KHU LĂNG MỘ DÒNG HỌ HOÀNG (MỘ CHÚ HỎA) – “Dốc chú Hỏa”


KHU LĂNG MỘ DÒNG HỌ HOÀNG

(MỘ CHÚ HỎA)

 

Nguyễn Hữu Lộc*

 

Đi trên Quốc lộ 1K, đoạn gần núi Châu Thới, tỉnh Bình Dương, chắc hẳn nhiều người sẽ nghe đến địa danh “Dốc chú Hỏa”. Đây thật ra là một ngọn đồi nhỏ, có điểm cao nhất ở khoảng ngã tư Bình Thung và thoải dần về hướng Biên Hòa. Quốc lộ 1K hường từ Thủ Đức đến Biên Hòa đi qua ngọn đồi này rồi đổ xuống tạo thành con dốc lớn. Sở dĩ con dốc lại có tên là “Dốc chú Hỏa” là vì dốc nằm sát với khu nghĩa trang của gia đình chú Hỏa – một đại phú gia gắn liền với nhiều huyền thoại ở đất Sài Gòn xưa.

1. Đôi nét về chú Hỏa và gia tộc họ Hoàng:

Chú Hỏa (1845-1901) tên thật là Hoàng Văn Hoa vốn người làng Văn Tang thuộc Gia Hòa Sơn, huyện Tư Minh, tỉnh Phước Kiến[1] nay thuộc khu vực Hạ Môn, tỉnh Phước Kiến, Trung Quốc. Ông sang Việt Nam vào khoảng năm 1863[2] và sau đó được biết đến với biệt danh là “ông vua nhà đất ở Sài Gòn” hồi cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Sở dĩ, chú Hỏa còn được gọi với tên là Hui Bon Hoa là vì khi nhập quốc tịch Pháp, ông lấy tên Pháp là Jean Baptiste Hui Bon Hoa. Trong đó, họ Hui Bon Hoa chính là tên Hoàng Văn Hoa của ông được ký âm theo phương ngữ Phước Kiến. Các con cháu của ông về sau đều mang họ Hui Bon Hoa nhưng chỉ khác tên Pháp đứng đầu.

Chú Hỏa có ba người con trai là Hoàng Trọng Huấn (Tang Huon Hui Bon Hoa), Hoàng Trọng Tán (Tang Chanh Hui Bon Hoa) và Hoàng Trọng Bình (Tang Phien Hui Bon Hoa). Theo học giả Nguyễn Triệu thì vào thời điểm năm 1961, ông Hoàng Trọng Huấn và Hoàng Trọng Tán đã mất từ lâu, mộ phần táng ở Biên Hòa, ngang núi Châu Thới, còn ông Hoàng Trọng Bình lúc đó đã 69 tuổi[3].

Hiện nay, dấu ấn của gia tộc này còn lưu lại khá nhiều tại các công trình phúc lợi cộng đồng (trường học, bệnh viện) ở khắp vùng Sài Gòn – Chợ Lớn. Trong số đó, nổi bật nhất chính là khu tư gia đồ sộ gồm ba tòa nhà có kiến trúc cổ kính được xây dựng hồi đầu thế kỷ XX mà hiện nay là Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (số 97-97A Phó Đức Chính và 54 Nguyễn Thái Bình, phường Nguyễn Thái Bình, quận 1).

2. Khu lăng mộ chú Hỏa:

Khu lăng mộ của gia đình chú Hỏa mà người địa phương quen gọi một cách đơn giản hơn là “mộ chú Hỏa” hiện tọa lạc sát Quốc lộ 1K thuộc phường Bình An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Tuy mang tiếng là “mộ chú Hỏa” nhưng chú Hỏa không có mộ ở đây vì sau khi mất, chú Hỏa đã được gia đình đưa về Trung Quốc an táng[4]. Khu vực này thật ra là nơi chôn cất con, cháu của chú Hỏa cùng những thành viên khác trong gia tộc. Do những ngôi mộ tại đây đều thuộc người của họ Hoàng nên có thể gọi khu lăng mộ này là khu mộ dòng họ Hoàng.

Gia tộc họ Hoàng của chú Hỏa là một gia tộc giàu có nổi tiếng vào lúc bấy giờ. Do đó, việc chọn đất để làm nghĩa trang riêng cho dòng họ đã được họ tộc thực hiện một cách chu toàn. Họ đã chọn mua khu đất này vì ngoài yếu tố phong thủy rất tốt thì đây còn là nơi “địa linh nhân kiệt”. Trong khu vực này, hiện còn lăng mộ của Long Khánh hầu Hồ Văn Rằng, là cha của Phước Quốc công Hồ Văn Vui, là ông nội của Thánh Tổ Tá Thiên Nhân Hoàng hậu Hồ Thị Hoa – vợ của vua Minh Mạng, mẹ của vua Thiệu Trị. Do vậy, nếu có được khu đất này thì sẽ phát đạt mau chóng vì có bậc công hầu phò trợ. “Kỳ lão địa phương cho hay khu đất này cứ đến ngày lành tháng tốt là có hạo khí hiện lên” [5].

Khu mộ của dòng họ Hoàng có nhiều công trình kiến trúc liên hoàn được xây dựng công phu, bố trí hài hòa trên một khu đất rộng lớn gồm: Cổng chính, miếu thờ Thổ Thần, nghĩa từ, nhà bia và các ngôi mộ. Sau năm 1975, dòng họ Hoàng đã chuyển ra nước ngoài sinh sống, khu mộ không còn người trông coi nên dần dần bị lấn chiếm. Ngày nay, khu vực này đã bị nhiều hộ dân lấn chiếm đất để xây nhà ở làm chia cắt, phá hủy cảnh quan vốn có của cả khu mộ: Cổng và miếu Thổ Thần đã nằm trong khuôn viên nhà dân, các ngôi mộ và các kiến trúc khác cũng bị chia tách thành hai khu vực riêng biệt.

Hiện nay, khu mộ gia tộc họ Hoàng còn tám ngôi mộ. Nhìn chung, các ngôi mộ đều có cấu trúc giống nhau theo kiểu mộ táng truyền thống của người Hoa. Các ngôi mộ này phân bố ở hai khu vực: Khu vực thứ nhất ở trên đồi cao gồm ba ngôi mộ của con chú Hỏa và khu vực thứ hai ở chân gò với năm ngôi mộ của các thành viên khác trong dòng họ Hoàng.

Trong số nhiều công trình tại đây thì khu vực mộ của các con chú Hỏa là tâm điểm chính của cả khu mộ nên được xây dựng, trang trí rất công phu, nghệ thuật. “Ở đây có nhà bia lớn xây cất theo kiểu “Tam Môn – Đại Đình”, với ba tấm bia cao hơn 2m, rộng gần 1,2m và dày 30cm, có bệ đá hoa sen ở chân… các kiến trúc ở đây đều theo nghệ thuật Phước Kiến. Ngoài ba bia và nhà bia, ở bên ngoài đối diện là ba ngôi mộ lớn uy nghi và nghệ thuật” [6]. Ba ngôi mộ lớn ở đây chính là mộ của các con chú Hỏa gồm: Mộ ông Hoàng Trọng Huấn, Hoàng Trọng Tán và Hoàng Trọng Bình. Tất cả các ngôi mộ và nhà bia đều bị nhà dân bao quanh nên trong quá trình khảo sát đã gây nhiều khó khăn. Hiện chúng tôi chỉ mới tiến hành khảo sát được mộ của ông Hoàng Trọng Huấn.

Hoàng Trọng Huấn là con trai trưởng của chú Hỏa nên mộ ông được đặt chính giữa. Ngôi mộ rất lớn hiện còn khá nguyên vẹn các kiến trúc gồm sân mộ, sáu trụ mộ gắn liền với tường bao trước mộ, sân tế, bệ thờ, bia mộ, bình phong hậu được làm bằng đá. Phần sân mộ có dạng hình thang cân với những viên đá xanh hình vuông được lót xéo. Giáp với sân mộ là phần tường bao trước mộ và hai trụ mộ ngoài. Phần tường bao được chia thành từng đoạn ngắn, phần chân mỗi đoạn được tạo dáng chân quỳ và chạm trổ hoa văn dây lá rất mềm mại. Trên hai trụ mộ ngoài là cặp tượng kỳ lân cũng được tạo tác bằng đá rất sing động, mặt trước của hai trụ mộ này còn chạm chìm hai chữ Hán: 黃 府 “Hoàng phủ” (nhà họ Hoàng). Phần tường bao đến hai trụ mộ giữa thì chặt góc thu hẹp vào nối liền với hai trụ mộ trong. Cách thiết trí này nhằm đánh dấu phần sân tế – phần quan trọng nhất của ngôi mộ. Sân tế được thiết kế cao hơn sân mộ một bậc cấp. Sân tế là nơi cử hành các nghi lễ khi người thân đến viếng mộ. Hai trụ mộ trong dạng trụ vuông, mặt ngoài có chạm chìm cặp liễn đối chữ Hán:

友 于 兄 弟,

卜 共 山 邱.

Hữu vu huynh đệ,

Bốc[7] cộng sơn khâu.

(Hòa thuận với anh em, Trường thọ cùng núi đồi)

Hai trụ mộ này nối liền với bình phong hậu được làm nhô cao ở giữa rồi thoải dần về hai bên và kết thúc ở tường bao hai bên mộ. Bệ thờ là một khối đá trắng chạm khắc chân quỳ, cùng các hoa văn dây lá, hình học rất mỹ thuật, trung tâm của bệ thờ là hình ảnh của con Long Mã trên nền thủy ba vô cùng sống động. Bệ thờ là nơi đặt lư hương và bày lễ vật khi cúng tế. Gắn liền với bệ thờ là bia mộ cao lớn làm bằng đá trắng được mài nhẵn, nổi vân đá rất đẹp. Trên bia mộ chạm chìm tinh tế sáu chữ Hán, cỡ chữ to: 榮 遠, 仲 訓 公 塋 “Vinh Viễn, Trọng Huấn công doanh”. Phía sau là gò mộ được dựa tự nhiên vào lưng đồi nên rất cao ráo, hùng vĩ.

Đứng ở sân mộ ông Hoàng Trọng Huấn cũng như những khu vực xung quanh nhìn lên đỉnh đồi, chúng ta có thể nhìn thấy phần mái của nhà bia. Mái nhà bia được lợp ngói ân dương và tạo dáng cong vút theo kiến trúc vùng Phước Kiến. Đáng tiếc là khu vực nhà bia đã bị nhà dân bao quanh, không có lối vào nên chúng tôi chưa thể đọc được nội dung của ba tấm bia lớn ở đây.

Cách khu vực trên khoảng 100m về phía Tây Bắc, ở khu vực chân gò có năm ngôi mộ khác cũng thuộc dòng họ Hoàng tọa lạc liền kề trên một khu đất. Các ngôi mộ này có kiến trúc và kiểu thức trang trí tương tự như mộ ông Hoàng Trọng Huấn. Bia mộ và các trụ mộ cũng chạm khắc nhiều chữ Hán rất có giá trị về lịch sử và văn chương:

+ Mộ Hoàng Vĩnh Thái: Trên bia mộ khắc sau chữ Hán: 紫 雲, 黃 永 泰 墓 “Tử Vân, Hoàng Vĩnh Thái mộ” (mộ Hoàng Vĩnh Thái) và trên hai trụ mộ trong có cặp liễn đối:

淒 淒 宿 草.

香 香 幽 墳.

Thê thê túc thảo[8],

Hương hương u phần.

(Cỏ non xanh màu mơn mởn, Mộ phần lan tỏa khói hương)

+ Mộ Hoàng Dương Tố Lan: Trên bia mộ khắc sáu chữ Hán: 黃 楊 素 蘭 之 墓 “Hoàng Dương Tố Lan chi mộ” (mộ Hoàng Dương Tố Lan). Trên hai trụ mộ trong có cặp liễn đối:

空 山 息 影,

夜 月 歸 魂.

Không sơn tức ảnh[9],

Dạ nguyệt quy hồn.

(Chốn tịch nhiên an nghỉ, Đêm trăng sáng nương về)

+ Mộ Hoàng Vương Châu Cần: Trên bia mộ khắc sáu chữ Hán: 黃 王 洲 勤 之 墓 “Hoàng Vương Châu Cần chi mộ” (mộ Hoàng Vương Châu Cần). Hai trụ mộ trong có cặp liễn đối:

空 山 隐 魄,

芳 草 斜 陽.

Không sơn ẩn phách,

Phương thảo tà dương.

(Núi cao ẩn phách, Cỏ thơm chiều tà)

+ Mộ Hoàng Vương Loan Hồng: Trên bia mộ khắc sáu chữ Hán: 黃 王 鸞 紅 之 墓 “Hoàng Vương Loan Hồng chi mộ” (mộ Hoàng Vương Loan Hồng). Hai trụ mộ trong có cặp liễn đối:

故 鄉 斷 梦,

異 地 歸 真.

Cố hương đoạn mộng,

Dị địa quy chân[10].

(Mộng tàn quê cũ, Đất Phật hồn về)

+ Mộ Hoàng Vương Thục Khoan: Trên bia mộ khắc sáu chữ Hán: 黃 王 淑 寬 之 墓 “Hoàng Vương Thục Khoan chi mộ” (mộ Hoàng Vương Thục Khoan). Hai trụ mộ trong cũng có chạm câu đối chữ Hán nhưng không đọc được vì vị trí của ngôi mộ này nằm ở khu vực chân đồi nên ngôi mộ đã bị đất cát bồi lấp nhiều.

Trước đây, khu vực này còn một ngôi mộ nữa cũng thuộc nhà họ Hoàng. Tuy nhiên, do việc mở rộng lộ giới một con hẻm trong khu vực nên ngôi mộ đã bị giải tỏa. Hiện các thành phần bằng đá của ngôi mộ vẫn còn đầy đủ và bị chất ngổn ngang ở một góc của khu đất này.

Các ngôi mộ tại đây có quy mô khá nhỏ và kiểu thức trang trí cũng đơn giản hơn so với ngôi mộ của ông Hoàng Trọng Huấn. Về chất liệu xây dựng thì tất cả đều được xây dựng hoàn toàn bằng đá xanh, không sử dụng đá trắng. Tuy nhiên, có một điểm nổi bật ở nhóm mộ này là phần chữ Hán trên mộ của Hoàng Vương Loan Hồng và Hoàng Dương Tố Lan được khắc theo lối chữ triện nên mang tính nghệ thuật và thư pháp cao. Hiện trạng của các ngôi mộ tại đây đều bị xuống cấp nghiêm trọng, các ngôi mộ đều bị đất cát bồi lấp, cây cỏ xâm thực nhiều, các trụ lân trang trí ở phía trước mộ đều bị sứt mẻ, không còn nguyên vẹn…

Tọa lạc phía sau các ngôi mộ trên là nghĩa từ – nơi thờ tự, hương khói, siêu tụng cho người quá cố. Nghĩa từ có quy mô khá lớn, từ xa có thể nhận ra đây là kiến trúc đặc trưng của vùng Phước Kiến với mái hình thuyền, nếp mái gian giữa cao hơn nếp mái hai gian bên. Các đầu đao, đầu kìm cong vút. Mái được lợp ngói âm dương tiểu đại có phong tô, diềm mái được viền bằng ngói tráng men màu xanh lá cây. Mặt tiền chia ra ba gian với gian giữa hơi lùi vào trong. Hai gian bên là hai cửa sổ tròn có năm chấn song dạng thân cây trúc. Cửa chính vào nghĩa từ có hai cánh cửa gỗ màu nâu sậm, khung cửa được lắp ghép bằng những phiến đá xanh, hai bên cửa còn có hai chiếc bảo cổ thạch bằng đá có kích thước lớn – là vật trang trí thường gặp trong kiến trúc đền miếu truyền thống vùng Phước Kiến. Trong chính điện nghĩa từ là án thờ Địa Tạng Vương Bồ Tát – đây là vị Bồ Tát có hạnh nguyện cao cả, luôn cứu độ cho vong hồn của người đã khuất. Ngoài ra, tại nghĩa từ hiện còn bảo lưu một số vật dụng sinh hoạt gắn với gia đình của chú Hỏa ngày xưa.

Tương tự như tình trạng của khu mộ, nghĩa từ hiện nay cũng bị một hộ dân tự xưng là cháu chú Hỏa lấn chiếm đất làm nhà ở, khuôn viên xung quanh bừa bộn vật dụng sinh hoạt của hộ dân này, bên trong nghĩa từ thì hoang tàn, lạnh lẽo. Các hộ dân xung quanh cho biết: Thường thì nghĩa từ quanh năm đóng cửa, chỉ cúng một lần duy nhất vào tháng 7 âm lịch.

3. Đôi điều nhận xét:   

  3.1. Về chữ “Vinh Viễn” và “Tử Vân”:   

Do không tiếp cận được ba tấm bia lớn kể về tiểu sử của các con chú Hỏa nên chữ “Vinh Viễn”“Tử Vân” trên mộ ông Hoàng Trọng Huấn và Hoàng Vĩnh Thái chưa giải nghĩa được. Tuy nhiên, gia tộc họ Hoàng của gia đình chú Hỏa là một gia tộc lớn, nổi tiếng hồi những năm đầu của thế kỷ XX. Do đó, dấu tích của gia tộc này hiện vẫn còn lưu giữ trên bia ký của các cơ sở tín ngưỡng dân gian của người Hoa ở khắp vùng Sài Gòn – Chợ Lớn. Lần theo các dấu tích này, chúng tôi đã tìm được lời giải cho các chữ còn tồn nghi qua bia ký tại chùa Phụng Sơn (quận 1).

Chùa Phụng Sơn (số 338-340 Nguyễn Công Trứ, phường Nguyễn Thái Bình, quận 1) được thành lập từ cuối thế kỷ XIX. Năm 1946, chùa được dời đến vị trí hiện nay. Tuy mang danh là chùa nhưng thực chất đây là một ngôi miếu thờ Quảng Trạch Tôn Vương. Vị trí chùa Phụng Sơn là ở giữa khu phố sầm uất của người Hoa tại Sài Gòn và trên một khu đất khá lớn. “Khu đất này được dâng cúng bởi một gia đình thương gia nổi tiếng là Hoàng Vinh Viễn đường vốn người Hạ Môn. Ban đầu, gia đình này cho thuê và sau đó tặng luôn khu đất” [11]. Bia “Tây Cống Phụng Sơn tự bi ký” (Bia ký chùa Phụng Sơn ở Sài Gòn) được lập vào năm Trung Hoa Dân quốc thứ 37 (1948) đã xác nhận điều này và còn cho biết thêm khu đất này rộng nửa mẫu. Phần công đức của bia cũng ghi rõ rằng: “Địa chủ Hoàng Vinh Viễn đường” (chủ đất là nhà Vinh Viễn thuộc dòng họ Hoàng).

Bên cạnh đó, phần lạc khoản trên biển tên chùa và cặp liễn đối tại chính điện đều cho biết do chính ông Hoàng Trọng Huấn đề bút vào năm Dân quốc thứ 35 (1946). Tất cả các thông tin trên đều thống nhất về tên gọi của nhà ông Hoàng Trọng Huấn là Vinh Viễn đường. Như vậy, chữ “Vinh Viễn” trên bia mộ của ông Hoàng Trọng Huấn chính là tên hiệu của ngôi nhà và hàng chữ “Vinh Viễn, Trọng Huấn công doanh” phải được hiểu là: Mộ ông Trọng Huấn thuộc nhà Vinh Viễn.

Theo tài liệu của Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh thì trong quần thể gồm ba tòa nhà của gia tộc họ Hoàng thì ngôi nhà số 97A Phó Đức Chính xưa chính là nhà ở và là nơi kinh doanh của gia đình ông Hoàng Trọng Huấn. Như vậy, ngôi nhà này khi xưa mang tên hiệu là “Vinh Viễn đường” tức là nhà Vinh Viễn – ngôi nhà của sự vinh hiển dài lâu như lời ca ngợi của cặp liễn đối hiện tồn ở hai bên cửa chính ngôi nhà[12].

Cũng với cách giải thích của chữ “Vinh Viễn”, rất có thể chữ “Tử Vân” cũng là tên của một trong hai ngôi nhà còn lại. Vấn đề đặt ra hiện nay là cần tìm hiểu xem ông Hoàng Vĩnh Thái thuộc chi nào trong gia tộc họ Hoàng, từ đó mới có đủ cơ sở để xác định ngôi nhà nào mang tên Tử Vân.

  3.2. Gia tộc họ Hoàng qua nội dung một số câu đối tại khu mộ:

Có thể nói, cho dù đã nhập quốc tịch Pháp nhưng gia tộc họ Hoàng vẫn cố gắng lưu giữ các giá trị chuẩn mực của một gia đình truyền thống phương Đông:

+ Biểu hiện đầu tiên là hình thức thờ Địa Tạng Vương Bồ Tát tại chính điện nghĩa từ và cặp liễn đối trên mộ của Hoàng Vương Loan Hồng có câu mang đậm tinh thần Phật giáo “Dị địa quy chân” (đất Phật hồn về). Tất cả đã thể hiện rõ tư tưởng Phật giáo bao trùm. Như vậy, vào thời điểm đó, nhiều khả năng dù đã nhập quốc tịch Pháp nhưng gia đình họ Hoàng vẫn giữ đạo Phật.

+ Thêm vào đó, gia tộc họ Hoàng còn là điển hình tiêu biểu của sự giao lưu và hội nhập văn hóa của người Hoa vào nền văn hóa Việt Nam. Họ đã thực sự xem Việt Nam là quê hương của mình và có tình cảm gắn bó với mảnh đất này như tinh thần của câu “Cố hương đoạn mộng” (mộng tàn quê cũ) trên mộ của Hoàng Vương Loan Hồng.

+ Câu đối “Hữu vu huynh đệ” (anh em hòa thuận) trên mộ của ông đã nói lên gia đình họ Hoàng là gia đình nề nếp, con cháu, anh em đều là người lấy “Hiếu – đễ – trung – tín” làm đầu. Học giả Vương Hồng Sển cũng đã nhận xét: “Đến nay các con cháu luôn luôn hòa thuận, gia tài giữ nguyên vẹn không chia phần manh mún, chỉ cùng nhau chia lợi tức, và mỗi khi cần dùng một số tiền to tát thì người trong họ phải xin chữ ký của người trưởng huynh khi ấy ngân hàng mới phát bạc” [13]. Người huynh trưởng có vai trò then chốt mà học giả Vương Hồng Sển đề cập đến chính là ông Hoàng Trọng Huấn. Với sự quản lý khoa học của mình và sự hòa thuận của anh em trong nhà nên sự nghiệp của gia tộc họ Hoàng ngày càng phát triển.

4. Thay lời kết:

Tất cả đã những chi tiết nêu trên đã chứng minh rằng gia tộc họ Hoàng là một gia tộc lớn, có liên quan mật thiết đến sự phát triển của đô thị Sài Gòn hồi đầu thế kỷ XX. Lịch sử của gia tộc này cũng là một phần trong dòng chảy lịch sử của vùng đất Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh.

Khu lăng mộ dòng họ Hoàng tại Dĩ An, Bình Dương là di tích có kiến trúc tiêu biểu cho loại hình mộ cổ, là điển hình cho nghệ thuật điêu khắc trên đá đạt đến trình độ mỹ thuật cao. Hơn thế nữa, nơi đây còn bảo lưu ba tấm bia ghi rõ tiểu sử, thân thế của các con chú Hỏa mà các thông tin chắc chắn ít nhiều gắn liền với quá trình phát triển của Sài Gòn, giúp ích rất nhiều cho công tác nghiên cứu khoa học.

Tuy có giá trị về nhiều mặt nhưng hiện nay khu di tích này hiện đang trong tình trạng hoang phế và bị xâm lấn nặng nề. Do đó, vấn đề cấp bách cần làm nhất hiện nay là Ban quản lý Di tích và Danh thắng tỉnh Bình Dương cần nhanh chóng đưa khu mộ dòng họ Hoàng vào diện bảo tồn, từng bước nghiên cứu xếp hạng di tích.

Có thể nói, khu mộ dòng họ Hoàng hoàn toàn hội đủ tiêu chí để được xem xét, xếp hạng di tích nhằm tạo cơ sở pháp lý trong việc bảo tồn. Bảo tồn khu lăng mộ họ Hoàng không chỉ là bảo vệ một quần thể kiến trúc cổ kính trên đất Bình Dương mà còn là lưu giữ một phần ký ức về Sài Gòn xưa.

Xin cảm ơn Thạc sĩ Nguyễn Đông Triều đã giúp chúng tôi phần phiên âm, dịch nghĩa chữ Hán và chú thích các điển tích trong bài viết.

 Tai lieu download file DOC –  Khu mo chu Hoa

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Hải Đường (2008), “Hồ tộc ở Thủ Đức”, Sài Gòn xưa & nay, tháng 5 năm 2008, Tạp chí Xưa & Nay – Nxb Văn hóa Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.26-27.
  2. Nguyễn Triệu (1961), “Những Hoa kiều giàu nhất Việt Nam – Hui Bon Hoa (1845-1901)”, Văn hóa nguyệt san số 61, tr.646-648.
  3. Đỗ Đình Truật, Nguyễn Hải Đường (1997), “Điều tra và khai quật khảo cổ học tại Thủ Đức (thành phố Hồ Chí Minh)”, Một số vấn đề khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  4. Vương Hồng Sển (1997), Sài Gòn năm xưa, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
  5. Satohiro Serizawa (2007), “The Fujian Chinese and the Buddhist Temples in Ho Chi Minh City, Vietnam”, Cultural Encounters between People of Chinese Origin and Local People: Case Studies from the Philippines and Vietnam – Proceedings of International Workshop, Research Institute for Languages and Cultures of Asia and Africa – Tokyo University of Foreign Studies, Japan.

* Bảo tàng Lịch sử – TP. Hồ Chí Minh.

[1] Nguyễn Triệu (1961), “Những Hoa kiều giàu nhất Việt Nam: Hui Bon Hoa (1845-1901)”, Văn hóa nguyệt san số 61, tr.647.

[2] Nguyễn Triệu (1961), sđd, tr.647.

[3] Nguyễn Triệu (1961), sđd, tr.648.

[4] Nguyễn Triệu (1961), sđd, tr.648.

[5] Hải Đường (2008), “Hồ tộc ở Thủ Đức”, Sài Gòn xưa & nay, tháng 5 năm 2008, Tạp chí Xưa & Nay – Nxb Văn hóa Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.27.

[6] Đỗ Đình Truật, Nguyễn Hải Đường (1997), “Điều tra và khai quật khảo cổ học tại Thủ Đức (thành phố Hồ Chí Minh)”, Một số vấn đề khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.493.

[7] Bốc: Kinh Thi-Tiểu nhã-Thiên bảo có câu “Quân viết: Bốc nhĩ, vạn thọ vô cương” (Các vị tổ tiên nói rằng: Mong cho ngươi tuổi thọ muôn năm không giới hạn). Về sau dùng chữ bốc chỉ ước mong trường thọ, chúc trường thọ.

[8] Túc thảo: Lễ-Đàn cung có câu: “Bằng hữu chi mộ, hữu túc thảo nhi bất khốc yên” (Cỏ trên mộ sau một năm thì mọc dày, khi ấy người bằng hữu không khóc bạn nữa). Có lẽ ý nói đến khi viếng và viết câu này, mộ đã chôn được một năm.

[9] Tức ảnh: Không còn bóng. Vào nhà đóng cửa thì thân không còn bóng nữa, nên dùng tức ảnh chỉ sự nghỉ ngơi an nhàn.

[10] Quy chân: Lời nhà Phật, có nghĩa là trở về với chân như, tức Niết Bàn, giải thoát.

[11] Satohiro Serizawa (2007), “The Fujian Chinese and the Buddhist Temples in Ho Chi Minh City, Vietnam”, Cultural Encounters between People of Chinese Origin and Local People: Case Studies from the Philippines and Vietnam – Proceedings of International Workshop, Research Institute for Languages and Cultures of Asia and Africa – Tokyo University of Foreign Studies, Japan, p.68.

[12] Câu đối có nội dung như sau:

Văn tảo lưu phương, biệt thác hải thiên đường cấu,

Tử chi dục tú, duẫn nghi phú quý vân nhưng.

   Tạm dịch:

Vẻ đẹp văn chương lưu truyền tiếng thơm, tạo dựng cơ đồ sánh ngang trời biển,

Cỏ chi màu tím nảy nở hoa tươi, xứng với cháu con vinh hiển muôn đời.

[13] Vương Hồng Sển (1997), Sài Gòn năm xưa, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr.284.

Tham khao:

http://sugia.vn/portfolio/cat/15/kien-thuc-lich-su-chung.html

One thought on “KHU LĂNG MỘ DÒNG HỌ HOÀNG (MỘ CHÚ HỎA) – “Dốc chú Hỏa”

Thank for your comments

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s