Công nghiệp công nghệ thông tin


 

 

Theo:    http://www.uit.edu.vn

 

Công nghiệp công nghệ thông tin (CNTT) bao gồm nhiều công ti. Một số công ti là lớn với hàng trăm nghìn công nhân, một số là nhỏ với chỉ một hay hai người. Một số xây dựng phần mềm để được công chúng dùng trong khi số khác dựng phần mềm cho khách hàng đặc biệt. Một số bán phần mềm như sản phẩm trong khi số khác cung cấp phần mềm như dịch vụ. Một số làm việc theo hợp đồng để trợ giúp các công ti với dự án đặc thù trong khi số khác chỉ giải quyết các vấn đề đặc biệt. Một số giúp thiết lập kết cấu nền, hệ thống mạng, và quản lí các trung tâm dữ liệu trong khi số khác chỉ phát triển các websites và giúp thiết lập kinh doanh trực tuyến v.v.

Các công ti xây dựng phần mềm được công chúng sử dụng hay phần mềm bán sẵn “Commercial-off-the self” như Microsoft, Oracle, Adobe, VMware, Symantec, v.v. phần lớn là những công ti phần mềm rất lớn, họ bao giờ cũng trong “phương thức thuê người” với hàng nghìn nhân viên mới được thuê mỗi năm. Phần lớn họ ưa thích thuê người mới tốt nghiệp vì những người này có thể dễ dàng được đào tạo cho khớp với môi trường làm việc của công ti.

Các công ti xây dựng phần mềm đặc biệt để tự động hoá qui trình doanh nghiệp trong tài chính, chế tạo, hậu cần, ngân hàng, bán và tiếp thị để đáp ứng nhu cầu đặc biệt của khách hàng như Accenture, IBM, SAP, và Oracle v.v. ưa thích thuê công nhân có một số kinh nghiệm vì công việc của họ yêu cầu tri thức về ứng dụng của họ như  SAP, PeopleSoft v.v.

Các nhà cung cấp dịch vụ khoán ngoài là các công ti thực hiện công việc CNTT cho khách hàng. Họ thực hiện các nhiệm vụ từ kiểm thử, lập trình, bảo trì để xây dựng toàn thể dự án, lớn hay nhỏ, không mất phí. Nếu cần, họ thậm chí có thể tiếp quản toàn thể chức năng CNTT cho khách hàng. Các công ti như Accenture, Infosys, TCS, Wipro, và Mahindra v.v. thường thuê đa dạng công nhân, từ người mới tốt nghiệp tới người phát triển có kinh nghiệm. Nhiều người được thuê để viết mã và kiểm thử các chương trình lớn; một số được thuê để cài đặt các gói phần mềm trên hệ thống của người dùng và sửa đổi nó theo nhu cầu riêng của người dùng. Một số được thuê để cập nhật các hệ thống hiện có, hay thiết kế các Website được chuyên biệt hoá.

Các công ti dịch vụ tư vấn là những công ti giúp khách hàng lập kế hoạch và thiết kế hệ thông tin tích hợp phần cứng, phần mềm và công nghệ truyền thông. Họ giúp khách hàng lựa chọn phần cứng và phần mềm đúng cho một doanh nghiệp hay dự án đặc thù, rồi phát triển, cài đặt và thực hiện hệ thống này. Bên cạnh đó, họ thường đào tạo và hỗ trợ cho người dùng. Các công ti tư vấn chỉ thuê những công nhân CNTT có kinh nghiệm và đào tạo họ thành các nhà tư vấn. Phần lớn các nhà tư vấn có ít nhất năm tới mười năm kinh nghiệm trong khu vực chuyên môn và thường làm việc trên các dự án chuyên môn như người cố vấn hay vai trò hỗ trợ.

Một số công ti tư vấn chỉ hội tụ vào khu vực riêng như vấn đề an ninh. Ngày nay nhiều công ti đang dùng Internet và intranet, điều làm nảy sinh các vấn đề đang tăng lên về an ninh thông tin. Đe doạ an ninh biến thiên từ vi rút làm hỏng máy tính tới gian lận trực tuyến và ăn cắp căn cước. Khi các công ti dùng Internet để trao đổi thông tin với khách hàng, nhiều điều có thể xảy ra. Để giảm nhẹ mối đe doạ này, các công ti đang dùng dịch vụ của các hãng tư vấn an ninh, hãng chuyên môn hoá trong mọi khía cạnh của an ninh CNTT cho họ. Các công ti này đánh giá hệ thống máy tính cho các khu vực mong manh, quản lí tường lửa, và cung cấp bảo vệ chống lại việc xâm nhập và “vi rút” phần mềm.

Các công ti quản lí tiện nghi là những công ti cung cấp việc quản lí và vận hành của hệ thống và tiện nghi CNTT. Họ phái công nhân của họ tới địa điểm của khách hàng để giúp cung cấp dịch vụ phục hồi thảm hoạ; giúp khách hàng chuẩn bị đối phó với các trục trặc chính của hệ thống thông tin của họ. Họ sao lưu dữ liệu và tạo ra chiến lược cho vận hành doanh nghiệp trong và sau việc ngừng chạy máy. Họ giúp các công ti phục hồi dữ liệu bị mất sau khi thảm hoạ đã xuất hiện. Các công ti dịch vụ tính toán mây là một kiểu khác của quản lí tiện nghi tính toán nhưng thay vì đi tới địa điểm của khách hàng, họ chuyển hệ thống CNTT của khách hàng vào vị trí của họ, lưu giữ dữ liệu trong các tiện nghi riêng của họ và quản lí mọi thứ cho khách hàng. Khách hàng vẫn có truy nhập vào hệ thống của họ qua internet.

CNTT là ngành công nghiệp dựa trên tri thức và kĩ năng. Lực lượng lao động CNTT bao gồm chủ yếu những người tốt nghiệp đại học với 82% có bằng cử nhân hay cao hơn. Có vài kiểu công nhân tuỳ theo giáo dục của họ và chuyên môn bằng cấp. Ngày nay kĩ sư phần mềm và người phát triển phần mềm chiếm đại đa số các công nhân CNTT, và họ chiếm khoảng 68% lực lượng lao động. Nghĩa vụ của họ biến thiên theo nghề nghiệp, từ phát triển phần mềm máy tính; quản lí hệ thông tin, và bảo trì an ninh mạng. Những công nhân này thiết kế, viết mã, kiểm thử và bảo trì các ứng dụng phần mềm. Họ thường làm việc dưới giám sát của người quản lí phần mềm. Ngày nay phần lớn người phát triển dùng các ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng, như C++, Java, hay Python. Đây là các ngôn ngữ được dạy tại phần lớn các chương trình Kĩ nghệ phần mềm và Khoa học máy tính. Khi họ thu được nhiều kinh nghiệm, một số đảm đương nhiều trách nhiệm hơn và trở thành người lãnh đạo kĩ thuật, kiến trúc sư hệ thống, người quản lí dự án, hay người phân tích doanh nghiệp.

Người lãnh đạo kĩ thuật và kiến trúc sư hệ thống thiết kế và tích hợp phần cứng và phần mềm để làm cho hệ thông tin hiệu quả hơn. Bằng việc thực hiện các ứng dụng phần mềm mới, hay thiết kế toàn bộ hệ thống mới, họ giúp cho công ti làm cực đại đầu tư của công ti vào máy móc, nhân sự, và qui trình doanh nghiệp. Để thực hiện việc làm của mình, họ dùng mô hình hoá dữ liệu, phân tích có cấu trúc, kĩ nghệ thông tin, và các phương pháp khác. Họ chuẩn bị các sơ đồ cho người phát triển tuân theo để viết mã đúng và thực hiện phân tích chi phí-ích lợi để giúp cấp quản lí đánh giá hệ thống. Họ đảm bảo rằng hệ thống thực hiện theo đặc tả yêu cầu bằng việc kiểm thử chúng kĩ lưỡng.

Hệ thống mạng và phân tích dữ liệu tạo nên một nhóm lớn khác và chiếm xấp xỉ 25% lực lượng lao động CNTT. Những công nhân này thiết kế và đánh giá các hệ thống mạng, như mạng cục bộ (LAN), mạng diện rộng (WAN), và hệ thống Internet. Họ thực hiện mô hình hoá mạng, phân tích và giải quyết tương tác của máy tính và trang thiết bị truyền thông. Với sự bùng nổ của Internet, nhóm này cũng bao gồm đa dạng các nghề có liên quan tới thiết kế, phát triển, và bảo trì các Websites và máy phục vụ của họ. Những người phát triển Web chịu trách nhiệm thiết kế và tạo ra trạm web từng ngày. Webmasters chịu trách nhiệm về các khía cạnh kĩ thuật của Website, kể cả vấn đề hiệu năng, và chấp thuận nội dung của trạm.

Người quản lí hệ thông tin chỉ đạo công việc của các kĩ sư phần mềm, người phân tích doanh nghiệp, người phát triển, người lập trình, và các công nhân hỗ trợ CNTT khác. Họ phân tích nhu cầu máy tính và nhu cầu thông tin của tổ chức của họ và xác định yêu cầu nhân sự và trang thiết bị. Họ lập kế hoạch và điều phối các hoạt động như thiết đặt và nâng cấp phần cứng và phần mềm; lập trình và thiết kế hệ thống; phát triển mạng máy tính; và xây dựng các trạm Internet và intranet. Đa số những người quản lí này đều tốt nghiệp từ chương trình Quản lí hệ thông tin (ISM).

Nhân sự hỗ trợ CNTT cung cấp trợ giúp kĩ thuật, hỗ trợ, và lời khuyên cho khách hàng và người dùng. Nhóm này bao gồm các công nhân với đa dạng chức vụ, từ chuyên viên kĩ thuật cho tới kĩ thuật viên bàn trợ giúp. Những công nhân này sửa các vấn đề nhỏ trong hệ thông tin, nhận diện vấn đề và cung cấp hỗ trợ kĩ thuật cho phần cứng, phần mềm và hệ thống. Họ trả lời điện thoại gọi tới; phân tích vấn đề dùng chương trình chẩn đoán tự động, và giải quyết những khó khăn tái diễn mà người dùng gặp phải. Đa số những nhân sự hỗ trợ CNTT đều có bằng liên kết (bằng hai năm) một số cũng có chứng chỉ trong công nghệ đặc thù như Microsoft hay Cisco v.v.

So với phần còn lại của các nghề trong kinh tế, CNTT là một trong những nghề được trả lương cao nhất. Lương trung bình của công nhân CNTT ở Mĩ là xấp xỉ $87,000 một năm. Do thiếu hụt, phần lớn những người tốt nghiệp đều được đề nghị lương cao hơn số đó. CNTT cũng là ngành công nghiệp trẻ với đa số công nhân trong độ tuổi 25-tới-40. Điều này phản ánh việc tăng trưởng bùng nổ của ngành công nghiệp này trong sử dụng lao động, điều cung cấp cơ hội cho hàng nghìn công nhân trẻ người có kĩ năng công nghệ mới nhất.

Công nghiệp CNTT được xem là “công nghiệp sạch” bởi vì nó không tạo ra ô nhiễm hay sản phẩm phế thải (tất nhiên, trang thiết bị máy tính cũ vẫn là sản phẩm phế thải). Phần lớn công nhân trong công nghiệp CNTT làm việc ở các văn phòng sạch sẽ thậm chí một số có thể làm việc trong các trung tâm vận hành máy tính. Ngày nay, với internet, nhiều công việc có thể được làm từ chỗ xa dùng e-mail và Internet và quãng 18% của công nhân CNTT đang làm việc từ nhà. Chẳng hạn, người lập trình có thể làm việc từ nhà với máy tính của họ được móc nối trực tiếp vào vị trí của công ti của họ. Công nhân hỗ trợ máy tính có thể truy nhập vào máy tính của khách hàng từ xa để nhận diện và sửa vấn đề. Ngày nay, nhiều dự án CNTT lớn được phân bố toàn cầu với công nhân trải rộng khắp thế giới cho nên họ có thể xây dựng phần mềm 24 giờ và 7 ngày một tuần.

Ngành công nghiệp CNTT cũng là một trong những kinh doanh sinh lời nhất. Có một câu nói trong những người giao dịch Phố Wall rằng “Không kinh doanh nào là tốt hơn kinh doanh CNTT, nó tốt hơn dầu hoả, nó tốt hơn tài chính và nó thậm chí còn tốt hơn cả “ma tuý”. Trước 1995, dầu hoả là kinh doanh sinh lời nhất và chứng khoán dầu hoả có giá trị cao nhưng từ bắt đầu thời đại thông tin, công nghệ thông tin đã làm thay đổi điều đó. Tất nhiên, một số “thổi phồng” đã dẫn tới bùng nổ “Dot.com” vào cuối những năm 1990 nhưng ngày nay, công nghệ thông tin vẫn là kinh doanh sinh lời nhất. Chẳng hạn, Apple bây giờ là công ti lớn nhất và sinh lời nhất, còn lớn hơn cả công ti dầu Exxon-Mobile Oil Company và sinh lời nhiều hơn bất kì công ti tài chính hay thương mại nào trên thế giới. Trong danh sách mười người giầu nhất trên trái đất, bẩy người tới từ công nghệ thông tin. Hai phần ba các triệu phú trên thế giới cũng tới từ công nghệ thông tin. Năm năm trước, các triệu phú này tới từ Mĩ và châu Âu, bây giờ phần lớn số họ tới từ Ấn Độ và Trung Quốc. Sự kiện thú vị nhất là 80% những người siêu giầu này là các triệu phú CNTT tự thành đạt và trẻ, người dùng tri thức và kĩ năng của mình thay vì phụ thuộc vào liên hệ gia đình hay kế thừa của cải.

Theo một khảo cứu của chính phủ, có xấp xỉ 15 triệu công nhân CNTT trên thế giới ngày nay nhưng nhu cầu hiện thời là quãng 20 triệu, cho nên có thiếu hụt 5 triệu công nhân CNTT. Khảo cứu này dự báo rằng vì nhiều công ti sẽ dùng CNTT như chức năng dẫn lái chính và đẩy nhu cầu này lên 25 triệu vị trí CNTT được cần tới năm 2020. Tuy nhiên, hệ thống đại học hiện thời chỉ có thể tạo ra được tới 18 triệu công nhân CNTT là tối đa, điều sẽ đưa tới thiếu hụt quãng 7 triệu công nhân. Ngay cả với tham vọng của Ấn Độ tạo ra 2 triệu công nhân CNTT mỗi năm và kế hoạch năm năm của Trung Quốc tạo ra 1.5 triệu công nhân CNTT đến năm 2020, vẫn còn thấy được liệu cung có đáp ứng được cho cầu hay không.

Theo một báo cáo của chính phủ Mĩ, công nghiệp CNTT là một trong những ngành công nghiệp tăng trưởng nhanh nhất ngày nay. Tăng trưởng của nó được dự báo tiếp tục trong hai mươi năm nữa vì nhu cầu tiếp tục lên cao. Cơ hội nghề nghiệp trong CNTT là tuyệt vời cho công nhân của nó, với lương cao nhất trong những người tốt nghiệp đại học. Khi nhiều công ti đang dựa và công nghệ thông tin, nhu cầu về công nhân CNTT sẽ tiếp tục. Báo cáo này nói rằng tăng trưởng nhanh nhất là trong bảo trì mạng và an ninh máy tính.

Chuyên viên an ninh là một trong những chức vụ mới trong CNTT. Đây là khu vực chuyên môn yêu cầu bằng cấp chuyên sâu như thạc sĩ hay tiến sĩ. Hiện thời công nghiệp cần nhiều chuyên viên an ninh để đánh giá sự mong manh của hệ thống CNTT và thực hiện các biện pháp an ninh. Bên cạnh đó, nhiều người phát triển phần mềm cũng sẽ được cần tới để phát triển các phần mềm, chương trình và thủ tục chống vi rút mới. Do đó, việc làm của người phân tích an ninh, lập trình an ninh, và an ninh hệ thống đã tăng lên nhanh chóng.

Nhu cầu về kết mạng và nhu cầu về tích hợp phần cứng, phần mềm, và công nghệ truyền thông sẽ dẫn lái nhu cầu về kĩ sư phần mềm có kĩ năng kiến trúc và tích hợp. Việc bùng nổ của Internet và phát triển gia tăng của công nghệ không dây đã tạo ra nhu cầu mới về đa dạng rộng các sản phẩm và dịch vụ. Chẳng hạn, bùng nổ của Internet không dây đã đem tới khía cạnh mới của tính di động cho công nghệ thông tin bằng việc cho phép mọi người duy trì được kết nối với Internet qua điện thoại thông minh ở bất kì đâu, bất kì lúc nào. Khi các doanh nghiệp và cá nhân trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào công nghệ mới này, sẽ có nhu cầu tăng lên về công nhân thiết kế và tích hợp hệ thống máy tính, để cho chúng sẽ tương hợp với công nghệ di động. Công nghiệp CNTT đã gửi một yêu cầu khẩn thiết tới nhiều đại học đòi hỏi họ có các môn đào tạo trong các ứng dụng di động, như lập trình dùng các nền Apple hay Android để đáp ứng nhu cầu mới.

Công nghiệp chăm sóc sức khoẻ, bên cạnh đó, được mong đợi tăng việc dùng công nghệ thông tin của nó. Việc chấp thuận về sức khoẻ di động, đơn thuốc điện tử, hồ sơ sức khoẻ điện tử, và các công cụ nền CNTT khác sẽ thúc đẩy nhu cầu về các dịch vụ thiết kế hệ thống máy tính. Nhu cầu về các dịch vụ lập trình chuyên biệt cũng sẽ tăng lên vì tính phổ biến của phần mềm nguồn mở và kiến trúc hướng dịch vụ (SOA).

Với tỉ lệ tăng trưởng được mong đợi cho toàn thể ngành công nghiệp CNTT, phần lớn các khu vực CNTT sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh chóng. Tăng trưởng nhanh chóng nhất sẽ xuất hiện trong hệ thống mạng và phân tích truyền thông dữ liệu. Việc dùng tăng lên của mạng máy tính phức tạp và các trạm Internet và intranet, và nhu cầu về các sản phẩm kết mạng nhanh hơn, hiệu quả hơn sẽ làm tăng nhu cầu về dịch vụ của chúng. Các nghề tăng trưởng nhanh khác bao gồm kĩ sư phần mềm máy tính, người quản trị cơ sở dữ liệu, và người quản trị mạng và hệ thống máy tính. Các nghề vận hành doanh nghiệp và tài chính cũng sẽ thấy tăng trưởng nhanh vì công nghệ thông tin đã trở thành khía cạnh sống còn của doanh nghiệp. Bởi vì các hệ thống lớn hơn và phức tạp hơn và công nghệ mới, thị trường việc làm đã chuyển nhanh chóng sang thuê công nghân với ít nhất là bằng cử nhân hay thậm chí cao hơn. Ngày nay thị trường toàn cầu đã chỉ đạo nhu cầu về nhiều công nhân CNTT phân bố, những người có tri thức kĩ thuật cũng như kĩ năng mềm và kĩ năng ngoại ngữ.

Với tỉ lệ tăng trưởng CNTT trên khắp thế giới, cơ hội việc làm sẽ là tuyệt vời cho các công nhân CNTT có chất lượng. Cơ hội tốt nhất sẽ là các nghề chuyên môn, phản ánh nhu cầu tiếp tục về kĩ năng mức cao được cần để bắt kịp với những thay đổi trong công nghệ. Với những công nhân CNTT đang làm việc, giáo dục liên tục được cần vì nó là cách duy nhất để giữ thăng tiến nghề nghiệp của họ. Với sinh viên người vẫn tự hỏi về học cái gì, họ cần biết về tiềm năng và khả năng của việc có nghề nghiệp ổn định và tốt trong công nghiệp CNTT. Họ cần chọn đại học đúng, chương trình đúng mà đào tạo gióng thẳng theo nhu cầu công nghiệp CNTT.

 
John Vũ

Thank for your comments

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s