Tân Khánh Bà Trà


Võ Thị Trà

Võ Thị Trà là một dũng tướng trước thời thực dân Pháp xâm lực Nam Kỳ, là người phụ nữ gắn trực tiếp với tên gọi một môn phái võ thuật cổ truyền Việt Nam: môn phái Tân Khánh Bà Trà

 

Tiểu sử

Gốc gác của bà Trà vốn là dòng dõi của một vị tướng nhà Tây Sơn đã từ bỏ quê hương Tây Sơn, Bình Định vào đây sinh sống từ đầu thế kỷ XIX để tránh sự trả thù của vua Gia Long. Tương truyền bà Trà từng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của nhân dân địa phương chống lại bọn cường hào ác bá tại địa phương khoảng từ năm 1850 đến 1859.

Bà Võ Thị Trà cũng là người phụ nữ có công khai phá vùng đất mà nay là xã Bình Chuẩn, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương. Để ghi công của bà, nhân dân đã gọi vùng đất này bằng tên “đất Bà Trà”, nay còn lưu lại tên giáo xứ Bà Trà với một nhà thờ Công giáo nằm trên địa bàn xã Bình Chuẩn, thuộc giáo phận Phú Cường.

Bà Trà và võ phái Tân Khánh Bà Trà

Chính sự định cư của vị tướng này và sau là uy danh của bà Trà mà môn phái võ thuật Tân Khánh đã được nối dài thêm hai tiếng Bà Trà để thành võ thuật Tân Khánh Bà Trà.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

——————————————————–

 

 

Tân Khánh Bà Trà

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Mục lục

Tân Khánh Bà Trà hay Bà Trà-Tân Khánh hay Võ lâm Thiếu Lâm[1] là một trong những hệ phái võ thuật thuộc võ cổ truyền Việt Nam. Hệ phái có xuất xứ từ Bình Định và được các võ sư trau chuốt qua nhiều thế hệ tại vùng đất mớimiền Nam Việt Nam là làng Tân Khánh (nay là thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương), và làng Bình Chuẩn (nay thuộc huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương).

Lịch sử

Bình Định là quê hương của những hệ phái võ Tây Sơn nổi tiếng, gắn liền với chiến công hiển hách của những đoàn quân bách chiến bách thắng dưới ngọn cờ đào của Tây Sơn tam kiệt Nguyễn Nhạc, Nguyễn HuệNguyễn Lữ. Sau khi Gia Long được người Pháp hậu thuẫn đánh bại nhà Tây Sơn (1778-1820), nhiều người dân vùng đất này đã buộc phải di cư vào Nam trốn tránh sự thảm sát trả thù của vương triều mới và lập ra làng Tân Khánh. Họ mang theo mình truyền thống thượng võ và những kỹ pháp võ thuật của quê hương Tây Sơn-Bình Định tới vùng đất mới, tiếp tục phát triển nó trong sự hòa trộn với những hệ thống kỹ thuật tại quê hương mới[2].

Giữa thế kỷ 19, dưới triều vua Tự Đức (1848-1883), nổ ra một sự kiện phản ánh rõ rệt tinh thần bất khuất của dân làng Tân Khánh: cuộc khởi nghĩa của dân làng Tân Khánh chống lại bè lũ quan lại thối nát tay sai của ngoại bang ở địa phương. Ngày nay nhiều người dân bản địa vẫn còn rất tự hào về sự kiện này và luôn nhắc về nó gắn liền với tên tuổi của một người phụ nữ tên là Võ Thị Trà[3]. Bà vốn rất giỏi võ Tây Sơn, đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa trong 10 năm trời ròng rã từ năm 1850 và chấm dứt khi khi người Pháp xâm lược ba tỉnh miền Đông Nam Bộ. Vì vậy, vùng đất này, bao gồm cả làng Tân Khánh và làng Bình Chuẩn còn được gọi là “đất Bà Trà”. Và cũng từ đây, người dân gọi phái võ truyền thống xuất phát từ Tân Khánh, Bình Chuẩn là “phái võ Bà Trà – Tân Khánh” hay “Tân Khánh Bà Trà”. Thời đó, phái võ này được coi là một trong số rất ít phái võ cổ truyền có tiếng ở miền Nam Việt Nam. Võ Bình Định, võ Tân Khánh Bà Trà cũng đã nổi tiếng trong giới võ lâm Việt Nam[4].

Đặc điểm

Một đòn đá thẳng trong võ Tân Khánh Bà Trà đang được các môn sinh luyện tập.

Hai môn sinh Tân Khánh Bà Trà đang luyện đấu tề mi côn.

Hình thành và phát triển trên quê hương mới, phái võ Tân Khánh Bà Trà vẫn duy trì gần như tất cả những miếng võ cơ bản của phái Tây Sơn trong đó có những bài danh quyền như Ngọc trản, Lão mai quyền, Thần đồng quyền, Thái Sơn[5], Tấn Nhứt, Huỳnh Long quá hải, Đồng Nhi, Lão Mai, Thiền Sư…, các bài côn như Tấn nhất, Tứ môn, Thần Đồng, Giáng Hỏa, Ngũ Môn… và nhiều bài binh khí như: Siêu Thái Dương, Siêu Thái Âm, Song Kiếm, Trường Thương… Tuy nhiên các võ sư đã điều chỉnh và cải tiến các kỹ thuật đòn thế để phù hợp với vùng đất mới đồng thời gia tăng hiệu quả tính, nhanh hơn và mạnh mẽ hơn. Những bài thiệu dùng để dạy các võ sinh trong võ Tây Sơn cũng được trau truốt, một số bài có cả những câu mới được bổ sung.

Đặc trưng kỹ thuật của võ phái Tân Khánh Bà Trà là lối tấn công phối hợp, liên hoàn những kỹ thuật đòn chân và đòn tay nhằm làm rối loạn sự phòng thủ của đối phương cũng như giúp cho sự tấn công đạt hiệu quả cao. Những đòn tay và đòn chân tung ra theo đường thẳng, có sức án ngự mọi sự tấn công đối phương được võ phái này chú trọng ngang với những đòn tay và đòn chân, cận chiến bằng kỹ thuật đầu gối, cùi chỏ, nắm đấm, cạnh bàn tay, ngón tay, ức bàn tay… Chính đặc điểm này đã giúp cho môn sinh của võ phái Tân Khánh Bà Trà có khả năng chiến đấu trong mọi tình huống.

Binh khí của võ phái Tân Khánh Bà Trà có đủ thập bát ban võ nghệ nhưng nổi tiếng nhất với roi và côn, là thứ binh khí làm từ nguyên liệu có sẵn tại địa phương như: tre, tầm vông, gỗ căm xe, gỗ mật cật… Nhiều bậc tiền bối của võ phái Tân Khánh Bà Trà từng nổi danh với những đường roi, đường côn kỳ tuyệt đả bại nhiều cao thủ khắp lục tỉnh Nam Kỳ.

Hệ thống đai được sắp xếp từ thấp đến cao như sau: – Huyền đai (đai đen) – Thanh đai (đai xanh lá cây) – Hồng đai (đai đỏ) – Hoàng đai (đai vàng) – Bạch đai (đai trắng)

Võ sư

Võ phái Tân Khánh Bà Trà có nhiều thế hệ anh tài nối tiếp nhau vang danh khắp Nam Bộ. Bà Võ Thị Trà, thường gọi tắt là Bà Trà, lẫy lừng một thời ở Tân Khánh chống lại bọn tham quan ô lại, để rồi tên đất được gắn thêm tên người kể từ giữa sau thế kỷ 19. Hai anh em Võ Văn Ất (Hai Ất) và Võ Văn Giá (Ba Giá) và bà Võ Thị Vuông (Năm Vuông) từng làm rạng danh võ phái Tân Khánh Bà Trà với những lần đánh hổ[6] [7].. Những võ sư nổi tiếng khác có thể kể tên: Hai Đước, Sáu Trực, Năm Nhị, Bảy Phiên và Năm Quy, mỗi người đều có những phong cách riêng với nhiều thành tích. Quyền sư Võ Văn Đước (Hai Đước) phá tan thế trận Mai Hoa Thung bảo vệ thanh danh xứ sở. Sáu Trực, một học trò của Hai Ất, tiếp nối truyền thống rực rỡ của thầy, đã truyền thụ võ công cho nhiều môn sinh trong số này có hai nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn An NinhPhan Văn Hùm. Đệ nhất côn Đỗ Văn Mạnh (Năm Nhị) làm cho võ phái Tân Khánh Bà Trà nổi tiếng khắp Nam kỳ với cây trường côn khiến nhiều võ sĩ kinh hồn táng đởm. Trong khi đó Bảy Phiên và Năm Quy lại đóng góp cho sự phát triển của môn phái bằng cách đào tạo những môn sinh cho các cuộc đấu võ đài mà người Pháp tổ chức những năm 1930-1940, đồng thời rèn luyện kỹ pháp chiến đấu, giáo dục tinh thần yêu nước cho những người tham gia các phong trào khởi nghĩa chống Pháp nổ ra trong vùng [8].

Những năm 1950 phái Tân Khánh Bà Trà bước sang một giai đoạn mới. Nối tiếp truyền thống hào hùng của võ phái, lão võ sư Hồ Văn Lành (biệt danh Từ Thiện, môn đệ xuất sắc của Bảy Phiên và là cha của võ sư Hồ Tường sau này) đã rời quê hương lên Sài Gòn tham gia Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam, một tổ chức quần chúng được chính quyền Sài Gòn cho phép hoạt động dưới quyền Tổng nha Thanh niên của Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên. Tại đây, với tư cách Ủy viên Ủy viên Ban Chấp hành Tổng Cuộc Quyền Thuật Việt Nam vài nhiệm kỳ (từ những năm 1950 đến 1975), võ sư Hồ Văn Lành đã nỗ lực giúp hòa nhập và phổ biến võ phái Tân Khánh Bà Trà vào cộng đồng võ thuật miền Nam. Cho đến năm 1984, khi đã 70 tuổi, lão võ sư Hồ Văn Lành đã truyền bá võ phái Tân Khánh Bà Trà tới hàng vạn môn sinh (các môn sinh nam mang họ Từ và các môn sinh nữ mang họ Hồ) và trang bị kỹ thuật đặc thù của môn phái cho họ. Hơn 400 võ sĩ chuyên nghiệp đã được đào tạo trong đó có tới 100 phụ nữ. Nhiều môn sinh đã trưởng thành, tiếp bước con đường truyền bá võ phái Tân Khánh Bà Trà cho các thế hệ nối tiếp ngay tại các quận, huyện của thành phố Hồ Chí Minh, một số tỉnh thành Nam Bộ và cả ở nước ngoài.

Đóng góp

Một lớp võ Tân Khánh Bà Trà không lấy học phí dành cho sinh viên.

Một buổi thi đấu cờ người (kết hợp giữa thi đấu cờ tướng và biểu diễn võ thuật Tân Khánh Bà Trà.

Phái võ Tân Khánh Bà Trà đã đóng góp vào kho tàng võ học truyền thống của dân tộc nhiều kỹ thuật mới như các bài quyền Đồng nhi quyền (còn gọi là Bát Tiên), Tấn nhứt côn và đặc biệt là bài Tứ linh đao.

Một số môn sinh xuất sắc của võ phái Tân Khánh Bà Trà đã từng tham gia thi đấu võ đài, đạt được hai huy chương vàng (Từ Thanh Nghĩa và Hồ Ngọc Thọ), bốn huy chương bạc (Từ Thanh Tòng, Từ Duy Tuấn, Từ Hoàng Út, Hồ Thanh Phượng), một huy chương đồng (Từ Hoàng Minh) trong các giải vô địch toàn quốc. Ba người (Từ Thanh Nghĩa, Từ Trung Tín, Từ Y Văn) đã từng được chọn đại diện cho toàn miền Nam thi đấu bẩy trận toàn thắng trước các nhà vô địch của những nước Thái Lan, Lào, Campuchia. Các võ sĩ chưa từng nếm mùi thất bại liên tục trong mười trận đấu: Từ Hùng (từng là Phó giám đốc Sở Thể dục Thể thao tỉnh Tây Ninh), Hồ Hoàng Thủy, Từ Dũng, Hồ Hoàng Hạnh, Từ Bạch Long, Hồ Tố Nguyệt. Có người đã trưởng thành với tư cách một chưởng môn của một võ phái mà nhiều kỹ thuật của võ phái có nguồn gốc từ Tân Khánh Bà Trà như Hồ Hoa Huệ [9].

Thành tích

Ngày nay, võ sư Nguyễn Hồng Đỏ của môn phái Tân Khánh Bà Trà, đang công tác tại Trung Tâm Thể dục Thể thao huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục góp phần mang lại vẻ vang cho môn phái với trên 120 huy chương các loại (vàng, bạc, đồng) tại các giải vô địch học sinh, Hội khỏe Phù Đổng , cụm, thành phố Hồ Chí Minh, trẻ thành phố Hồ Chí Minh, câu lạc bộ mạnh thành phố Hồ Chí Minh, câu lạc bộ mạnh toàn quốc, trẻ toàn quốc và toàn quốc, chủ yếu về môn thi đấu đối kháng của Võ Cổ Truyền và về môn thi đấu đối kháng của Quyền AnhWushu . Trong đó có 1 huy chương bạc quốc tế về Quyền Anh, 2 huy chương vàng quốc gia (võ sĩ Trần Văn An và võ sĩ Nguyễn Thanh Tâm), 17 huy chương vàng thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều võ sĩ của võ sư Nguyễn Hồng Đỏ đã từng thi đấu quốc tế và số khác trở thành vận động viên đội tuyển thành phố Hồ Chí Minh, như: Phạm Thanh Hải, Dương Tấn Hùng, Mai Hoàng Trí…

Những câu chuyện và nhận định về Tân Khánh Bà Trà

  • Theo một tờ nhật báo Việt Nam phát hành cách nay đã lâu thì “ông Cả Đại ở Thủ Dầu Một nhảy qua nóc nhà ngói một cách dễ dàng và con gái của ông ta chỉ đại được một phần công phu của cha mà đã nhảy qua được cây rơm” [10]
  • Người dân Sông Bé tự hào vì “làng Tân Khánh đã có một cô gái trẻ, với võ thuật Tân Khánh Bà Trà, đã đơn thương giết chết cọp, khiến ngoại bang hết lòng khâm phục”[11].
  • “Tôi nghĩ đến danh đồn võ ta ở Bà Trà Tân khánh đánh cọp rất hay, mà nếu không sao dám đánh với cọp dữ? Thử hỏi võ Đại Hàn, võ Nhu Đạo, võ đánh Bóc có dám đứng nhìn khi gặp cọp trong rừng không?” [12].
  • Sáng ngày 29 tháng 5 năm 2009, thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh Uỷ và Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Bình Dương, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Bình Dương đã thông qua công trình nghiên cứu “Bảo tồn và phát huy võ thuật Tân Khánh Bà Trà – Bình Dương” do Tiến sĩ Hồ Sơn Diệp làm chủ nhiệm công trình, Thạc sĩ – võ sư Hồ Tường là một trong những thành viên trực tiếp thực hiện công trình. Công trình “Bảo tồn và phát huy võ thuật Tân Khánh Bà Trà – Bình Dương” dự kiến sẽ tiến hành trong vòng 18 tháng.

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Có một lớp võ SV miễn phí hơn 10 năm

    có đoạn “võ sư Hồ Văn Tường hiện nay đã có 24 năm đứng lớp võ dành cho các bạn trẻ yêu thích bộ môn Thiếu lâm võ lâm”. Bài đăng trên Báo Tuổi trẻ. Có thể tên này là theo cách gọi một số võ sinh

  2. ^ Bài Phái võ Tân Khánh Bà Trà bắt đầu và phát triển như thế nào trong lịch sử, trong cuốn Võ dân tộc, Hữu Ngọc và Lady Borton chủ biên, NXB Thế giới, H. 2004, trang 53 kéo dài đến 54
  3. ^ Đây chỉ là tương truyền. Xem thêm bài Võ Thị Trà
  4. ^ Bài Phái võ Tân Khánh Bà Trà bắt đầu và phát triển như thế nào trong lịch sử, như trên, trang 54, đoạn 3
  5. ^ Trong võ thuật cổ truyền Việt Nam, cụ thể là môn phái Tân Khánh Bà Trà và môn phái Bình Định, Thái Sơn, tên một ngọn núi nổi tiếng ở Trung Quốc, được chọn để đặt tên cho một bài quyền và một bài côn. Trong chương trình thống nhất của Liên Đoàn Võ thuật Cổ truyền Việt Nam có bài côn Thái Sơn. Đặc trưng của hai bài võ này là có đòn thế vững chắc, dũng mãnh giống như núi Thái Sơn ở Trung Quốc.
  6. ^ Chuyện cọp Bầu Lòng, Võ Tòng Tân Khánh, tác giả Lưu Linh Tử
  7. ^ Bài “Võ Việt Nam, võ ngoại quốc: võ nào trọng? võ nào khinh?”, báo Võ Thuật, số 22, bộ III, ngày 1/1/1971, trang 9
  8. ^ Phái võ Tân Khánh Bà Trà bắt đầu và phát triển như thế nào trong lịch sử, như trên, trang 56, toàn bộ nội dung đoạn này là tóm tắt của đoạn 2 trong tài liệu
  9. ^ Xin xem bài Hồ Hoa Huệ và hệ thống kỹ thuật của môn Tinh Võ đạo
  10. ^ Từ Hải (tức Hàng Thanh), trong bài “Thi võ đời Gia Long, báo Võ Thuật, số 4, bộ I, ngày 1/4/1969, trang 22
  11. ^ Tứ Lang, trong bài “Người Sông Bé đánh cọp”, báo Sông Bé, số 450, ngày 1/2/1986
  12. ^ Hàng Thanh, trong bài “Võ Việt Nam, võ ngoại quốc: võ nào trọng? võ nào khinh?”, báo Võ Thuật, số 22, bộ III, ngày 1/1/1971, trang 9

Tham khảo

  • Bài về Võ phái Tân Khánh Bà Trà trong cuốn Võ dân tộc, Hữu Ngọc và Lady Borton chủ biên, NXB Thế giới, H. 2004.
  • Võ sư Từ Thiện, Hồ Tường, Võ thuật phái Tân Khánh, Nhà xuất bản Sông Bé, Sông Bé, 1989.
  • Hoài Phong, Tự học võ thuật phái Tân Khánh, Nhà xuất bản Tân Khánh, Gia Định, 1971.
  • Mai Văn Muôn, Chu Quang Trứ, Ngô Xuân Bính, Lê Anh Thơ, Lược sử võ cổ truyền Việt Nam, Nhà xuất bản Thể dục Thể thao, Hà Nội, 1991.

Liên kết ngoài

  • Bài Ai đến sân võ hôm nay?

    đề cập môn phái Võ lâm Tân Khánh Bà Trà ở Nhà văn hóa Thanh niên mở hẳn nhiều khóa học miễn phí dành cho sinh viên – học sinh. Bài đăng trên Báo Tuổi trẻ.

  • Bạn đọc có thể tìm hiểu thêm tại Trung Tâm TDTT huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, số 585, đường Hùynh Tấn Phát, khu phố 7, thị trấn Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, điện thoại: 08.7827100.

Trang này được sửa đổi lần cuối lúc 11:03, ngày 12 tháng 2 năm 2011.

Tham khao: http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_Kh%C3%A1nh_B%C3%A0_Tr%C3%A0

 

 

————————————-

 

 

Sơ lược lịch sử hình thành võ thuật Tân Khánh – Bà Trà

Nguyễn Văn Quốc
 www.sugia.vn

        Bối cảnh lịch sử – những tiền dề của quá trình xuất hiện võ thuật Tân Khánh – Bà Trà

 

Tân Khánh – Bà Trà vốn là tên gọi của vùng đất Tân Khánh và vùng đất Bà Trà của tỉnh Bình Dương xưa.

Địa bàn Tân Khánh xưa hiện nay là thị trấn Tân Phước Khánh thuộc địa bàn huyện Tân Uyên; Địa bàn Bà Trà xưa hiện nay là dịa bàn xã Bình Chuẩn thuộc địa bàn huyện Thuận An. Dù tên gọi hai vùng đất được hình thành trong hai thời điểm lịch sử khác nhau, tuy nhiên cả hai vùng đất trên đều được khai phá từ đầu thế kỷ XVII do công sức khai hoang của cư dân xiêu tán người Việt từ miền Thanh Nghệ – Ngũ Quảng theo bước chân vu quy của công chúa Ngọc Vạn ( con gái của Chúa Nguyễn Phước Nguyên ) với Quốc vương Chân Lạp là Chey Chetta II vào năm 1620.

Nhà sử học Phan Khoang đã cho biết: “ Vua Chân Lạp Chey Chetta II muốn tìm một đối lực để chống lại lân bang Xiêm La nguy hiểm đã xin cưới một công nữ con Chúa Nguyễn làm hoàng hậu, trông mong được sự ủng hộ của triều đình Thuận Hóa và Chúa Hy Tông có mưu đồ xa xôi. Năm 1620 đã gả cho vua Chân Lạp một công nữ. Cuộc hôn nhân này có ảnh hưởng lớn lao đến vận mạng Chân lạp sau này. Bà hoàng hậu này, đem nhiều người Việt đến, có người được giữ hệ trong trong triều, bà lập một xưởng thợ và nhiều nhà buôn bán lớn gần kinh đô. Đến năm 1623, một sứ bộ của Chúa Nguyễn đến yêu cầu được lập cơ sở ở Prey Kor, tức Sài Gòn ngày nay và dược đặt ở đây một sở thu thuế hàng hóa. Vua Chey Chetta chấp thuận và triều đình Thuận Hóa khuyến khích người Việt di cư đến đất ấy làm ăn, rồi lấy cớ để giúp chính quyền Chân Lạp giữ gìn trật tự, còn phái một tướng lãnh đến đóng ở Prey Kor nữa. Khi Chey Chetta mất, vùng đất Prey Kor trở ra bắc đến biên giới Chiêm Thành tức Sài Gòn, Bà Rịa, Biên Hòa ngày nay đã có nhiều người Việt đến ở và khai thác đất đai”.

Năm 1698, Thống Suất Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh Chúa Nguyễn Phúc Chu vào Nam kinh lược, lập nên hai phủ: Phước Long và Tân Bình vốn là hai nơi có đông đảo người Việt từ miền Thanh Nghệ – Ngũ Quảng vô khai phá và sinh sống từ trước đó. Riêng vùng Tân Khánh – Bà Trà thời đó thuộc phủ Phước Long.

Từ năm 1802 đến nắm 1827, phủ Phước Long mang tên Trấn Biên; vùng đất Tân Khánh – Bà Trà đều thuộc tổng Bình Chánh, huyện Bình An, dinh Trấn Biên.

Năm 1832, nhà Nguyễn bỏ trấn lập tỉnh, năm trấn của Nam bộ thành luc tỉnh, đổi dinh Trấn Biên thành tỉnh Biên Hòa. Địa bàn Tân Khánh – Bà Trà lúc bấy giờ thuộc tổng Bình Chánh Trung, huyện Bình An (Thủ Dầu Một) và huyện Ngãi An (Thủ Đức).

Năm 1862, sau khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, cả hai ấp Tân Khánh và Bình Chuẩn (tên gọi mới của vùng đất Bà Trà) được nâng lên thành hai làng, đều thuộc tổng Bình Thiện, huyện Bình An, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa.

Năm 1867, sau khi chiếm đóng và bình định toàn Nam kỳ, Pháp chia lục tỉnh thành 27 địa hạt. Tỉnh Biên Hòa được chia thành 5 địa hạt, trong đó địa hạt Bình An vẫn giữ nguyên địa phận huyện Bình An, lỵ sở đặt tại Thủ Dầu Một. Địa hạt Bình An chia thành 7 tổng, 71 xã thôn. Địa bàn Tân Khánh – Bà Trà lúc ấy là 2 trong số 71 xã thôn của địa hạt Bình An thuộc tổng Bình Thiện.

Năm 1871, Pháp bỏ địa hạt Bình An và thay bằng địa hạt Thủ Dầu Một. Hạt Thủ Dầu Một chia làm 10 tổng với 91 xã thôn, Tân Khánh và Bình Chuẩn là 2 xã của tổng Bình Thiện, hạt Thủ Dầu Một.

Ngày 20 tháng 12 năm 1889, Pháp nâng địa hạt Thủ Dầu Một thành tỉnh Thủ Dầu Một. Tỉnh Thủ Dầu Một được chia thành 12 tổng với 172 làng xã. Đến năm 1910, tổng Bình Thiện của tỉnh Thủ Dầu Một gồm làng xã: An Mỹ, Bình Chuẩn, Hóa Nhựt, Khánh Vân, Phước Lộc, Tân An, Tân Khánh, Vĩnh Phú và Tuy An. Năm 1926, 2 làng Tân Khánh và Phước Lộc sáp nhập thành xã Tân Phước Khánh.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 – 1975), do tình hình chính trị, xã hội của từng thời kỳ chi phối, nên chính quyền cách mạng Việt Nam đã đưa hai xã Tân Phước Khánh và Bình Chuẩn co1luc1 thuộc huyện Lái Thiêu, có lúc thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Thủ Dầu Một (tỉnh Bình Dương). Về phía chính quyền Sài Gòn, từ năm1956 đến năm 1975, xã Tân Phước Khánh và Xã Bình Chuẩn đều thuộc huyên Châu Thành, tỉnh Bình Dương.

Từ năm 1975 đến nay, xã Tân Phước Khánh thuộc huyện Tân Uyên và xã Bình Chuẩn thuộc huyện thuận An tỉnh Bình Dương.

Trở lại lịch sử thời khai phá, cho đến cuối thế kỷ XVI, vùng đất miền Đông Nam bộ, trong đó bao gồm cả tỉnh Bình Dương ngày nay, về cơ bản vẫn là vùng đất hoang dã, chưa được mở mang khai phá bao nhiêu.

Trong cuốn Phủ biên tạp lục viết vào thế kỷ XVIII, Lê úy Đôn cũng ghi rằng:” Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, cửa Tiểu, cửa Đại trở lên toàn là rừng rậm hoang vu, đồng cỏ rậm rộng hàng ngàn dặm”.

Còn theo lời kể lại của các cụ cao niên tại địa phương thì vùng đất Tân Phước Khánh và Bình Chuẩn xưa ( vùng đất Tân Khánh – Bà Trà), có hai lõm dân cư chen lẫn giữa rừng già đầy thú dữ, nhiều nhất là cọp. Người dân nơi đây chủ yếu sống bằng nghề nương rẫy và khai thác lâm sản. mãi đến những năm giữa thế kỷ XX, nhiều người Dân Tân Phước Khánh – Bình Chuẩn vẫn duy trì nghề” quơ củi”, nghĩa là hằng ngày vào rừng rừng chặt củi gánh ra chợ bán lấy tiền là kế sinh nhai chính…

Cho đến những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975), rừng ở Tân Phước Khánh – Bình Chuẩn vẫn chiếm khoảng 3/5 diện tích tự nhiên với những loại danh mộc như sao, dầu, bằng lăng…tạo thành một hành lang nối dài từ chiến khu Đ tới rừng Cò Mi chiến khu Thuận An Hòa…Tuy nhiên, do cường độ chiến tranh ngày càng ác liệt, nên trong những năm tháng cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, rừng Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn bị bom đạn, chất độc hóa học và xe ủi của Mỹ tàn phá nghiêm trọng…

Về dân cư, vào cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, lớp cư dân người Việt từ miền Bắc, miền Trung xiêu tán về vùng miền Đông Nam bộ, trong đó có địa bàn thuộc tỉnh Bình Dương ngày nay tìm vùng đất mới để lập nghiệp. Họ bao gồm nhiều thành phần xã hội khác nhau và lìa bỏ quê hương với nhiều nguyên nhân khác nhau. Họ là những nông dân nghèo khổ, không chịu nổi những cơ cực lầm than chốn quê nhà, là những người chạy trốn sự truy đuổi của chính quyền phong kiến, những người trốn lính, trốn thuế…Thời kỳ ban đầu, lưu dân người Việt, người Hoa sống chủ yếu ven sông Đồng Nai, ven sông Sài Gòn, nhất là vùng chung quang Thủ Dầu Một sau này và vùng Tân Uyên, Tân Khánh, Cù Lao Rùa. Ở những nơi này, từ rất sớm, đã hình thành những xóm làng đông đúc của những lưu dân.

Năm 1698, có thể coi là mốc chính thức quan trọng về việc xác lập cương vực lãnh thổ chủ quyền đất nước. Tiếp đó, các Chúa Nguyễn, các vua nhà Nguyễn về sau đã có nhiều chính sách khuyến khích, thu hút lưu dân đến khai hoang, lập làng ở vùng Gia Định – Đồng Nai cũng như trên phạm vi toàn Nam bộ.

Lê Quý Đôn trong sách” Phủ biên tạp lục”, ghi nhận rằng Chúa Nguyễn đã” chiêu những dân có vật lực ở xứ Quảng Nam, các phủ Điện Biên, Quảng Ngãi, Quy Nhơn cho dời tới đây ( chú thích của người viết: tức đất Đông Nam bộ ngày nay), phát chặt mổ mang, hết thảy thành bằng phẳng, đất nước màu mỡ, cho dân tự chiếm, trồng cau và làm nhà cửa”.

Khi triều Tây Sơn sụp đổ, có thêm dân Bình Định đến nhằm tránh họa Gia Long trả thù. Do vậy, thời gian này cư dân quê Tây Sơn, Bình Định vào vùng Tân Phước Khánh _ Bình Chuẩn xưa sinh sống có thể coi là đợt dân lưu tán mang đậm màu sắc chính trị. Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng có viết:  “Ngược dòng lịch sử, chúng ta biết thành phần dân lưu tán ở Bình Dương không khác dân lưu tán nói chung khắp Nam bộ. Họ là những người quá nghèo từ đồng bằng sông Hồng, từ Nghệ Tĩnh, Ngũ Quảng, mạo hiểm đi tìm đất sống, họ là những kẻ bị áp bức và chống áp bức…Sau này, lượng lưu tán được bổ sung thêm tù nhân và lính thú, khi triều đình Tây Sơn sụp đổ thêm dân Bình Định tránh họa Gia Long trả thù, và với triều Nguyễn, nhiều đợt mộ dân lập ấp, nơi miền bấy giờ gọi là Thiên (Phiên) Trấn. Làng Tân Khánh có thể coi như điển hình của đợt lưu tán mang đặm màu sắc chính trị: hầu hết quê Tây Sơn, Bình Định vào Nam đầu thế kỷ XIX, cát cứ vùng rừng hiểm trở và sống ngoài vòng pháp luật”.

 

         Lịch sử hình thành võ Tân Khánh – Bà Trà  

 

         Vùng đất Tân Phước Khánh và Bình Chuẩn ngày xưa cũng như những vùng đất khác ở Nam bộ vô cùng nhiều thú dữ: voi, cọp, trăn, rắn, trâu rừng…Những thế hệ lưu dân khai hoang vùng đất mới phương Nam đã từng mô tả cảnh tượng này qua câu ca dao:

Chèo ghe sợ sấu cắn chưn,

Xuống sông sợ đỉa, lên rừng cọp um !

Nhưng đáng sợ nhất trong những loài thú chính là cọp. Cọp có thể sống ở mọi địa hình: giữa sình lầy nước mặn, ở bãi bùn nước lợ với rặng dừa nước, ở gó đất với vài cây kè…đất thấp và trống trải, cọp có thể tạo căn cứ, kết bầy, sinh con, Những vị bô lão ở Tân Phước Khánh và Bình Chuẩn kể rằng: đất giồng gần bờ sông có nhiều cây đa, cây gừa mọc um tùm là nơi cọp thường bám giữ, ít đổi địa bàn vì sợ không tranh giành được với các đối thủ khác. Cho nên dân gian có câu: “Rừng nào, cọp nấy”. Tuy vậy, địa bàn nào có cọp thì dân khai hoang thường không phải sợ nai, sợ heo rừng phá hoại hoa màu, nương rẫy, bởi nai và heo rừng thường là loại thức ăn lý tưởng của cọp.

Đó là trên đất liền, còn khi bước xuống sông nước thì cá sấu là nổi kinh hoàng cho những người đi mở đất. Có không biết bao nhiêu người đã trở thành miếng mồi ngon cho cá sấu để cho thế hệ đi sau đúc kết kinh nghiệm: “đâm thẳng vào chiếc miệng há rộng của chúng! Chiếc miệng của cá sấu vừa là sự nguy hiểm cho con người khi bị nó ngoạm phải, nhưng đồng thời cũng là chổ yếu  của loài thú này – đó là chổ mềm mại nhất của loài cá sấu mà con ngươi dễ làm sát thương nhất!”. Từ đó mới có câu thành ngữ “Thứ nhất là phá sơn lâm, thứ hai là đâm hà bá”. Phá sơn lâm là phá rừng núi, túc là loại trừ địa bàn cư trú của cọp, đâm hà bá là đâm vào chổ nhược của loài cá sấu – ác thú dưới sông nước!.

Những kinh nghiệm diệt trừ thú dữ của lưu dân người Việt vào khai phá đất phương Nam không những hình thành từ những kinh nghiệm thực tiễn mà còn học hỏi ngay lớp cư dân bản địa đã từng cư trú lâu đời. Riêng ở trên mảnh đất Tân Phước Khánh – Bình Chuẩn có người Khmer, người Stiêng, người Mạ, người Châu Ro…

Ở vùng Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn người Việt đã tiếp thu văn hóa của người Khmer trên bước đường mở đất như: tập tục nhà trai thường trao sính lễ đính hôn cho nhà gái là đôi bông tai để cô dâu đeo…Quá trình giao lưu văn hóa đó cũng diễn ra cả trên lĩnh vực võ thuật: ngươi Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn xưa thường sử dụng ngón đá vòng cầu bằng ống chân giống như võ thuật của người Khmer…

Cũng trên vùng đất mới thời khai hoang, bộ máy cai trị của chính quyền còn lỏng lẻo đã dẫn đến nạn trộm cướp, phá rối trật tự trị an khá nhiều. Một mặt do tình hình dân cư khai hoang lập ấp vốn đa phần là dân tứ chiếng, nghèo đói cho nên “ngựa quen đường củ”. Một mặt khác, “người Miên (túc dân Chân Lạp) cư ngụ trên lãnh thổ Việt Nam dường như sẵn sàng hưởng ứng chống đối quan lại địa phương khi ở Cao Miên (tức nước Chân Lạp) phong trào lên cao”. Do vậy, những lớp người đến khẩn hoang đầu tiên không phải đều gặp những thuận lợi, dễ dàng, bởi một mặt họ luôn phải sẵn sàng diệt trừ các loài thú dữ để tồn tại, một mặt họ luôn sẵn sàng đương đầu với bọn cường hào, ác bá, cướp bóc để bảo vệ thành quả lao động của bản thân, gia đình, chòm xóm…

Chính trong điều kiện thiên nhiên và xã hội khắc nghiệt như vậy, để có thể tồn tại trên vùng đất mới, thế hệ người Việt đi mở đất một mặt phải đoàn kết nhau lại, một mặt tận dụng tất cả kiến thức, kinh nghiệm để bảo đảm sự bình an cho tính mạng và thành quả lao động. Sách “Lịch sử khai phá vùng Nam Bộ” ghi: “ Lưu dân người Việt khi vào vùng đất mới làm ăn sinh sống, đến đâu họ cũng nhanh chóng kết thành chòm xóm, để dựa vào nhau làm ăn, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau những lúc gặp khó khăn hoạn nạn, bảo vệ cho nhau, chống lại thú dữ, cướp bóc, cường hào”.

Trong thực tiễn, không gian sống của vùng đất mới không giống như ở quê cha đất tổ tại miền Trung, miền Bắc, vốn liếng võ thuật truyền thống dân tộc mang theo dù “đạm bạc, ít ỏi” nhưng những kiến thức võ thuật tiếp thu của dân tộc anh em và kinh nghiệm đúc kết được từ thực tiển cuộc sống, trên cơ sở đó, những người mở đất sáng tạo thêm những đòn thế, bài bản võ thuật mới để thích nghi với thiên nhiên và xã hội no7inque6 hương mới, làm phong phú thêm vốn liếng võ thuật mà họ mang theo.

Năm 1679, hai võ tướng Trân Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch của triều đình nhà Minh ( Trung Quốc) không khuất phục trước sự lật đổ triều đại nhà Minh của những người Mãn Thanh, đã cùng với 3.000 binh sĩ và gia đình chạy sang Đại Việt xin tá túc và được chúa Nguyễn cho vào sinh sống tại đất Đồng Nai và Mỹ Tho.

Dương Ngạn Địch đã chọn đất Mỹ Tho, còn Trần Thuông Xuyên thì đến đất Đồng Nai xây dựng cuộc sống mới và tạo lập nên Cù Lao Phố nổi tiếng. Dĩ nhiên, vùng đất Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn xưa là mảnh dất nằm giữa hai con sông Phước Long ( tức sông Đồng Nai) và sông Tân Bình ( tức Sông Sài Gòn) thuận tiện cho việc giao thông, không xa cách lắm khu vực Cù Lao Phố, lại có mỏ đất sét thuận tiện cho việc phát triển nghề gốm. Do vậy, nhiều người Hoa đã tìm đến làm ăn, buôn bán, xây lò phát triển nghề gốm như một lẽ tất nhiên. Bên cạnh đó, người Hoa còn mang đến vùng đất Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn xưa nhiều đòn thế võ Trung Hoa, Vì tất cả họ đều thuộc tướng sĩ của Trần Thượng Xuyên rất giỏi võ nghệ. Đó là dòng võ Tiều (võ của người Triều Châu), võ Hẹ (võ của người Hẹ – Hakka Quảng Đông), võ Tàu ( võ của người Phúc Kiến)…Đó chính là cơ hội để cư dân Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn xưa học hỏi thêm nhiều đòn thế võ Trung Hoa nổi tiếng, để chắt lọc, bổ sung cho môn võ miệt rừng.

Đến năm 1802, khi Nguyễn Ánh lên ngôi, lợi dụng chính sách mộ dân lập ấp của nhà Nguyễn, nhiều lưu dân Tây Sơn – Bình Định đã vào đất Đống Nai – Gia Định sinh sống.

Tương truyền rằng, trong đoàn người từ Bình Định kéo vào khai khẩn đất hoang dựng trại cất nhà sinh sống ở vùng Truông Mây có một gia đình thuộc dòng dõi tướng lĩnh nhà Tây Sơn, Gia đình tướng Ta7y Sơn nói trên có một người con gái tên là Trà, không rõ họ – vốn là binh sĩ thân tín của nữ tướng Bùi Thị Xuân. Cũng có nhiều ý kiến cho rằng cô mang họ Võ – Võ Thị Trà, tuy nhiên cho đến nay, các nhà khoa học vẩn chưa tìm thấy tài liệu nào làm cơ sở khoa học để minh chứng cho những ý kiến trên,

Do sức khỏe tốt,giỏi võ nên cô (Bà Trà) cùng dân xiêu tán khai phá đất hoang trồng tỉa, làm ăn, trừ diệt cọp dữ bảo vệ xóm làng. Lúc rảnh rỗi, cô còn chỉ dẩn, luyện tập võ nghệ Tây Sơn cho thanh niên trai gái, Do vậy, ở vùng Truông Mây, trai gái đều biết đi roi, múa quyền. Đặc biệt, dưới sự tổ chúc, chỉ huy của cô Trà, thanh niên trai tráng vùng Truông Mây còn đánh tan nhiều băng cướp, chống trả lại sự áp bức, đán áp của bọn cường hào ác bá, bảo vệ bình yên cho bà con xóm ấp. Hơn nữa, tuy rất giàu có, nhưng cô Trà rất siêng năng, cần mẫn và có lòng nhân hậu, thường hay giúp đỡ những người nghèo khổ, thất cơ lỡ vận, nên được mọi người yêu mến, quý trọng.

Tiếng lành đốn xa, dân nghèo các nơi kéo về vùng Truông Mây ngày một đông – nơi có cô con nhà võ tướng Tây Sơn để làm ăn sinh sống. Người dân xiêu tán gọi cô là Bà Trà và từ vùng đất Tân Khánh đến làng Bình Chuẩn vốn là địa bàn hoạt động của Bà Trà đều được dân xiêu tán gọi là “đất Bà Trà”

(dấu tich1duy nhất còn lại hiện nay ở vùng này là một nhà thờ Công giáo có tên gọi Bà Trà đang tọa lạc ấp Bình Phú, xã Bính Chuẩn, huyện Thuận An).

Tại vùng đất mới, Bà Trà không những luyện tập, truyền võ Tây Sơn Bình Định cho thanh niên trai tráng, mà cô còn học hỏi, tiếp thu các chiêu thức, thế võ, các bài quyền cước của những người khai hoang trước đó. Sự kết hợp kỳ diệu của võ Tây Sơn với võ của dân xiêu tán vùng Ngũ Quảng khai phá vùng đất Đồng Nai- Gia Định, pha trộn với võ thuật của dân cư bản địa, võ thuật của người Minh Hương để hình thành nên một hệ thống kỹ thuật võ thuật mới – được người dân gọi là võ Tân Khánh – Bà Trà; “võ Bà Trà – Tân Khánh” hay còn gọi là” võ lâm Tân Khánh – Bà Trà”; “võ lâm Bà Trà – Tân Khánh”.

                                                                              

     

  Nguyễn Văn Quốc

Tài liệu tham khảo:

– Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong,NS Khai Trí XB,SG,(1969)

– Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, bản dịch Viện Sử học,NXB KHXH,HN(1977)

– Huỳnh Lứa, Vài nét về tiến trình khai phá vùng đất Bình Dương trong các TK XVII – XVIII và nửa đầu TKXIX, TTKHLS số 13, Hội KHLS tỉnh BD, XB(2008)

– Trần Bạch Đằng, Địa chí tỉnh Sông Bé, NXBTH, SB, (1991)

– Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam, NXB ĐP, SG (1973)

– Huỳnh Lứa, chủ biên, Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, NXB TPHCM (1987)

– Nguyễn Văn Bình, Lịch sử truyền thống Đảng bộ và nhân dân xã Bình Chuẩn, NXB CTQG, HN (2008)

2 thoughts on “Tân Khánh Bà Trà

  1. ban co tu lieu,bao the thao 1970-1975 noi dung viet ve cac tran dau dai tinh vo cho lon 1970-1975,xin chia se khanh rat dam mo tu lieu tren cam on nho gui tin cho khanh

    Like

    • Um, minh cung moi tim xem thong tin gan day thoi , con truoc do hau nhu khong biet gi nhieu , nhung nam 70-75 vo co truyen noi chung va tinh vo cho lon chac cung bi chinh quyen luc bay gio ngan cam nen bai viet hay bai bao , tai lieu hau nhu khong co nhieu , ban nen gap nhung bac tien boi de hoi se co nhieu thong tin hon.

      Like

Thank for your comments

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s