồi của khách hàng và bộ phận bán hàng vì một số lỗi sản phẩm. Thay vì vội vã tìm cách sửa ngay các lỗi khi nhận được phản hồi mà với nguồn của nhân lực của công ty không thể đáp ứng ngay được, các lỗi đó được thu thập lại, phân nhóm, tìm ra các đặc tính chung của nguyên nhân, rồi dựa vào các dữ liệu hiện tại của công ty để tạo ra một model ước tính lỗi nào sẽ gây ảnh hưởng tới nhiều lượng khách hàng nhất trong tương lai. Sau đó những lỗi dự đoán gây ảnh hưởng nhiều nhất được lựa chọn ưu tiên cho các kỹ sư sửa chữa. Sau khi sửa các lỗi này những ngày tiếp theo các phản hồi xấu và sức ép từ khách hàng giảm hẳn, nhóm kỹ sư có thời gian và ít stress hơn để xử lý nốt các lỗi còn lại. 

Không chỉ áp dụng trong xử lý lỗi, một số tính năng mới của sản phẩm công ty cũng được thay đổi theo nguyên tắc này: Khi phân tích thấy phần lớn khách hàng chỉ dùng một vài tính năng của sản phẩm, chức năng này được ưu tiên tuỳ chỉnh để phù hợp với yêu cầu khách hàng hơn hoặc tạo ra sản phẩm mới nếu tính năng được yêu cầu từ khách hàng còn thiếu. Rõ ràng những cách tiếp cận trên (data driven) sẽ không thể giải quyết được nếu doanh nghiệp không tích cực thu thập thông tin dữ liệu khách hàng, nhân viên, sản phẩm và tìm các nguồn dữ liệu, công nghệ thay thế để có giải pháp hiệu quả cho nó.

Thay đổi nguồn nhân lực để thích nghi với bối cảnh mới

CMCN4 tạo ra sự đe dọa đến công ăn việc làm của nhiều người vì máy móc, công nghệ sẽ làm thay một số công việc. Tuy nhiên nếu doanh nghiệp thích ứng với nó có thế giúp lực lượng lao động của mình chuyển đổi về kỹ năng và tay nghề để tạo thêm giá trị cho doanh nghiệp thay vì cắt giảm nhân lực. Ví dụ trong lĩnh vực IT, khi nói về một kỹ sư quản lý hệ thống (System Administrator) ta có thể nghĩ ngay đến người mua sắm, lắp đặt kết nối máy móc, cài đặt phần mềm, máy in… Với sự phát triển của công nghệ hiện nay, người kỹ sư hệ thống sẽ phải thích nghi với các khái niệm tính toán đám mây (cloud computing), các công cụ giám sát (monitoring) và các phần mềm, ngôn ngữ lập trình giúp tự động triển khai cài đặt hệ thống mới.

Các rào cản về kỹ thuật, ngôn ngữ cũng dần được tháo gỡ, ví dụ công cụ dịch tự động của Google cho phép dịch khá tốt hàng chục loại ngôn ngữ khác nhau. Nhiều công ty cung cấp các API để tích hợp vào hệ thống thông tin theo nhu cầu của doanh nghiệp để giải quyết khá tốt một vài vấn đề nhất định, nên những người đang làm công việc của mình trong công ty sẽ phải mở rộng kiến thức trong lĩnh vực chuyên môn của doanh nghiệp để bù đắp lại phần việc máy tính đã thay thế. Mỗi nhân viên không nên đóng khung mình trong một công việc duy nhất mà nên dành thêm thời gian giao tiếp, tìm hiểu thêm công việc, học thêm kiến thức từ các bộ phận liên quan trong doanh nghiệp (bộ phận phụ thuộc vào mình và bộ phận mình phụ thuộc vào) để có trải nghiệm rõ hơn những giá trị mình tạo ra, giúp tùy chỉnh chính xác hơn chuỗi cung ứng nhân lực của doanh nghiệp.

Do đó, để theo kịp sự ảnh hưởng của CMCN4, mỗi cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức và chính phủ phải rất nỗ lực chuyển mình, để “ngấm” được quá trình thay đổi, ứng dụng của công nghệ thì mới hy vọng quá trình Chuyển đổi số đóng góp vào sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Lưu Vĩnh Toàn – http://tiasang.com.vn

Công nghệ pháp lý: Cơ hội nào cho Việt Nam?


Trong bối cảnh cả vấn đề làm luật và tiếp cận, thực thi luật đang gặp phải nhiều khó khăn, phức tạp với sự giúp đỡ của công nghệ pháp lý, cả hai đối tượng này đều có thể giảm thời gian, chi phí và công sức. Kể cả các công ty luật cũng sẽ nâng cao được hiệu quả và năng suất, chất lượng dịch vụ cung cấp đến khách hàng.


Việc đăng ký patent nhiều khi tốn kém và mất rất nhiều thời gian. TurboPatent giúp tự động hóa một phần quy trình này, giúp các nhà khoa học tiết kiệm chi phí thuê luật sư. 

Legaltech ra đời bởi các áp lực về thời gian và chi phí của khách hàng ngày càng cao khiến các công ty luật, vốn là ngành chậm áp dụng công nghệ, phải tìm đến các công nghệ phù hợp để tăng hiệu quả công việc của mình. Mặc dù mới ra đời, ngành legaltech đã phát triển nhanh chóng cùng với việc áp dụng các công nghệ trong CMCN 4.0 như học máy (machine learning), trí tuệ nhân tạo (AI) và các dịch vụ về điện toán đám mây (cloud services). Ngày nay, các lĩnh vực cụ thể trong Legaltech bao trùm hàng loạt dịch vụ từ các nền tảng kết nối người có nhu cầu và các luật sư/công ty luật một cách nhanh chóng, đến các dịch vụ giúp các doanh nghiệp quản lý tài liệu pháp lý, bao gồm cả các bằng sáng chế và quyền sở hữu trí tuệ một cách hiệu quả, và các dịch vụ nghiên cứu chính sách/văn bản pháp lý để phục vụ đưa ra các quyết định pháp lý một cách đúng đắn nhất.

Sự phát triển của Legaltech trên thế giới

Theo nghiên cứu của Laconia Capital Group, riêng tại Hoa Kỳ, thị trường kỳ vọng của ngành này được tính vào khoảng 15,9 tỷ USD, trong đó 6,5 tỷ USD là thị trường tiềm năng đến từ nhu cầu của các công ty luật và 9.4 tỷ USD đến từ nhu cầu của các doanh nghiệp, tập đoàn1. Hầu hết các khoản đầu tư vào ngành Legaltech tập trung tại Hoa Kỳ, với tổng số đầu tư năm 2018 là 1 tỷ USD (trên 40 thương vụ), vượt xa con số 233 triệu USD năm 2017 với 61 thương vụ2.  Trong số đó, hơn 1/3, cụ thể là 362 triệu USD là các khoản đầu tư vào việc áp dụng AI trong legaltech, nhiều hơn cả tổng số đầu tư vào toàn ngành Legaltech năm 2017.

Một số công ty tên tuổi trong lĩnh vực Legaltech có thể nhắc đến TurboPatent, gọi được 3,25 triệu USD trong năm 2018 với việc áp dụng AI để hỗ trợ hoạt động viết đơn đăng ký sáng chế của các nhà nghiên cứu một cách tự động với giá rẻ bằng ½ so với giá thuê các công ty luật, và thời gian nhanh hơn nhiều lần3. LawGeex, gọi được 12 triệu USD, giúp các doanh nghiệp có thể kiểm tra các hợp đồng giao dịch một cách tự động (việc mà từ trước đến nay vẫn được làm bởi sức người, mất nhiều thời gian và không đảm bảo hoàn toàn chính xác), tiết kiệm được 80% thời gian và 90% chi phí so với việc kiểm tra hợp đồng bằng các dịch vụ tư vấn luật truyền thống4. Atrium, một startup trong lĩnh vực này mới chỉ hơn một năm tuổi, áp dụng công nghệ machine learning để giúp các startup số hóa các tài liệu pháp lý của mình, cũng vừa gọi được 65 triệu USD tiền đầu tư5. Hiểu được rằng startup là những doanh nghiệp chưa có nhiều năng lực tài chính để thuê các dịch vụ tư vấn luật một cách thường xuyên (vừa tốn kém, vừa có thể mất nhiều thời gian), Atrium giúp các startup chủ động được việc soạn thảo được các hợp đồng, tài liệu gọi vốn, tài liệu thẩm định đầu tư, v.v một cách nhanh chóng, minh bạch về giá thành và rẻ hơn nhiều so với các dịch vụ tư vấn luật thông thường. Mặc dù quy mô của những khoản đầu tư này không thể so sánh được với các khoản đầu tư mạo hiểm hàng trăm triệu USD cho đến hàng tỷ USD trong những ngành đã phát triển như e-commerce, logistics, fintech6 nhưng cũng cho thấy được tiềm năng lớn của một ngành mới nổi.

Tiềm năng để phát triển Legaltech tại Việt Nam

Tiềm năng để phát triển Legaltech ở Việt Nam đến từ sự phức tạp trong hệ thống quy định pháp lý, nhu cầu áp dụng luật của doanh nghiệp, sự phát triển của ngành tư vấn luật và tiềm năng sáng tạo của các startup trong việc giải quyết vấn đề này.

Trước hết, sự phức tạp và thay đổi nhanh chóng của nhiều chính sách ở Việt Nam khiến cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc áp dụng. Ví dụ điển hình là các chính sách về thủ tục hành chính liên quan đến thuế, giấy phép kinh doanh, đất đai, tín dụng v.v7. Thống kê của VCCI cho thấy, mặc dù đã có sự cải thiện về mặt thủ tục hành chính trong một vài năm trở lại đây, vẫn có đến 60% doanh nghiệp, trong tổng số 10.000 doanh nghiêp dân doanh được khảo sát, phàn nàn về việc xin giấy phép kinh doanh có điều kiện (các giấy phép con) đầy phức tạp, khó khăn8.

Đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ, việc nộp đơn bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cũng là thách thức khi không phải ai cũng có khả năng viết đơn bảo hộ, hiểu và theo đuổi được quá trình nộp đơn kéo dài, và nhiều doanh nghiệp thường xuyên phàn nàn về việc bị xâm phạm quyền, làm nhái sản phẩm, dẫn đến hệ lụy lớn về lợi nhuận và thương hiệu của mình9.

Các doanh nghiệp khởi nghiệp (startup) hay những doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp nhỏ với nguồn lực tài chính và nhân lực còn thấp, việc tiếp cận với các chính sách mới, tuân thủ các quy định pháp luật trong sản xuất, kinh doanh, cũng như xây dựng các văn bản pháp lý phức tạp để kêu gọi đầu tư, đáp ứng cả các quy định trong nước, nước ngoài lại càng là vấn đề lớn.

Người làm chính sách cũng gặp phải không ít khó khăn trong việc xây dựng chính sách của mình bởi khi có quá nhiều văn bản liên quan đến nhau, khó có thể nắm bắt và rà soát. Ví dụ là tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIV, các đại biểu Quốc hội đã nêu ra tình trạng chồng chéo của nhiều văn bản quy phạm pháp luật10. Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ mới đây cũng đã chỉ ra 37 vướng mắc do chồng chéo về quy định pháp luật gây khó khăn cho các nhà đầu tư11. Lý do của những chồng chéo này, theo TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế TƯ, một phần là do người làm luật thường tiếp cận theo ngành dọc còn nhà đầu tư/doanh nghiệp thì phải tiếp cận theo chiều ngang.

Cũng bởi sự phức tạp nói trên, ngày càng nhiều doanh nghiệp tiếp cận đến các dịch vụ tư vấn luật để có thể được tư vấn chính sách, pháp lý nhằm giảm thiểu rủi ro pháp lý và nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp mình12. Nhu cầu này đặc biệt tăng mạnh từ sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 200813. Tuy nhiên, các vấn đề cần tư vấn ngày càng phức tạp khiến các công ty tư vấn cũng cần liên tục tìm hiểu, cập nhật thông tin, kỹ năng, cần hiểu biết rõ về khách hàng của mình và thị trường của họ14. Việc cập nhật các chính sách mới ban hành là chưa đủ, mà các công ty tư vấn còn phải giúp được doanh nghiệp cập nhật những thông tin về các dự thảo văn bản pháp luật mới, có khả năng ảnh hưởng lớn đến khách hàng.


Techlaw.Fest 2018 tại Singapore nhằm thảo luận về công nghệ ảnh hưởng đến luật pháp ra sao. Nguồn: Viện Pháp lý Singapore

Ngoài ra, các nhà hoạch định chính sách cũng sẽ được hưởng lợi nhiều từ các công ty Legaltech. Với việc áp dụng công nghệ để thường xuyên rà soát, cập nhật các chính sách mới trong lĩnh vực mà mình quản lý, những nhà hoạch định chính sách trong bộ, ngành này sẽ có thể xây dựng những chính sách mà không trùng lặp, chồng chéo với các chính sách do các bộ, ngành khác xây dựng. Hơn nữa, việc biết được các dự thảo chính sách nào liên quan đến đối tượng quản lý của mình sẽ giúp các nhà hoạch định, chính sách có ý kiến góp ý cho các dự thảo đó một cách nhanh chóng, tránh những trường hợp chính sách đã được ban hành rồi, doanh nghiệp mới biết mình bị ảnh hưởng thì đã muộn. Ví dụ, khi có các dự thảo liên quan đến đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, thì ngay lập tức một sản phẩm Legaltech có thể cập nhật cho người làm chính sách về khởi nghiệp sáng tạo để có ý kiến góp ý nếu cần, bởi rất nhiều nhà đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo đến từ nước ngoài và sẽ bị ảnh hưởng bởi chính sách trên.

Nói cách khác, cả vấn đề làm luật và tiếp cận, thực thi luật đang gặp phải nhiều khó khăn, phức tạp. Trong khi đó với sự giúp đỡ của công nghệ, cả hai đối tượng này đều có thể giảm thời gian, chi phí và công sức. Kể cả các công ty luật cũng sẽ nâng cao được hiệu quả và năng suất, chất lượng dịch vụ cung cấp đến khách hàng.

Legaltech không phải chưa hề có mặt tại Việt Nam. Một trong những công ty đang cung cấp dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu chính sách/văn bản pháp luật rất phổ biến hiện nay là thuvienphapluat, với số lượng văn bản được số hóa và cho phép khách hàng cập nhật lên đến hơn 300.000 văn bản được truy cập miễn phí, trong số đó hơn 11.000 văn bản đã được dịch sang tiếng Anh. Không có các thông số chính thức về mặt đầu tư hay kết quả kinh doanh của thuvienphapluat nhưng có thể thấy rất nhiều người kể cả ở cơ quan nhà nước hay khu vực tư nhân, sinh viên khoa luật tại các trường đại học hầu hết đều sử dụng dịch vụ của thuvienphapluat. Nhưng ngành này còn rất nhiều tiềm năng phát triển khi chưa có sự tham gia của các công nghệ AI hay machine learning như các startup Legaltech trên thế giới. Về tiềm năng, Việt Nam đã có những startup áp dụng công nghệ AI, machine learning, cloud computing, big data trong các lĩnh vực khác nhau như fintech, logitistics, edtech,…, do đó việc triển khai các công nghệ này vào Legaltech để giải quyết vấn đề của thị trường không phải là điều quá khó khăn.

Với sự áp dụng của các công nghệ mới để tự động hóa quá trình tiếp cận, phân tích thông tin về các văn bản pháp luật, áp dụng các quy định mới vào quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, kết nối người có nhu cầu tìm hiểu pháp luật và người có thông tin, có khả năng tư vấn, hi vọng rằng các startup Việt có thể bắt đầu tham gia vào nền công nghệ mới nổi – Legaltech – để hỗ trợ không chỉ doanh nghiệp Việt Nam, các công ty tư vấn luật mà cả các cơ quan nhà nước có thể nâng cao năng lực rà soát, xây dựng các văn bản mới và đưa các văn bản này đến với người dân, doanh nghiệp một cách hiệu quả. Tại Hội nghị TechLaw.Fest tại Singapore vào tháng 4, 2018, đã có một hackathon để tìm kiếm các giải pháp Legatech cho ngành tư vấn luật và các doanh nghiệp, trong đó một công ty áp dụng công nghệ chuỗi khối (blockchain) để cung cấp dịch vụ chữ ký điện tử đảm bảo giảm thiểu chi phí và tăng tính hiệu quả cho các giao dịch online đã thắng cuộc15. Có chăng ngành Legaltech Việt Nam nên khởi động bởi một hackathon tương tự?


Legaltech là gì?
Công nghệ pháp lý hay còn gọi là “Legaltech” là một trong những ngành công nghệ mới nổi trên thế giới cùng với ngành công nghệ tài chính (fintech), công nghệ bảo hiểm (insuretech) công nghệ giáo dục (edtech), v.v. Công nghệ pháp lý và công nghệ quy định (regulation technology hay gọi tắt là regtech) mặc dù tên gọi gần giống nhau nhưng lại có hàm ý khác nhau. Trong khi Regtech là ngành công nghệ hướng tới mục tiêu chính là giải quyết các vấn đề về áp dụng quy định pháp lý trong ngành tài chính, ngân hàng, Legaltech hướng tới giải quyết các vấn đề pháp lý rộng lơn của các công ty luật và các khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn luật.


Tài liệu tham khảo:
1https://legal-tech-blog.de/wp-content/uploads/2018/05/Laconia-Capital-Group_-Legal-Tech-Industry-Landscape.pdf
2 https://blog.lawgeex.com/legaltech-hits-1-billion-investment-as-lawyers-embrace-automation/
3 https://turbopatent.com/
4 https://www.lawgeex.com
5 https://techcrunch.com/2018/09/10/atrium-legal/
6 https://news.crunchbase.com/news/a-brief-look-at-2018s-largest-funding-rounds/https://assets.kpmg/content/dam/kpmg/xx/pdf/2018/07/kpmg-venture-pulse-q2-2018.pdf
7 http://giaoduc.net.vn/Kinh-te/43000-doanh-nghiep-dang-gap-kho-khan-co-phai-vi-giay-phep-con-post178775.gd
https://motthegioi.vn/kinh-te-c-67/chinh-sach-thue-thay-doi-nhieu-gay-kho-khan-cho-doanh-nghiep-58154.html
https://baomoi.com/doanh-nghiep-gap-kho-khan-do-tinh-trang-tinh-nham-thue/c/28755939.epi
8 http://enternews.vn/doanh-nghiep-tiep-tuc-phan-nan-ve-giay-phep-con-140260.html
9 https://bnews.vn/con-khong-it-doanh-nghiep-gap-kho-khan-vuong-mac-ve-chinh-sach/83317.html
10 https://baomoi.com/tinh-trang-chong-cheo-trong-cac-van-ban-quy-pham-phap-luat/c/27198509.epi
11 https://nld.com.vn/thoi-su/luat-chong-cheo-kim-h
12 http://enternews.vn/doanh-nghiep-manh-hon-khi-co-tu-van-luat-139285.html
13 http://htt.edu.vn/soi-dong-thi-truong-dich-vu-phap-ly-o-viet-nam/
14 http://www.misa.com.vn/tin-tuc/chi-tiet/newsid/7437/Nhung-cach-ton-tai-cua-cac-cong-ty-tu-van-luat
15https://www.opengovasia.com/blockchain-based-technology-for-secure-digital-signatures-wins-legal-tech-hackathon-in-singapore/

Phan Hoàng Lan – http://tiasang.com.vn

Công nghệ và Tôn giáo: cùng nhau phát triển


Công nghệ và tôn giáo

Tôn giáo đang ở đâu và sẽ như thế nào trong thời đại 4.0? Đó là một câu hỏi, một thách thức lớn mà các nhà hoạt động tôn giáo nhất định phải quan tâm. Và việc ứng dụng công nghệ vào cơ sở tôn giáo phải chăng là cần thiết để tôn giáo gần gũi hơn với con người?

Hãy điểm qua một vài ví dụ tại các cơ sở Phật giáo.

Màn hình LCD và nến sạc LED

Tại chùa Bayan Lepas (Penang, Malaysia), nhà chùa không còn phát cho phật tử những mảnh giấy để ghi tên người quá cố và nguyện ước của họ trong các buổi cầu nguyện nữa. Thay vào đó, các màn hình LCD 50 inch được treo ở hai vách của phòng cầu nguyện sẽ hiển thị tên tuổi của người mất và chuyển sang tên người khác sau mỗi 3 giây.

Tên của người quá cố được thiết kế lồng trong hình hoa sen bay về phía lòng bàn tay của Đức Phật, như hàm ý rằng linh hồn của họ được Đức Phật đón nhận, độ trì. Chùa cũng cung cấp cho tín đồ cả nến sạc LED vì nó không chỉ thân thiện với môi trường mà còn giúp phòng cháy.

Máy xin xăm

Tại chùa Bà Thiên Hậu (Kualar Lumpur, Malaysia), người muốn xin xăm không phải tốn công lắc lon như trước mà chỉ cần cầm cả bó xăm bao gồm các thẻ xăm nhựa có in số bỏ vào một chiếc lon lớn, ngay lập tức một thẻ xăm sẽ tự động nảy lên. Người xin xăm đến hộc tủ có số xăm tương ứng, mở ra là lấy được giấy giải xăm bao gồm ba thứ tiếng Mã Lai – Hoa – Anh.

Còn ở miếu Văn Võ (Đài Trung, Đài Loan), người xin xăm chỉ cần bỏ xu 10 đài tệ vào khe của tủ kính đặt ở tay phải của pho tượng Khổng Tử, nhạc trỗi lên, “nàng tiên” robot trong tủ đi vào trong, vài giây sau bưng ra khay đựng lá xăm được cuộn tròn và thả ra một khe khác. Người xin xăm cũng có thể lấy xăm bằng cách bấm vào màn hình cảm ứng ở một chiếc máy khác trong điện thờ này.

Nhà sư robot

Tại chùa Long Tuyền (Bắc Kinh, Trung Quốc), nhà sư robot tên Xian’er đã thu hút hàng ngàn lượt phật tử đến tham quan ngôi chùa có tuổi đời trên 500 năm này. Nhà sư chỉ cao 60 cen ti mét, mũm mĩm, ngộ nghĩnh như nhân vật hoạt hình, có thể đọc kinh Phật và trả lời mỗi lần 20 câu hỏi cho những ai viết câu hỏi lên tấm bảng điện tử trước ngực anh ta. Với những câu hỏi ngoài khả năng, Xian’er sẽ nói “Không biết” hoặc “Để tôi hỏi lại sư phụ đã”.

Chùa Kodaiji 400 năm tuổi ở Kyoto đã ra mắt robot android tên Mind Mindar đứng trên bệ cao 195 cen-ti-mét, nặng 60 ki lô gam, được làm bằng silicon và nhôm, mô phỏng hình tượng nữ thần của lòng thương xót Kannon nổi tiếng trong văn hóa Phật giáo Nhật Bản.

Mindar trung tính về giới tính, biết tụng kinh, cúi đầu, đánh trống và rung chuông. Ngoại hình của Mindar được giữ ở mức gần giống như một robot trần trụi, có thể thấy rõ dây nhợ ở phần thân. Một camera được cấy vào mắt trái của Mindar để lấy nét đối tượng, giúp nó linh hoạt hơn trong giao tiếp bằng mắt. Mindar còn có thể trả lời các câu hỏi bằng tiếng Nhật và nhà chùa sẽ chiếu phụ đề tiếng Anh và tiếng Trung lên tường.

Thuyết giảng bằng ánh sáng công nghệ

Trước tình trạng người trẻ tham dự các buổi nói chuyện Phật giáo giảm sút dần, nhà sư Gyosen Asakura, trụ trì chùa Asakura (Fukui, Nhật Bản) đã phát minh ra hoio – công nghệ hợp nhất hình ảnh, kinh điển Phật giáo truyền thống với ánh sáng điện tử rực rỡ, bắt mắt – để thể hiện những hình ảnh về cuộc sống của linh hồn sau khi chết ở cõi Cực Lạc trong các buổi thuyết giảng.

Nghĩa trang kỹ thuật số

Bên cạnh khuôn viên nghĩa trang truyền thống, chùa Koukoko-ji (Tokyo, Nhật Bản) đã thiết lập nghĩa trang kỹ thuật số Ruriden trong một ngôi nhà nhỏ với hơn 2.000 pho tượng pha lê được chiếu sáng bằng đèn LED tông màu xanh lam. Mỗi pho tượng đại diện cho một người đã mất (hoặc sẽ mất). Hài cốt của người quá cố được đặt trong một hộp lưu trữ nằm ngay phía sau bức tượng Phật. Khi thân nhân của người mất quẹt thẻ từ vào hệ thống truy cập của Ruriden, tượng Phật của thân nhân họ sẽ phát ra một ánh sáng màu khác để họ định vị dễ dàng hơn. Nhiều công dân Nhật đã tìm hiểu và đăng ký cho mình “một suất” tại Ruriden.

Các nước châu Á là vậy, còn Việt Nam thì sao?

Hiện nay, kỹ thuật thạch táng tro cốt người chết đã được đưa vào nhiều nhà thờ, chùa ở các thành phố lớn. Ép cốt thạch táng là công nghệ lấy tro cốt người mất từ hũ cốt truyền thống (hình búp sen, tròn, bầu dục…) ra, ép tro cốt đó thành dạng khối rắn chắc như đá granit, sau đó chuyển vào hũ vuông. Hình ảnh và thông tin người mất được khắc chìm vào khối pha lê được gắn ngay bên trên hũ thạch táng. Công nghệ này tạo cảm giác thẩm mỹ, trang nhã, thân thiện, tiết kiệm diện tích cho nhà để cốt, từ đó đáp ứng được nguyện vọng gửi tro cốt ngày càng nhiều của cư dân sống tại các đô thị.

Ngoài ra, các cơ sở tôn giáo ở Việt Nam và nước ngoài hiện nay đều có trang web riêng hoặc Facebook như một kênh thông tin trực tuyến chính thức. Nhiều trang web được đầu tư công phu, có pháp thoại trực tuyến, tư vấn trực tuyến, thông báo các khóa tu học và vô số kinh, sách tôn giáo của nhiều tác giả trong và ngoài nước, ngôn ngữ đa dạng, bản dịch phong phú dưới nhiều định dạng khác nhau, rất thuận tiện cho người đọc sử dụng.

Cuối năm 2018 và đầu năm 2019, báo chí ở TPHCM đồng loạt đưa tin về máy xin xăm tự động ở chùa Vạn Phật (quận 5, TPHCM) và cho biết người dân rất hứng thú đến chùa để tìm hiểu và “dùng thử” chiếc máy này. Thật ra, đây chính là mẫu máy đã có ở miếu Văn Võ (Đài Loan) từ trước đó vài năm đã mô tả ở phần trên bài viết.

Vài thông tin như trên cho thấy các cơ sở tôn giáo đã bắt kịp xu hướng của thời đại, mang lại cảm giác hiện đại, tiện ích và gần gũi cho tín đồ. Không chỉ có vậy, việc ứng dụng công nghệ ở cơ sở tôn giáo còn góp phần bảo vệ môi trường. Trước khi sử dụng màn hình LCD và nến LED, chùa Bayan Lepas phải đốt khoảng 1.000 mẩu giấy khổ A4 sau các buổi cầu nguyện.

Tương tự, khi diện tích đất không mở rộng và ngày càng đắt đỏ mà số lượng người mất ngày càng tăng thì nghĩa trang kỹ thuật số là một cách thiết thực để bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên đất. Người thân của người mất cũng không phải mất phí bảo dưỡng mộ và đôi khi trở thành “nạn nhân” của các vấn nạn tại nghĩa trang truyền thống.

Việc sử dụng công nghệ trong tôn giáo cũng là nỗ lực để tương thích với con người hôm nay – vốn đã thân thiết quá mức với điện thoại thông minh, máy tính bảng và vô số vật chất kỹ thuật khác. Khi giới thiệu robot Xian’er vào năm 2015, chùa Long Tuyền tuyên bố rằng họ hy vọng việc sử dụng công nghệ tiên tiến sẽ giúp việc truyền bá Phật giáo thuận lợi hơn. Robot này truyền tải thông điệp: tôn giáo và khoa học không mâu thuẫn, hoàn toàn có thể song hành với nhau. Xian’er còn có tác dụng thu hút một thế hệ trẻ hiểu biết công nghệ cao của Trung Quốc đến với đạo Phật.

Nhưng điều đáng băn khoăn là: tôn giáo vốn coi trọng những triết lý và hành động sâu sắc, tinh tấn từ bản ngã con người. Do đó, nếu chúng ta đến với tôn giáo chỉ vì tò mò và niềm vui thích thụ hưởng những công nghệ mới mẻ thì liệu có quá màu mè và hời hợt?

Trong tác phẩm Đạo Phật ngày nay (phần Hiện đại hóa), Thích Nhất Hạnh cho rằng “Mỗi lần xã hội biến thiên với những cơ cấu sinh hoạt của nó là mỗi lần đạo Phật phải chuyển mình vươn tới những hình thái sinh hoạt mới để thực hiện những nguyên lý linh động của mình. Sau mỗi lần lột xác như thế, đạo Phật biến thành trẻ trung và lấy ngay lại được phong độ và khí lực của thời nguyên thủy”. Bậc chân sư cũng rất sâu sắc khi nhận định: vấn đề đặt ra cho đạo Phật là vấn đề hiện đại hóa (actualisation) mà không phải là vấn đề tân thời hóa (modernisation).

Ý tưởng của Thích Nhất Hạnh có thể là câu trả lời thỏa đáng cho nỗi băn khoăn có nên ứng dụng công nghệ vào tôn giáo không. Quả vậy, những yếu tố công nghệ hấp dẫn là phương tiện để con người hân hoan hơn khi bước vào ngôi nhà tôn giáo, còn tìm ra những giáo lý kỳ diệu và sâu xa thì muôn đời phụ thuộc vào tự lực của cá nhân. 

Diễm Trang – TBKTSG

10th International Conference on Ad hoc, Sensor & Ubiquitous Computing (ASUC 2019) — AIRCC Publishing Corporation


June 29~30, 2019, Copenhagen, Denmark https://icaita2019.org/asuc/index.html Scope & Topics 10th International Conference on Ad hoc, Sensor & Ubiquitous Computing (ASUC 2019) will provide an excellent international forum for sharing knowledge and results in theory, methodology and applications of Ad Hoc & Ubiquitous computing. Current information age is witnessing a dramatic use of digital and electronic devices in […]

10th International Conference on Ad hoc, Sensor & Ubiquitous Computing (ASUC 2019) — AIRCC Publishing Corporation

SQ – Spiritual Quotient (chỉ số tinh thần): đều mà người làm lãnh đạo cần có.


Chủ tịch Mentally Fit Global: Không phải IQ hay EQ, đây mới là chỉ số mang lại thành công mà những nhà lãnh đạo hàng đầu đều thấu hiểu!

Nếu như chỉ số thông minh (IQ), chỉ số cảm xúc (EQ), và chỉ số thể chất (PQ) là “kiềng 3 chân” cho một cá nhân làm việc hiệu quả, thì chỉ số SQ – Spiritual Quotient (chỉ số tinh thần) sẽ giúp trả lời câu hỏi cơ bản: Tại sao chúng ta làm việc chúng ta đang làm? Động lực làm việc của chúng ta là gì? Vì Đam mê, Quyền lực, Học hỏi, Tự do tài chính, hay chúng ta đã vượt qua những đòi hỏi của cơm áo gạo tiền và nhắm tới đích lớn lao hơn là để lại di sản cho xã hội?

“Chuyển hóa năng lượng: Công thức thành công của những nhà lãnh đạo hàng đầu” là nhan đề sự kiện thứ 2 tại Việt Nam của ông Alain Goudsmet – Chủ tịch và Nhà sáng lập của Mentally Fit Global, một tổ chức độc đáo bắt nguồn từ những triết lý trong huấn luyện thể thao, áp dụng vào môi trường kinh doanh.

Vị chuyên gia quốc tế với hơn 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực coach (huấn luyện tinh thần) chia sẻ một tin buồn với hàng trăm khán giả là nhà lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp rằng: Sự thông minh là cần thiết trong công việc. Nhưng đối với một vị sếp, trí thông minh chỉ phục vụ cho cá nhân anh ta, chứ không thể lan truyền xuống cấp dưới.

“Không bao giờ chúng ta có thể lan truyền cho người khác chỉ số thông minh của mình, nhưng cảm xúc, niềm đam mê, năng lượng… lại có thể lan truyền được. Đó là trụ cột của lãnh đạo”, ông Alain nói.

“Lãnh đạo là gì? Hiểu một cách đơn giản, lãnh đạo là tạo ra năng lượng tích cực cho mọi người. Lãnh đạo là những người truyền đạt được niềm say mê, và niềm say mê đó là nguồn năng lượng giúp chúng ta tiến lên phía trước”.

4 trụ cột để nâng cao hiệu suất công việc

Theo ông Alain, để có thể chuyển hoá được nguồn năng lượng, để nâng cao hiệu suất làm việc của nhân viên trong tổ chức, công thức chung của các nhà lãnh đạo là kích hoạt được 4 trụ cột:

  • Chỉ số thông minh – IQ (Intelligence Quotient)
  • Chỉ số cảm xúc – EQ (Emotional Quotient)
  • Chỉ số thể chất – PhQ (Physical Quotient)
  • Chỉ số tinh thần – SQ (Spiritual Quotient)

Một người làm việc hiệu quả cần dựa trên 3 yếu tố gồm: Năng lực IQ, năng lực EQ và năng lực PhQ. Tức để phát triển bản thân, chúng ta không chỉ dựa vào trí tuệ, mà còn cần có năng lực quản lý cảm xúc trên nền tảng sức khoẻ thể chất đảm bảo.

Huấn luyện động vật các bạn chỉ cần quan tâm tới 1 trục thôi, nhưng huấn luyện con người bạn cần kích hoạt cả 4 trụ cột

Và một nhà lãnh đạo thành công cần kích hoạt cả 3 nguồn năng lượng đó: Kích hoạt trí tuệ nhân viên, khuyến khích họ phát triển thể chất và có năng lực lay động trái tim họ. Nhưng như thế chưa đủ.

Nếu coi IQ, EQ và PhQ là “kiềng 3 chân”, thì SQ chính là yếu tố “xương sống”.

“Chỉ số SQ chính là trụ cột về lãnh đạo/quản lý, là xương sống của bất kỳ lãnh đạo, quản lý nào”, ông Alain nói. Trụ cột “xương sống” SQ ấy sẽ trả lời cho câu hỏi: Why do I do what I do? (Tạm dịch: Tại sao tôi phải làm việc tôi đang làm?). Động lực làm việc của chúng ta là gì? Vì Đam mê, Quyền lực, Học hỏi, Tự do tài chính, hay chúng ta đã vượt qua những đòi hỏi của cơm áo gạo tiền và nhắm tới đích lớn lao hơn là để lại di sản cho xã hội?

SQ được chia làm 4 giai tầng, gồm:

1- Personality

Trả lời cho câu hỏi: Tôi là ai?

Tùy theo chúng ta là con người thế nào: Là người hướng nội hay hướng ngoại? Tính cách của chúng ta ra sao?… Những yếu tố xác định “Tôi là ai” sẽ ảnh hưởng tới quyết định chúng ta đưa ra.

2- Values

Trả lời cho câu hỏi: Giá trị tôi hướng tới là gì?

3- Drivers

Trả lời cho câu hỏi: Những yếu tố nào sẽ tạo động lực cho tôi làm việc?

“Các bạn cũng nên xác định xem cái gì tạo nguồn năng lượng cho mình. Đó là quyền lực, tiền bạc, sự tự chủ, kinh nghiệm, học hỏi, hay yếu tố gì?”, ông Alain nói.

4- Quest

Trả lời cho câu hỏi: Tôi muốn mọi người nhớ về tôi thế nào? Di sản nào, dấu ấn nào tôi muốn lưu lại?

Ở cấp độ cao nhất, mọi người sẽ làm việc vì những thứ họ mong muốn để lại cho tương lai, những di sản họ muốn để lại, dấu ấn họ muốn để lại trong cuộc đời. Đó cũng là động lực để họ hành động.

Di sản này rất quan trọng trong công việc kinh doanh và trong công cuộc lãnh đạo, quản lý, có thể giúp chúng ta xác định được hướng đi sắp tới của mình là gì. Di sản là cái chúng ta mong muốn để lại cho mọi người ghi nhớ đến chúng ta. Họ sẽ nhớ tới chúng ta như một nhà lãnh đạo biết khai quật tài năng hay người ta nhớ đến chúng ta như một người kiếm tiền giỏi, một người luôn đổi mới sáng tạo?

“Các động cơ này ảnh hưởng đến quyết định ngày hôm nay của chúng ta. Cho nên, phải lưu ý đến 4 trụ cột – 4 động cơ cho chúng ta cũng như nhân viên chúng ta làm việc”.

“Mặc dù con người có bộ gen giống con khỉ tới 95%, nhưng đừng huấn luyện con người giống như huấn luyện con khỉ. Huấn luyện động vật các bạn chỉ cần quan tâm tới 1 trục thôi, nhưng huấn luyện con người bạn cần kích hoạt cả 4 trụ cột. Một vị sếp phải biết mình đang huấn luyện ai”, ông Alain chia sẻ.

Bảo Bảo – Tri Thức Trẻ

eC2: Technical Advisory Services on Universally Accessible Infrastructure Design – Vietnam Scaling up Urban Upgrading Project — Netherlands for the World Bank


Deadline: 21-Jan-2019 at 11:59:59 PM (Eastern Time – Washington D.C.) This assignment aims to provide capacity building support and technical assistance to seven participating cities in the Mekong Delta under World Bank SUUP Project to incorporate universal accessibility to urban planning and infrastructure design. There are three main tasks: 1) Provision of advisory services on […]

eC2: Technical Advisory Services on Universally Accessible Infrastructure Design – Vietnam Scaling up Urban Upgrading Project — Netherlands for the World Bank

Artificial intelligence for smart cities: Insights from Ho Chi Minh City’s spatial development — Netherlands for the World Bank


It’s amazing to see what technology can do these days! Satellites provide daily images of almost every location on earth, and computers can be trained to process massive amounts of data generated from them to produce insightful analysis/information. This is just one of the demonstrations of artificial intelligence (AI). AI can go beyond just reading […]

Artificial intelligence for smart cities: Insights from Ho Chi Minh City’s spatial development — Netherlands for the World Bank