Lý Tiểu Long – bí quyết chiến đấu và đạo trong Triệt Quyền Đạo


Tiểu Long

Ngày sinh: 27-11-1940

Ngày mất : 20-07-1976

Sư phụ: Diệp Vấn (Yip Man)

Môn phái: Vĩnh Xuân (Wing Chun) Siêu sao điện ảnh võ thuật

Người sáng lập môn phái Triệt Quyền Đạo (Jeet Kune Do)

Là một trong những người đi trước thời đạị, trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, Lý đã thể hiện một sức mạnh sống động và sự quả cảm kiên cường để phát triển võ thuật ở Hoa Kỳ. Ngay sau cái chết của anh, người ta lập tức nhận ra ảnh hưởng to lớn anh để lại khi võ thuật trở nên đại chúng hóa trên

đất Mỹ.

Sinh ra ở San Francisco, chính vị bác sĩ đã đỡ đẻ cho bà mẹ, đã đặt cho Lý cái tên Mỹ – Bruce Leẹ Tên Trung Hoa của Lý là Lý Trấn Phiên (Lee Jun

Fan). Cha Lý – Lee Hoi Chuen, một diễn viên vũ đạo Trung Hoa đã đưa gia đình trở về Hồng Kông sinh sống cho đến khi Lý mười chín tuổị Từ những năm ấu thơ, Lý đã được dạy võ thuật và ca kịch mà Lý rất ưa thích. Năm lên 6 tuổi, Lý đã là một diễn viên nhỏ tuổi xuất hiện trong rất nhiều phim. Lý học Kung-fu rất sớm và tập trung học Vịnh Xuân với sư phụ Diệp Vấn từ lúc 13 tuổị Lý cũng học quyền Anh trong trường học.

Lý quyết định trở lại Hoa Kỳ năm 1959 và ghi tên học Triết ở trường Đại học Seattle (Washington). Lý dạy võ thuật trong những giờ rảnh rỗi để trau dồi và hoàn thiện võ thuật của chính anh. Lý mở một võ đường đặt tên “Viện Kung-fu Trấn Phiên”. Võ đường duy trì cho đến năm 1963. Chính trong giai đoạn này, Lý gặp Linda Emery và hai người đã kết hôn. Sau đó, Lý chuyển về sinh sống tại Oakland. Tại đây cùng một đồ đệ là James Lee, Lý mở một võ đường thứ haị ở giai đoạn đó có nhiều cuộc biểu diễn để đại chúng hóa môn Kung-fu còn rất ít người biết đến. Một trong những cuộc biểu diễn đó là giải vô địch Karate quốc tế của Ed Packer, Lý đã tham gia giải nàỵ Một cuốn băng ghi hình cuộc biểu diễn đã lọt vào mắt Bill Dozier – nhà sản xuất

 quyết chiến đấu & đạo trong Triệt Quyền Đạo

Loạt phim truyền hình “The green hornet” (Thanh Phong Hiệp). Không lâu sau đó, Bill mời Lý thủ vai Kato trong loạt phim nàỵ

Lý  đã  đến  Hollywood  nhưng  không  hài  lòng  lắm  với  loạt  phim  Thanh Phong Hiệp. Lý mở một võ đường khác ở China Town (Los Angeles). Lúc này võ công của Lý đã thể hiện những nét chuyển biến manh nha khởi sinh một võ phái mớị Đó là môn Jeet Kune Do (Triệt Quyền Đạo) sau nàỵ Trong những năm sống ở Los Angeles, Lý đã truyền dạy võ công cho một số diễn viên  nổi  tiếng  như  James  Garner,  Steve  Mc.  Queen,  Stirling  Silliphant… Những  đồ  đệ  này  giúp  đỡ  Lý  bằng  cách  mời  Lý  đóng  những  loạt  phim truyền hình như “Long street” (Con đường dài) và đôi khi một vai phụ như trong phim “Marlowe”.

Khuynh hướng ở Hollywood lúc bấy giờ là không chấp nhận những diễn viên người Hoạ Lý hiểu điều đó, biết rằng muốn thành công trong lĩnh vực điện ảnh phải trở về Hồng Kông. Lý đã làm điều đó vào năm 1971. Cuốn phim đầu tiên Lý đóng vai chính là “The big boss” (Đường Sơn đại huynh) hợp tác với hãng phim Golden Harvest của Raymond Chow. Cuốn phim đã vượt kỷ lục về doanh thu ở Hồng Kông và các nước Đông Nam Á. Cuốn phim thứ hai thành công hơn, đưa Lý lên ngang bằng các diễn viên nổi tiếng phương Tâỵ Đó là phim “The first of jury” (Tinh võ môn). Trong các phim này, Lý đã thi triển một thứ võ thuật tinh diệu rất đẹp mắt phù hợp với điện ảnh  bằng  những  cú  đá  thượng  đẳng  bay  bổng  như  chớp  sẹt  và  những  cử động đòn thế đầy kịch tính không kém phần hữu hiệụ Dan Inosanté, bạn và cũng là học trò Lý đã nhớ lại: “Lý đã thi triển không hề lẫn lộn Triệt Quyền Đạo điện ảnh và Triệt Quyền Đạo chiến đấu thực sự”.

Nhờ  vào  thành  công  của  những  cuốn  phim  trên,  Lý  đã  có  cơ  hội  thực hiện một cuốn phim do chính anh viết kịch bản, đạo diễn và dàn dựng. Đó là “Return  of  the  dragon”  (Mãnh  long  quá  giang)  với  Chuck  Norris,  vô  địch Karate Mỹ bạn của Lý trong vai chính thứ hai. Cuốn phim cũng thành công vang dộị Lý bắt đầu quay cuốn phim “Game of death” (Tử vong du hí) với Kareem Abdul Jabbar, cầu thủ bóng rổ cao 2m2 và Dan Inosanté. Các hãng phim  Mỹ  đem  đến  cho  Lý  một  vai  diễn  nổi  bật  trong  phim  “Enter  the dragon” (Long tranh hổ đấu), một cuốn phim hợp tác giữa hai hãng Golden Harvest  (Hồng  Kông)  và  Warner  Bros  (Mỹ).  Lý  mất  khi  quay  xong  Long tranh hổ đấu trước khi trở thành một siêu sao thần tượng thực sự trên quê me.

Một nghề nghiệp của Lý khác là viết sách võ thuật. Những quyển sách của Lý như “Kung-fu Trung Hoa, một triết lý tự vệ”, “Đạo của Triệt Quyền Đạo” đã được in sau khi anh qua đời.

Bí quyết của siêu danh thủ
1. Chương trình tập luyện
Lý đã sáng tạo những chương trình tập luyện cá nhân cho những đồ đệ để phát triển khả năng và sự dẻo daị Sau Dan Inosanté, Lý đã dạy cho một vài đồ đệ khác căn bản của sự cương nhu, sự linh động sức mạnh, cường đô…. Lý đã phát triển một hệ thống bài tập gia tăng sức mạnh đôi tay và chân. Ngoài một bao cát nặng và trái bóng có lò xo dùng để tập đấm đá, Lý còn sử dụng một cái bao treo ngang tầm ngực được nối liền với sàn và trần nhà. Lý cũng dùng chân gấu và một “mộc nhân” xoay trở được.Lý đã tập rất hăng say và luôn tìm ra phương cách để tập luyện mọi lúc mọi nơi ngay cả khi đang xem truyền hình, khi đang ăn cơm chiều, khi đang thảo luận với bạn bè. Lý chạy bộ mỗi ngày và cho rằng chạy bộ là một bài tập tốt nhất.
2.Chế độ dinh dưỡng
Dan Inosanté nhớ rằng món ăn thích nhất của Lý là nghêu, sò, ốc, hến, cơm và thức ăn tự nhiên. Lý đã đến Hồng Kông với những két đầy thực phẩm sinh vật và những thứ thức uống chứa đầy protein. Thức uống ưa thích nhất của Lý là một hỗn hợp gồm sữa bột, trứng, vỏ trứng, dầu thực vật, đậu phộng và đá đập nhỏ. Lý cũng có thói quen uống sinh tố: táo, cà rốt, dâu tâỵ

3.Triết lý võ thuật
“Sự sống của giao đấu chính là giao đấụ Một cú đấm, một cú đá không chỉ được dùng hạ gục một kẻ nào đó, nó còn giúp chúng ta khắc phục lòng tự kỷ, sự sợ hãi và những mâu thuẫn trong tâm hồn chúng ta”.

  1. Cổ truyền hay đổi mới
    “Tôi hy vọng giải thoát những bạn bè của tôi khỏi sự lệ thuộc vào một vài võ phái, lý thuyết và kỹ thuật… tất cả những gì cấm đoán, gò bó. Những kiểu mẫu cứng ngắt không có một chút thích ứng nào với sự linh hoạt mềm dẻọ .Chân lý ở bên ngoài những kiểu mẫu cứng ngắt. Con người là một tạo vật sống động, một chủ thể sáng tạọ Những gì con người thi triển theo bản năng và phản xạ có được do tập luyện thích nghi với từng trường hợp một luôn luôn hữu hiệu hơn là những hệ thống, kiểu mẫu đã được định sẵn”.
  2. Những sự đổi mới
    “Thay đổi cùng với sự đổi thay, đó là con người bất biến trong Triệt Quyền Đạọ Chúng ta không tích lũy mà ngược lại thải bỏ bớt. Không phải là vấn đề chất thành đống những kiến thức võ học, những kỹ thuật đòn thế, nhưng động tác dư thừa mà là giảm bớt chúng bằng cách chắt lọc và chỉ giữ lại những gì tinh túy nhất. Văn hóa chân chính là sự đơn giản. Tất cả các nền văn hóa bị ứ đọng trì trệ đều đầy những thứ vụn vặt vô giá tri.. Khi một cá nhân không bị gò bó bởi một hình thức nào, anh ta có thể tiếp nhận mọi hình thức. Khi một cá nhân không bị ràng buộc bởi kiến thức của một võ phái nào, anh ta có thể tiếp thu mọi võ phái”.

  3. Những thuận lợi của Triệt quyền đạo
    “Người tập luyện Triệt Quyền Đạo sau những võ phái khác là người đã được giải thoát khỏi những kỹ thuật cổ truyền gò bó. Triệt Quyền Đạo là một nghệ thuật tự vệ sống động, trực tiếp, đơn giản và hiệu quả. Triệt Quyền Đạo tiếp thu chứa đựng những tinh hoa, những kỹ thuật hữu dụng, loại bỏ những thứ vô du.ng. Triệt Quyền Đạo giúp cho mỗi người chúng ta trở thành những tay võ công lão luyện”.


Người sáng lập là Lý Tiểu Long với sự kết hợp các môn võ Trung Hoa (như Vịnh Xuân Quyền) và các môn thể thao phương tây (như quyền anh, thể dục thể hình,…) và quan trọng hơn bộ tấn và cách di chuyển của tiệt quyền đạo được lấy từ môn đấu kiếm của phương tây.

Tên của môn võ này chữ Hán là 截拳道. Nếu dịch theo đúng nghĩa Hán Việt thì phải đọc là Tiệt quyền đạo. “Tiệt” có nghĩa là “cắt đứt” hay “một đoạn”. Ý nghĩa này theo Lý Tiểu Long là vì môn võ khi đánh cắt đứt đường quyền của đối thủ, trước khi đối thủ có thì giờ phản ứng. Tuy nhiên, nhiều người dịch lầm là Triệt quyền đạo, với ý tưởng là “triệt tiêu” địch thủ. Tên này nghe hay hơn nên trở nên phổ thông ở Việt Nam, mặc dù không đúng ý nghĩa của người sáng lập là Lý Tiểu Long.

Chiến thuật Tầm kiều – Phá mã là một chiến thuật phổ biến trong tất cả các hệ phái Nam Quyền từ Hồng Gia Quyền cho đến Bạch Mi Quyền, Vịnh Xuân Quyền, Phật Gia Quyền, Chung Ngoại Châu Gia, Thái Gia Quyền. Triệt Quyền Đạo (Jiequandao) của Lý Tiểu Long cũng phát triển trên nguyên lý này thành 2 nguyên lý căn bản của Triệt Quyền Đạo

Triệt Đầu Quyền: Ngăn chặn đòn của đối phương ngay từ trong gốc trước khi phóng ra đến mục tiêu trên người ta (nên mới gọi là Triệt Đầu Quyền, Triệt có nghĩa là ngăn chặn khi quyền đối phương mới khởi phát).

Tiếp Vĩ Quyền: Đối phương vừa dứt đòn hết tầm ngay lập tức ta xuất thủ tiếp quyền đối phương (nên mới gọi là Tiếp Vĩ , Vĩ là cái đuôi, ý nghĩa là như vậy). Chữ Kiều có nghĩa là cây cầu, ở đây chỉ khoảng cách đo lường giữa ta và đối phương.

Tuy nhiên có một đặc điểm trong kỹ thuật quyền pháp của Trung Hoa rằng khái niệm Kiều có nghĩa là Điếu Kiều tức là cái cầu ở cửa thành ngày xưa hạ xuống cho người ra vào, nên khi muốn tấn công đối phương nghĩa là trước khi công thành ta phải phá cửa thành (Phá Kiều) rồi mới xông vào thành, tức là đánh gẫy (triệt hạ) tay chân (quyền cước) đối phương trước rồi mới công thành.

Xét cho cùng Triệt Quyền Đạo của Lý Tiểu Long không có gì quá mới mẻ mà chỉ là sự phát triển trên cơ sở các nguyên lý quyền kỹ Nam phái , cụ thể là Hồng Gia Quyền và Vịnh Xuân Quyền.

Nhưng sự sáng tạo của Lý Tiểu Long ở chỗ là huyền thoại võ thuật này đã nhấn mạnh đến tính đơn giản, trực tiếp và phi cổ điển. Nghĩa là phải chăng Lý Tiểu Long đã chối bỏ mọi hình thái quyền pháp Nam phái để tiến đến nguyên lý vô chiêu thắng hữu chiêu?

Thật ra không phải như vậy.

Lý Tiểu Long muốn nói rằng mọi nguyên lý triết học Trung Hoa trong võ thuật như Âm – Dương, Cương – Nhu, Hư – Thực, Động – Tĩnh và các hình thái quyền pháp (tức là những Chiêu thức, Chiêu số ) chỉ là lột tả cái ý niệm sống động nào đó của quyền thuật. Các ý niệm quyền thuật này thể hiện ở ngay tên của các chiêu thức quyền pháp trong bài quyền theo cách tư duy tượng hình (mô phỏng) có tính ví von và so sánh bằng hình ảnh của người xưa.

Chẳng hạn ở tư thế Trung Bình Tấn (Hồng Gia Quyền Hồng Hy Quan gọi là Tứ Bình Bát Phân) một tay quyền để ở hông còn tay kia xuất quyền đánh thẳng ngang về phía một bên hông của tay đó có tên là Hoa Vinh Xạ Tiễn ám chỉ động tác tay vung quyền tấn công tựa như dang cánh cung về một bên, trong khi tay còn lại nằm ở hông giống như đang nắm mũi tên kéo về sắp sửa bật dây cung bắn ra, còn Hoa Vinh là tên của một trong 108 anh hùng Lương Sơn Bạc trong tiểu thuyết Thủy Hử của Thi Nại Am. Hoặc chiêu thức Ngọa Hổ Tầm Dương (cọp nằm bắt dê) chẳng hạn. Còn nếu như hai tay nắm thành quyền nằm ở hai bên hông thì gọi là Nhị Hổ Tiềm Tung (như hai con cọp nằm hai bên cổng) hay Long Tàng Hổ Phục (rồng và cọp nằm hai bên chờ thời xuất công)…

Do vậy Lý Tiểu Long đã đưa ra khái niệm Triết học vận động (Philosophy in Motion) trong võ thuật có nghĩa là giữa các hình thái quyền pháp – tức là các chiêu thức – luôn có sự biến hóa có thể không theo một trình tự nhất định nào để trở thành một khuôn vàng thước ngọc mà tùy theo khả năng ứng biến theo tình thế của người luyện tập và trong khi chiến đấu ngoài đời thật sự. Đó là tư tưởng “Không câu chấp, không câu nệ và vạn pháp hư không” trong thuyết lý Thiền Tông Phật Giáo Trung Hoa.

Và Lý Tiểu Long đã đi đến kết luận Học nguyên tắc rồi giải trừ nguyên tắc, nghĩa là qua sông rồi thì nên để lại thuyền mới đi tiếp được, nếu cứ câu nệ vào phương pháp tức là quá quan tâm đến hình thức mà không hướng đến nội dung thì tâm pháp bị vướng bận, năng lực bị giam hãm và không được giải phóng thì cho dù có tập luyện quyền thuật lâu ngày cũng không có kết quả gì.

Như vậy người mới học quyền thuật rất cần các hình thái quyền pháp căn bản, đến khi tinh luyện rồi thì thiên biến vạn hóa, từ chỗ có chiêu số đi đến chỗ không có chiêu số nghĩa là Vô ảnh quyền, vô ảnh cước, mọi cử động bất kỳ của thân thể cũng có thể trở thành chiêu thức (Techniques) phòng thủ, tấn công hay phản công đối phương hữu hiệu.

Tóm lại, kỹ pháp Triệt Quyền Đạo là dùng bất cứ kỹ pháp nào có thể vận dụng, là cái vô hạn, linh hoạt.

Linh hồn của Triệt Quyền Đạo chính là sự thành thục hoàn hảo đối với kỹ thuật, nó phải được nuôn dưỡng, hình thành từ những linh cảm được tỏa sãng trong tâm linh, biến những kỹ pháp thành năng lực đặc hữu của riêng mình, cộng thêm sự tôi luyện lâu dài đối với trực giác, cuối cùng có thể đạt đến mức hoàn hảo có thể dựa vào phản ứng bản thân và cảm nhận trực giác để có thể vận dụng nhanh chóng và tự động hóa bất kỳ kỹ pháp nào của bản thân để ứng phó với mọi biến hóa của ngoại cảnh. ( Triệt Quyền Đạo mang tính thời đại cao đi thẳng vào bản chất vũ trụ, giúp võ sinh thực chiến, rèn luyện toàn diện một cách nhanh chóng, thể hiện sự tự do chính bản thân mình, không cầu kỹ như võ thuật truyền thống ( học võ thuật truyền thống không đúng thầy đúng thợ thì chỉ được mỗi cái sức khỏe mà thôi ).

Sưu tầm internet.


Triệt Quyền Đạo 

Triệt Quyền Đạo là môn võ thuật thuần tuý lấy thực chiến làm mục đích. Lý Tiểu Long là người sáng lập môn võ này với nền tảng Vịnh Xuân Quyền, đồng thời hấp thu tinh hoa của các môn võ khác như Karate, Quyền Anh, Quyền Thái… dung hợp lý luận triết học Đông – Tây hình thành môn võ Triệt Quyền Đạo với đặc điểm: không có chiêu thức nhất định, tuỳ cơ ứng biến, chú trọng sự kết hợp tâm lý, tốc độ, điều hoà, cân bằng năng lực phản ứng. Đặc trưng kỹ thuật Triệt Quyền Đạo là đơn giản, nhanh nhẹn, nhẹ nhàng, mạnh mẽ, hiệu quả, thể hiện phong cách gan dạ, không sợ kẻ mạnh, dũng cảm chiến đấu.
Tư tưởng chủ đạo và kỹ thuật đặc trưng của triệt quyền đạo được LTL :– CHÚ TRỌNG HUẤN LUYỆN TINH THẦN
LTL từng nhấn mạnh: Sức mạnh tinh thần của bạn sẽ khiến cho bạn sáng tạo kỳ tích.LTL tiến hành nghiên cứu một cách kỹ lưỡng về khí công truyền thống Trung Hoa và tâm lý học phương tây, tự sáng tạo nên một phép tập luyện về Ý niệm lực và Hô hấp lực trong Trệt Quyền Đạo. Luyện tập phép này có thể giúp môn sinh khắc phục được tâm lý sợ sệt khi lâm trận, tập trung toàn lực về ý chí và tinh thần vào cuộc chiến, đạt đến mục đích thể năng phát huy hiệu quả lớn nhất, nâng cao hết khả năng tấn công và phòng thủ.a/ Huấn luyện sự buông lỏng cơ thể trong mọi tình huống.
Cơ thể con người khi buông lỏng mới có thẻ phản ứng nhanh, tay chân quyền cước mới linh hoạt, kình lực mới mạnh mẽ. LTL tu chỉnh phương pháp tự ngã thôi miên trong tâm lý học tạo thành kỹ thuật huấn luyện buông lỏng cho mình.

b/ Điêu tiết tình cảm và ổn định tinh thần tự ngã.
Đây là tập luyện sự gan dạ và bồi dưỡng sức mạnh tinh thần Đai- vô-uý. Không thể khống chế tình cảm sẽ làm cho tinh thần không ổn định mà rong chốc lát mất đi cơ hội tấn công. Tập luyện tinh thần chủ yếu là thông qua các phương pháp tự ngã ám thị, tưởng tượng, tập trung sức chú ý.
– Chú trọng huấn luyện tố chất cơ thẻ và kỹ thuật chiến đấu.
LTL chú trọng việc bồi dưõng tố chất cơ thể và kỹ thuật chiến đấu, trong trình tự huấn luyện phải kết hợp quyền lý và công phu cơ bản để luyện tập. Lý chủ truơng người luyện võ khi có một cơ sở nhất định thì mới nêntập luyện đối kháng, để cho người luyện tập kết hợp chiến thuật, lãnh hội được quyền lý và kỹ thuật quyền cước được mạnh mẽ, sắc bén của triệt quyền đạo, từ đó nâng cao năng lực trong thực chiến.
Luyện tập đối kháng bao gồm Đối kháng có quy ước và đối kháng tự do. Tập luyện trươc kỹ thuật công thủ, đánh đỡ có bài bản, dần dần củng cố động tác công thủ, tăng cường khả năng thực chiến, từ đó mà tiến tới đối kháng thực chiến tự do. Đối kháng tự do hai bên áp dụng những đòn thế đã học, có thể cải tiến hoặc sáng toạ thêm động tác, đòn thế, dần dần tiến đến khả năng công thủ tự do, không có chiêu thức nhất định, tuỳ cơ ứng biến ( tránh tình trạng chưa lãnh hội được căn bản đã đòi sáng toạ và cải tiến như thế chỉ gọi là cải lùi mà thôi ).

Chú trọng tư thế thực chiến, công thủ trung tuyến

LTL nhấn mạnh, trong thực chiến phải: phòng thủ theo trung tuyến ( tuyến giữa ) đồng thời tấn công đối phương cũng ở trung tuyến ấy. Bởi vì ngưng bộ vị trọng yếu ở đấy mà bị tấn công đều dẫn đến bị thương, tàn tật thậm trí táng mạng. Đồng thời trung tuyến là trục tâm của cơ thể, tấn công trung tuyến có thể làm di động trọng tâm đối phương. Tư thế cảnh giới trang trong TQĐ là một tư thế thực chiến hiệu quả thực dụng, nó tạo cho phản ứng nhanh nhẹn và có lực.

Lấy phản ứng bản năng và trực giác tiến hành tấn công va phòng thủ

Để hiểu về phản ứng bản năng ta có một thí dụ: chẳng hạn khi tay chúng ta vô ý chạm phải điện thì theo phản ứng bản năng chúng ta sẽ nhanh chóng rút tay về ngay. Nhưng nếu lúc ấy chúng ta còn suy nghĩ nên rút tay về hướng nào, góc độ nào, rút tay như thế nào..thì sẽ bj chậm và bị giật ngay. ( đây cũng chính là phương pháp huấn luyện trong võ thuật truyền thống nhưng một số môn cũng đã bị thất truyền chính vì vậy dù tập lâu năm cũng không thể nào đối kháng tự do được chỉ nhăm nhăm sử dụng vài đòn ruột mà thôi nếu đối kháng với võ hiện đại thì thôi rồi )

Lấy tấn công làm phòng thủ, tiến hành phòng ngự mang tính tấn công

Nói đơn giản là lấy tấn công tích cực để thay vào phòng ngự tiêu cực, bị động. Phòng ngự là để tạo điều kiện có lợi để tích cực chủ động tấn công đối phương. Mỗi động tác phòng ngự phải kèm theo động tác phản công tức thì, đó là lợi dụng chỗ sơ hở tấn công. Nếu chỉ tiêu cực phòng thủ mà không tích cực tấn công thì đối phương sẽ đễ phát động tấn công chiếm lợi thế.

Triệt quyền đạo huấn luyện tổng thuật

Nhiệm vụ cơ bản của TQĐ là huấn luyện cho người học phát huy đầy đủ tiềm lực tự thân, nâng cao tối đa năng lực thực chiến đối địch, đạt đến khả năng tự do khi lâm trận, hạ gục đối thủ nhanh gọn. Nội dung huấn luyện bao gồm: huấn luyện tố chất, huấn luyện căn bản kỹ thuật, huấn luyện tâm lý, huấn luyện trí lực…

KỸ THUẬT CĂN BẢN TRIỆT QUYỀN ĐẠO

1/ Cảnh giới trang ( thế thủ )

2/ Luyện bộ pháp
Căn bản: bước trượt trước, bước trượt sau, bước đệm trước, buớc đệm sau, bước trượt thọc sâu trước, bước trượt dài phía sau, bước bật nẩy trước, bước thoái nhanh, bước chéo phải, bước chéo trái.
Cao cấp: Bước luồn thọc chân trước và chân sau, bước lướt vòng trái, bước chạy vòng phải, bước phóng đột biến.

3/ Luyện thủ pháp ( quyền, chỏ, chỉ, chưởng )

a/ Tay quyền
– Đòn đấm thẳng tay trước và sau
– Đòn đấm chéo tay trước và sau
– Đòn đấm thọc đoản quyền liên tiếp ( tay trước và tay sau )
– Đòn đập ngang tay trưóc và sau
– Đòn Đập xuống tay trước và sau
– Đòn bổ xuống tay trước và sau
– Đòn đấm vòng tay trước và sau
– Đòn móc hết tay trước và sau
– Đòn móc
– Đòn móc xúc tay trước và sau
– Đòn vung hết tay trước và sau
– Đòn rơve hai tay
– Đòn vẩy mu tay trước
– Đòn tạt mắt quyền
– Đòn Xúc ngược cạnh quyền.
– Quyền cắm đốt thứ hai tay trước và sau

b/ Chỏ pháp
– Chỏ ngang, chỏ dập, chỏ thọc, chỏ cắm, chỏ láy, chỏ tạt ( cả tay phải và tay trái )

c/ Chưởng pháp ( cạnh đao, đao ngược, lòng chưởng, chưởng căn, lưng chưởng, mũi đao, ngón tay )
Xuyên, ấn, vỗ, đập, tạt, đẩy, xỉa.

4/ Cước phấp


a/ Bàn long:

– Bàn long lướt chân trước
– Bàn long trượt chân trước ( phát lực và trượt về phía trước là một động tác )
– Bàn long thọc chân truớc
– Bàn long cắm chân trước ( cao cấp )
– Bàn long vươn chân sau

b/ Thọc gót hậu chân sau
c/ Đá tống

– Tống trượt trước
– Tống trước
– Tống sau

d/ Đá quẹt chân trước
đ/ Vòng cầu và phang ống

– Vòng cầu chân trước và sau ( thượng và hạ )
– Phang ống chân trước
– Phang ống chân sau

e/ Đá bật mu hạ bộ
– Bật trượt chân trước
– Bật chân sau
– Bật ngược chân trước

f/ Đá đạp chân trước và sau

g/ Đá dậm
– Dậm chân trước
h/ Điểm cước ( vào ống chân đối phương )
i/ Đập từ trên xuống
K/ Đá chặn lòng bàn chấn ( lan môn, khái, chặn )
l/ Đá quét thuận và quét nghịch
m/ Đầu gối
– gối đâm, gối xúc, gối vòng, gối bay, gối cắm
5/ Hông
Hất hông vào xương chậu đối thủ
6/ Hất vai trước

7/ Kỹ thuật vật nhanh

8/ Kỹ thuật đỡ và đánh cùng lúc ( đánh đỡ là một động tác )

9/ kỹ thuật né tránh phản công vào trung tuyến
Nội công chịu đòn, dưỡng sinh, phát kình lực TQĐ
Triệt quyền đạo đoản côn ( một đoản, hai đoản )

I) Triệt quyền đạo là gì: Rõ ràng là võ thuật Trung Hoa. Đó là một dạng võ thuật mà không có hệ phái, một môn võ không có bài quyền và là một môn võ đã thoát khỏi truyền thống.

 Nhiều nguyên lý của TQĐ được vay mượn từ môn đấu kiếm phương tây. Các nguyên lý này bao gồm chẻ nhịp, chặn đòn và các cách lướt đòn gián tiếp và trực tiếp. Nói một cách đơn giản và thực tế, môn võ của Lý là : “đấu kiếm mà không dùng kiếm”.
Sự nghiên cứu rộng rãi của Lý đã dẫn đến các nguyên lý làm phát triển môn võ như sau:
* Đơn giản trực tiếp và tiết kiệm: Các kỹ thuật không nên quá cầu kỳ phức tạp mà phải hướng trực tiếp đến mục tiêu với di chuyển ngắn nhất. Một cú đánh trực tiếp theo đường thẳng thì hiệu quả hơn cú đánh vòng.
* Di chuyển không lộ hướng: Không nên lộ một cách không cần thiết dự định di chuyển của mình, vì như vậy đối thủ sẽ biết mình định làm gì.
*Không giáo điều, không sử dụng bài quyền hoặc công thức cố định nào bởi chúng chẳng thể hiện tình huống chiến đấu thực tế.
*Phần thuận hướng phía trước: Các vũ khí mạnh nhất phải để phía trước, hướng về đối thủ, nên chúng có thể tiếp cận mục tiêu nhanh nhất và nguy hiểm nhất. Các vũ khí yếu hơn thì đặt ở phía sau, nơi chúng sẽ trở nên mạnh hơn vì nếu có tấn công chúng sẽ đi một quãng đường dài hơn (tạo lực lớn hơn).

II) 5 cách tấn công trong TQĐ

Khi hình thành môn TQĐ, Lý Tiểu Long nhận thấy rằng các thao tác phòng vệ thụ động
không phải là các tốt nhất, đầu đủ hiệu quả nhất để chống lại đối thủ. Ngược lại, Lý kết luận rằng các đòn di chuyển tấn công đẩy đối thủ vào thế phòng vệ mới là tốt nhất. Vì vậy, Lý đã nghiên cứu nhiều cách để cải thiện khả năng tấn công của môn võ này và áp dụng nhiều chiến thuật của kiếm thuật phương Tây và TQĐ. Được biết như là năm cách tấn công, chúng giới thiệu một tập hợp của các phương pháp tấn công trong một phạm trù nhỏ hẹp.

1. Tấn công đòn trực tiếp, tấn công heo một góc mà một người có thể vận dụng hiệu quả trong một động tác.
2. Tấn công liên hoàn, cho phép một người có thể ra nhiều kỹ thuật liên tiếp.
3. Tấn công không trực tiếp, liên tiếp là phương pháp đánh lừa sự phản ứng của đối thủ bằng cách nhử đòn để hạ gục đối phương.
4. Tấn công bằng cách thu hút làm cho đối thủ chú tâm tấn công vào một mục tiêu hở, sau đố phản đòn.
5. Tấn công bằng khóa tay đối thủ, làm cho đối thủ không thể tự vệ lúc đó ta có thể hoàn thành đòn tấn công.

III) Phòng thủ

Trong thể thao, một đội có khả năng tấn công cao mà có thể ghi điểm vẫn có thể thua nếu không biết ngăn ngừa đội đối phương ghi nhiều điểm hơn. Vì vậy, để có một kế hoạch tấn công chắc chắn, một đội biết cân bằng phải có khả năng phòng thủ hiệu quả.
Trong chiến đấu cũng vậy. Ngay cả khi ta có khả năng tấn công cao cũng sẽ có lúc ta phải tự vệ trước đòn tấn công hay phản đòn của đối phương. Nếu không phòng thủ, ta sẽ bị đánh bại cho dù kỹ năng tấn công tốt đến cờ nào đi chăng nữa.
Do đó, một mặt TQĐ nhấn mạnh sự tấn công và phản công chống lại đối thủ, thì mặt khác phát triển kỹ năng phòng thủ cũng là một yếu tố rất quan trọng. May mắn thay, LTL đã không xem nhẹ nó trong toàn bộ môn võ của anh. Ngược lại, nó là một khía cạnh quan trọng và không thể thiếu trong hệ thống kỹ thuật của môn võ này. Có rất nhiều phương pháp phòng thủ mà Lý đã đưa vào TQĐ:
– Sử dụng bộ chân để tránh bị đánh chúng
– Né đòn
– Đỡ gạt để triệt tiêu đòn tấn công
– Sử dụng các di chuyển tấn công để tránh bị tấn công.

IV) Sử phản đòn

Phản đòn là một cách mà bạn tăng cao khả năng tấn công mà bạn áp dụng ngay giữa đòn tấn công của đối thủ. Bất cứ khi nào có đòn tấn công vào bạn, trong khoảnh khắc cần thiết đối phương sẽ bị sơ hở, lộ ra mục tiêu cho bạn tấn công. Lúc đó đối phương rất dễ bị tấn công bởi vì ý đồ của kẻ tấn công là tập trung toàn bộ vào việc ra đòn và bỏ qua sự phòng thủ. Vì vậy, khoảnh khắc đó mang lại một cơ hội ngàn vàng cho bạn tấn công.
Phản đòn thường kết hợp giữa các động tác phòng thủ và động tác tấn công. Động tác phòng thủ có thể bao gồm gạt, lách, rùng người, lắc hụp… Các động tác tấn công có thể bao gồm các đòn đá, đấm, vật,… ý tưởng căn bản là bạn sử dụng kỹ năng tự vệ để tránh bị đối phương đánh trúng.. Cùng lúc, bạn sử dụng các vũ khí để tấn công đối thùa vào thời điểm anh ta dễ bị tấn công nhất.

V) Cự ly, thời điểm và nhịp độ.



ai cũng biết thành công trong một nỗ lực bao giờ cũng tùy thuộc vào sự đúng lúc, đúng chỗ. Điều này lại càng đúng trong chiến đấu. Ngay cả khi bạn biết ngàn kỹ thuật và thực hiện chúng một cách hoàn hảo, thì chúng cũng không mang lại kết quả như bạn mong muốn nếu bạn không đánh trúng mục tiêu .
Mặt khác bạn sẽ khó khăn phòng thủ nếu đối thủ luôn đánh trúng vào bạn, và kỹ thuật của bạn cũng trở nên vô dụng nếu đối phương biết cách phòng vệ trước các đòn tấn công. Vì vậy để cho tấn công và phỏng thủ đều thành công, bạn phải học cách tiếp cận đối thủ trong cự ly thích hợp. Bạn cũng phải học khi nào thì tấn công để đòn tấn công phát huy hết tác dụng. Cùng với đó là cách di chuyển để tránh đòn đánh của đối phương. LTL đã xác định ba điều cần thiết để tấn công chính xác: sự nhạy bén về thời gian, điều chỉnh cự ly thích hợp và việc áp dụng vận tốc và nhịp độ thích hợp. Các điều này phải được kết hợp với hành động của đối thủ.


VI) Đấu tập

Việc đấu tập phải được xem như một cơ hội cho cả hai người tập, học tập và phát triển. Nếu người này thấy khó khăn trước sự tấn công của người kia thì người kia nên tập chậm lại cho bạn tập theo kịp. Điều này không phải là vấn đề cái tôi.
Việc đấu tập không chỉ làm cho các bài tập của bạn trở nên thực dụng mà nội lực và thời gian là vấn đề cần được đặt lên hàng đầu. Đó là cách bạn đạt được tinh thần chiến đấu và quan điểm của mình. Bạn sẽ học cách điều khiển cảm xúc và các phản ứng nội
tiết để có thể duy trì sự bình tĩnh và giữ cho mình được thư thái.

 Nguồn từ: bruceleefc.hnsv.com


8 thoughts on “Lý Tiểu Long – bí quyết chiến đấu và đạo trong Triệt Quyền Đạo

  1. Tham khao them:

    Một số điều chưa biết về huyền thoại Lý Tiểu Long

    1. Khi Nhà diễn kịch Lý Phiên, Cha của Lý Tiểu Long qua đời lúc 64 tuổi, trong lúc tang lễ được cữ hành, Lý Tiểu Long từng khấn nhang và nói tuyên bố với mọi người là Ông chỉ cần sống được phân nửa số tuổi của Cha mình là đủ mãn nguyện, sự thật xảy ra như ông dự đoán – chết đúng lúc 32 tuổi.
      Bruce Lee 3 300×183 Một số điều chưa biết về huyền thoại Lý Tiểu Long
    2. Trong các cuộc phỏng vấn người Mẹ còn sống của Lý Tiểu Long về vấn đề được nói nhiều đến chuyện tuyệt tự trong dòng họ Lý, Bà cho biết là người Trung Hoa bà rất tin ở các truyền thuyết. Bà có dịp được chồng kể khi đọc qua cuốn sách gia phả rất xa xưa từ thời ông nội Lý Tiểu Long để lại, là giửa thế kỷ 18 trong nạn đói tại Trung Hoa lục địa, chính người cố của giòng họ Lý đã tạo và gây ân oán gì đó với người 1 người ăn xin đến nổi người ta phải chết cả 4 nhân mạng trong gia đình ông ta, trước khi nhắm mắt người ăn mày đó đã đem xác 4 người thân trong gia đình mình đến trước nhà của họ Lý và tuyên bố về sau nầy là 4 người nổi tiếng nhất của nhà họ Lý sẽ phải đền mạng. Điều đó có thể chứng minh qua cuộc đời của 2 người khá nổi tiếng nhất của gia đình họ Lý là chính bản thân Lý Tiểu Long và con trai là Brandon Lee, cả 2 chết khi lên cao nhất của đỉnh vinh quang trong khi lứa tuổi còn rất trẻ.
    3. Lúc 14 tuổi, Lý Tiểu Long say mê vô cùng môn khiêu vũ với vũ điệu “Cha Cha Cha”, ông từng mần mò tập luyện bất cứ lúc nào, và nơi nào mình đến. Năm 15 tuổi họ Lý đã chiếm giải vô địch Thiếu Niên “Cha Cha Cha” của Hồng Kông. Sau này khi sáng lập ra môn phái Triệt Quyền Đạo (Jeet Kune Do) Lý Tiểu Long từng nói rằng mình tập được lối chiến đấu nhanh nhẹn là nhờ cách bước chân của môn khiêu vũ rất hữu dụng trong môn võ thuật.

    4. Người đưa Lý Tiểu Long đế với danh vọng đầu tiên tại Hollywood chính là nhà tiền phong Karate Hoa Kỳ mang tên Ed Parker, người được gặp gở họ Lý trong cuộc thi đấu Karate quốc tế tại Long-Beach. Cuộc đời tài tử của Họ Lý tại Hoa Kỳ khởi đầu từ một phim tập “Green Hornet”, “Bat Man”, “Blondie” dựa theo truyện nhiều tập rẻ tiền mà trong hầu hết các phim Họ Lý phải mang mặt nạ (theo ý của đạo diễn phim bấy giờ là không muốn Lý Tiểu Long mang nét Á Châu trong phim), trước đó Lý Tiểu Long từng theo cha đóng các vai phụ cho các cuốn phim tại Hồng Kông. Qua phim “Green Hornet” Lý Tiểu Long đã đóng vai một Võ Sư Karate Nhật bí mật tên là KATO và nói vài câu vớ vẩn, khởi đầu phim được trả $20 đô la cho 5 ngày đóng phim.

    5. Trong tất cả các đồ đệ của Lý Tiểu Long, người ta có thể thấy rất nhiều tài tử nổi tiếng thời đó như Steve McQueen, James Coburn, Chuck Norris .v.v.. Chính tài tử James Coburn từng phải trả $250 Mỹ Kim cho 1 giờ tập riêng với Lý Tiểu Long, một số tiền tương đương với $5.000 Đô la tính theo thời giá hiện nay. Sau này khi Lý Tiểu Long mất đi khi tài tử James Coburn được báo chí phỏng vấn là tại sao chấp nhận trả một số tiền quá lớn như vậy khi tập luyện với Lý Tiểu Long – lúc đó vô danh chưa hề nổi tiếng như sau khi đóng các bộ phim ăn khách, chính James đã trả lời: “Cá nhân tôi không cảm thấy thích thú với bề ngoài hay kỹ thuật của Thầy Lý Tiểu Long, tuy nhiên tôi rất yêu thích cách nói chuyện mang đầy tính chất triết lý huyền bí của Á Đông khi giao tiếp với ông”.

    Về sau này người ta tìm thấy nhiều bảng viết tay về cách huấn luyện của Lý Tiểu Long dành riêng cho các đệ tử nổi tiếng của mình, có thể kể đến James Garner, Lee Marvin, Stirling Silliphant và người khổng lồ chơi bóng rổ cho đội LA Lakers – từng là đấu thủ khổng lồ của họ Lý qua phim “Trò chơi tử thần”.

    1. Con trai duy nhất và tài tử Brandon Lee cũng đã chết như tuyệt mệnh với 1 viên đạn y như cốt chuyện phim đóng cuối cùng của Lý Tiểu Long “Trò chơi tử thần”, sau khi Brandon Lee qua đời vì tai nạn khi đóng phim, các bác sĩ Hoa Kỳ đã mổ xẻ thi thể của anh ta để tìm thêm các lý do tai nạn, họ đã khám phá 1 điều và họ cho rằng dù không bị viên đạn vô tình bắn chết khi đóng phim anh cũng sẽ chết trong vài năm sau đó, vì gan và tim anh đã bị hư hại vì ung thư trong thời kỳ bộc phát cuối cùng mà anh đã không hề biết đến.
    2. Khi Lý Tiểu Long mất đi, rất nhiều lần các nhà làm phim đã tìm cách khám phá các tài tử Á Châu có khuôn mặt, tên họ hay phong cách giống ông để tạo dựng tiếp tục các cuốn phim.

    Bruce Li (tên thật là Ho Chung Tao), một tài tử người Đài Loan rất giỏi về võ thuật, thể dục nhịp điệu. Bruce Li có lối chiến đấu rất giống Lý Tiểu Long nhưng lại có dáng không đẹp nên chỉ hoàn tất được 3 cuốn phim theo phong cách họ Lý.

    Bruce Le (tên thật là Huan King Lung), một võ sư người Hồng Kông rất sáng giá, không được nhiều người ưa thích vì lối phá âm quá mạnh của người Trung Hoa Lục Địa không giống Lý Tiểu Long thật.

    Người được xem là giống Lý Tiểu Long thật nhất được hầu hết người ái mộ công nhận, chính là tài tử Tang Leung (tên thật là Kim Tai Chung), một võ sư người Hàn Quốc, ông đã đóng thế theo các đọan phim Lý Tiểu Long bỏ dỡ qua cuốn phim cuối cùng “The Game of Death” (Trò chơi tử thần). Sau này tài tử Tang Leung không thế đóng được 1 cuốn phim nào khác vì ai cũng nhìn anh qua nhân vật Lý Tiểu Long, cuối cùng anh đã đi tu tại 1 ngôi chùa bên Hàn Quốc.

    Bruce Leung (tên thật là Leung Siu Liang), người được xem là có những cú đá tuyệt vời không thua gì Lý Tiểu Long thật, nhưng lại không có nét gì giống Họ Lý.

    Trong đó có 1 người Việt Nam tại Hoa Kỳ tên là Nguyễn Kim Bình, anh ta có khuôn mặt rất giống với tài tử Lý Tiểu Long thật ngoài đời, anh Bình là một võ sư Thiếu Lâm Việt Nam, đóng vài cuốn phim không nổi tiếng cho lắm, về sau không thấy anh xuất hiện bất cứ phim nào nữa.

    Sau này và mới nhất là tài tử Dragon Lee, một võ sư Hàn Quốc thuộc môn phái Taekwondo, đóng rất nhiều phim tài liệu về họ Lý, Dragon Lee có rất nhiều ưu điểm nhất hơn hẳn trong tất cả các tài tử từng thử thay thế Lý Tiểu Long vì anh gốc người Trung Hoa, từ nhỏ sống tại Hoa Kỳ nên tiếng Anh khá chuẩn, ngoại hình đẹp làm cho giới phim ảnh Hollywood rất hài lòng.

    1. Qua cuốn sách hồi ký viết về Lý Tiểu Long, một trong những đồ đệ thân tín của họ Lý đã viết về câu chuyện giửa Lý Tiểu Long và nhà vô đich quyền anh thế giới Muhammed Ali như sau, thần tượng của Lý Tiểu Long như sau:

    “Một hôm Lý Tiểu Long tìm thấy tại phòng thâu phim một đoạn tài liệu về Muhammed Ali. Ali lúc đó là một Vô địch hạng nặng Thế giới tài ba nhất lúc đó và họ Lý đã khen nức nở về kỹ thuật chiến đấu của Ali. Cuốn phim tài liệu được Lý Tiểu Long xem đi xem lại nhiều lần, vài ngày hôm sau họ Lý đã sai thợ đem đặt 1 tấm màn thật lớn, rộng để chiếu lớn các hình ảnh của Ali (lúc đó chưa có các kỹ thuật phim ảnh, hay máy móc hiện đại như ngaỳ nay để chiếu lớn) trong lúc ông đấu và di chuyển, đồng thời Lý Tiểu Long tập di chuyển theo đấu pháp, quyền của Ali một cách rất thích thú, và viết lại những đặc điểm của Ali một cách rất chi tiết. Nhiều người đi qua lại phòng thân phim đều chọc họ Lý là “Chắc Anh phải có ý đấu với nhà vô địch Muhammed Ali, nên mới tập theo ông ta như vậy”, Lý Tiểu Long cười và cho rằng mình muốn biết cách đi, đấu pháp và cách suy nghĩ trong đầu của Ali khi chiến đấu nơi võ đài.
    Về sau một tờ Nhật báo Hoa Kỳ biết được chuyện này, và đã hỏi Lý Tiểu Long trong một cuộc phỏng vấn là khả năng chiến đấu giữa Ông và Ali nếu họ có thể giàn xiếp 1 cuộc đấu đài tại Las Vegas, Họ Lý cười và đưa bàn tay mình ra cho người phóng viên xem: “Với bàn tay Trung Hoa nhỏ bé này. Chắc chắn Ali sẽ giết tôi !”

    1. Trong tất cả các khán giả của thế giới phim ảnh thì không nơi nào có phong cách ái mộ phim võ thuật một cách cuồng nhiệt như tại Hồng Kông, các khán giả đi xem phim họ thường lận theo dao trong người, nếu phim không hay hoặc phim đang chiếu quá nhàm chán họ sẽ dùng da mang theo rạch nát các ghế ngồi để cho chủ rạp biết mà thay thế phim khác. Duy chỉ có khi rạp hát chiếu phim của Lý Tiểu Long là phim duy nhất không bao giờ có chuyện đó xảy ra. Khi phim “The Big Boss” (Đường Sơn Đại Huynh) được chiếu tại Hồng Kông lần đầu tiên, Lý Tiểu Long và các tải tử trong phim đã bí mật hoá trang thành một người bình thường vào rạp xem phim do mình đóng và xem thử phản ứng của khán giả. Lý Tiểu Long đã rơi lệ khi thấy sau khi phim vừa dứt, khán giả đã đứng dậy cả 10 phút để vỗ tay (Theo phép lich sự vỗ tay chỉ dành cho xem kịch, cải lương chứ phim điện ảnh thì không bao giờ được vỗ tay trong rạp), sự cảm động đến rơi lệ này Lý Tiểu Long đã bị khán giả địa phương phám phá, họ đã dành nhau công kênh họ Lý ra khỏi rạp và đi dạo khắp đường phố Hồng Kông trong nhiều tiếng đồng hồ.
  2. Qua phim “Tinh Võ Môn” với số lượng vé bán được và thu nhập trong 10 ngày đầu, Lý Tiểu Long đã đánh đổ được kỷ lục qua phim “Đường Sơn Đa Huynh” của chính mình khắp nơi trên thế giới. Nhưng đáng nói nhất là tại Singapore (Tân Gia Ba) cuốn phim “Tinh Võ Môn” đã làm tắc nghẹn đường xá tại thành phố này trong nhiều ngày sau giờ làm việc, chính Bộ Cảnh Sát Giao Thông của Thành phố Sư tử từng đề nghị với Bộ Văn Hoá cấm chiếu phim này hoặc dời nó lại vài tuần sau đó để Bộ Giao Thông Quốc Gia có thể tìm cách giải quyết chuyện kẹt xe khi các rạp chiếu phim tung vé ra ngoài thị trường, và họ phải nhờ tất cả các Huấn Luyện Viên, Võ Sư, Võ Sinh của các Võ Đường nổi tiếng như “Lion Champion Karate” hay “B.S Huan Taekwondo” đứng ra tổ chức việc bán vé tại các rạp cho trật tự hơn.

  3. Trong lúc đó tại cũng tại hòn đảo Đài Loan, lần đầu tiên tệ nạn bán vé chợ đen trong phim ảnh đã xảy ra, vé bán chính thức là $2 đồng Đài Loan được các dân chợ đen tung ra với giá $45 Mỹ Kim, nhưng không bao giờ đủ cho giới hâm mộ mua.
    Phim “Tinh Võ Môn” được chiếu liên tiếp tại Philippine (Phi Luật Tân) 8 tháng, và gây hổn loạn hàng đêm tại các rạp hát đến khi có người chết vì bị đè khi mua vé, chính quyền địa phương quyết định thu hồi cuốn phim để chờ sửa đổi luật đánh thuế cho kỹ nghệ điện ảnh, hầu thu nhập thêm cho ngân sách quốc gia.

    1. Chính tài tử Thành Long của Hồng Kông khởi đầu sự nghiệp phim ảnh của mình trong một vai trò cực kỳ nhỏ mà Lý Tiểu Long đã đóng vai chính, trong phim “Tinh Võ Môn” có đoạn Lý Tiểu Long sang một võ đường Kempo Karate Nhật để trả thù, khi xáp chiến giửa các võ sinh và con rồng họ Lý, một người được Lý Tiểu Long thảy lên cao bay ngay vào tường chính là Thành Long sau này. Ngoài ra tài tử Thành Long còn có mặt trong phim “Mãnh Long Quá Giang” qua vai trò một người bảo vệ khu đường hầm và đánh nhau khi Lý Tiểu Long xâm nhập vào đêm tối để khám phá ra nơi chuyên sản xuất ma tuý.
  4. Khi Lý Tiểu Long bất thình lình qua đời, ngôi mộ của Ông tại Hoa Kỳ đã được ghi vào mộ bia câu “Bruce Lee – Founder of Jeet Kune Do” (Lý Tiểu Long – Người sáng lập môn phái Tiệt Quyền Đạo) mà quên hẳbn vai trò chính của ông như một tài tử nổi tiếng của Á Châu và thế giới. Chuyện gây xao động và thắc mắc đến với hàng triệu triệu người ái mộ ông khắp năm châu, khi họ đều muốn xem con rồng họ Lý như một tài tử với cú đấu, đá tuyệt nhất trên vòm trời võ thuật qua màn ảnh. Chính Linda Lee, vợ của Lý Tiểu Long cho biết câu văn được viết trên mộ bia đó là ý kiến chung của đại gia đình họ Lý từ Hồng Kông, vì quan niệm “Xướng ca vô loài” không tốt của người Á Châu họ không muốn đề chức nghiệp trên mộ bia của Lý Tiểu Long là tài tử, dù biết rằng chính phim ảnh đã đưa người con của họ đi vào lòng người khắp năm châu.

  5. Hiện nay trên thế giới có 3 nơi đã tạc tượng Lý Tiểu Long và chưng bày trang trọng tại quốc gia của họ, đó là Hồng Kông, Cameroon và Bosnia. Năm ngoái đã xảy ra một cuộc hổn chiến đầy máu me tại Bosnia giửa những người ái mộ ông và nhóm thanh niên nhậu say với ý định phá hoại bức tượng vàng của Lý Tiểu Long đặt tại ngay trung tâm thành phố.

  6. Qua tất cả các cuốn sách, phim ảnh, tà liệu riêng của Lý Tiểu Long, hiếm thấy ông nhắc đến những người truyền dạy võ công cho mình ngoài Lý Phiên – Cha của mình, có thêm Võ sư Diếp Vấn, người được xem là một trong những người truyền dạy môn Vịnh Xuân chính gốc từ Trung Hoa Lục Địa sang Hồng Kông. Nhưng khi Lý Tiểu Long qua đời thì tính ra có hơn 20 “sư phụ” và “sư huynh” đã xuất hiện, và nhiều người đã kể công mình truyền dạy võ công cho họ Lý, và có người từng cho là mình từng thách đấu, tập luyện chung, dạy tuyệt kỹ quyền cước, kết nghĩa đệ huynh rất thân tình với tài tử Lý Tiểu Long. Năm 1973 một nhóm người đến từ Hồng Kông tự xưng là học trò của Lý Tiểu Long đã đi một vòng Á Châu biễu diễn và đấu đài đã thua từ đầu đến cuối trong hầu hết mọi trận nhưng thu được bộn bạc nhờ lấy danh là đệ tử của Lý Tiểu Long.

  7. Có 1 điều bạn chưa biết ! Khi Lý Tiểu Long chết bí mật tại Hồng Kông, người ta sau nhiều ngày phám phá ra là tại căn phòng của ông trước khi từ trần có một cái nút áo.

  8. Sưu tầm

    Like

  9. Tham khao them:

    “Trò chuyện” với Lý Tiểu Long

    Đứng trước ngôi mộ của Lý Tiểu Long tôi thật sự xúc động. Từ trên tấm bia cẩm thạch, Lý Tiểu Long như mỉm cười mời gọi tôi cùng chuyện trò.

    Trước đây, tôi hình dung nơi an nghỉ cuối cùng của con người nổi tiếng này phải là một lăng mộ cực kỳ tráng lệ cho xứng với tên tuổi lẫy lừng một thời của anh. Vậy mà nơi an nghỉ cuối cùng của Lý Tiểu Long ở nghĩa trang Lake View trên đồi Volunteer Park (Seattle, Mỹ) chỉ là một ngôi mộ bình thường với một tấm bia bằng đá cẩm thạch màu hồng có chân dung anh và hàng chữ Bruce Lee, Lý Trấn Phiên, 27-11-1940 – 20-7-1973, người sáng lập Triệt quyền đạo. Vài bó hoa đặt trên mộ hãy còn tươi, chắc là của những người hâm mộ anh.

    San Francisco là nơi anh cất tiếng chào đời, Hong Kong là nơi tuổi thơ anh lớn lên, nhưng Seattle mới là nơi anh lập thân. Nơi đây lần đầu anh biểu diễn kungfu, mở võ đường, lần đầu anh giao duyên với điện ảnh, gặp Linda – người vợ đằm thắm thủy chung của anh, và nay là nơi anh yên nghỉ đời đời.

    Ba mẹ Lý là người Trung Hoa nhưng một buổi sáng đẹp trời anh khóc tiếng chào đời ở thành phố San Francisco, thế là anh trở thành công dân Mỹ thực thụ. Anh tuy không cao lớn nhưng tố chất tiên thiên đạt chuẩn tỉ lệ vàng, phải triệu triệu người mới có một. Thập niên 1940 – 1960, Hong Kong là vùng đất phức tạp và dữ dội của một trung tâm tài chính quốc tế.

    Ở đó tuổi thơ anh là những tháng ngày lêu lổng, trốn học, quậy phá, đánh nhau… và anh đã học được cách làm “xếp sòng” thiên hạ. Tính khí hung hãn thời niên thiếu và những ân oán giang hồ khiến Lý Tiểu Long khó mà lập thân ở đất Hong Kong, nhưng anh đã có ngay mảnh đất để lánh nạn: nước Mỹ.

    Anh có người thầy chân chính – võ sư Diệp Vấn, sống thanh bạch nhưng nhất định không coi võ như món hàng mua bán. Anh đã gặp Amy Sanbo, người con gái anh yêu, người hết lòng thương yêu anh nhưng không a dua theo những thành tích có tính khoe mẽ của anh; đã thế còn nghiêm khắc khuyên anh phải nhìn lại mình, và khi biết anh không thể làm được điều đó cô đã khước từ lời cầu hôn của anh.

    Anh có người bạn quí – Taky Kimura, đúng hơn là bậc thiền sư, ngầm khai thị cho anh bài học biết kiềm chế mình, biết giấu mình, biết coi thường thói hư danh, phù phiếm. Anh có người vợ biết chấp nhận anh, yêu thương, chăm chút, thủy chung. Anh có những đệ tử giỏi giang và hết lòng vì sư phụ. Anh có nhiều cơ hội, mà một trong những cơ hội đó đã đưa anh vèo một cái lên hàng ngôi sao điện ảnh đắt giá nhất thế giới, và trong vòng ba năm tiếng tăm anh lẫy lừng tới mức nhiều tài tử khác trong nghề ở Hollywood một đời vẫn không có được…

    Vừa là một cao thủ quyền cước, vừa là một tài tử điện ảnh xuất sắc, đó là hai yếu tố tạo nên huyền thoại Lý Tiểu Long. Năm 18 tuổi từ Hong Kong anh sang Mỹ, với học vấn xoàng, võ thuật chưa tới và lăn vào tập luyện karate, quyền anh, quyền Thái, và khi đạt đến đệ tứ đẳng huyền đai karate anh quyết định mưu sinh bằng nghề dạy khiêu vũ. Đó là nhờ những ngày còn lêu lổng ở Hong Kong anh bỏ thời gian vào các vũ trường, và từng đoạt giải quán quân một cuộc thi vũ điệu cha cha cha.

    Chính võ thuật là bàn đạp giúp anh đến với điện ảnh, mà đỉnh cao là bộ phim Đường Sơn đại huynh – phá vỡ mọi kỷ lục trước đó của loại phim võ thuật, quyền cước. Thành công đó dẫn tới các phim kế tiếp của anh là Tinh Võ môn, Mãnh long quá giang, Long tranh hổ đấu, Tử vong du hí (dở dang). Dưới bàn tay của đạo diễn bậc thầy La Duy, Đường Sơn đại huynh đưa Lý lên hàng “sao” và chinh phục con tim, khối óc người xem.

    Rất tiếc từ sau Tinh Võ môn mọi chuyện đã khác đi. Thành công quá sớm cộng với cái tính hung hăng, háo thắng, anh bắt đầu làm cho các mối quan hệ trở nên căng thẳng. Đạo diễn La Duy không còn đến phim trường nữa nên một mình Lý bao biện cả biên kịch lẫn đạo diễn. Dưới bàn tay nhào nặn của anh, phim trở thành luận đề về niềm kiêu hãnh giống nòi, lòng căm ghét người Anh, người Nhật xâm lược. Nhiều cảnh trong phim hết sức chướng, ví dụ: một mình Lý Tiểu Long hiên ngang, kiêu bạt, đánh hàng trăm võ sĩ Nhật nhục nhã ê chề… (Và đã có nhiều thanh thiếu niên xem phim, bắt chước thần tượng của họ luyện võ, múa côn nhị khúc, khệnh khạng ta đây. Không ít kẻ lao vào các cuộc ẩu đả, những tưởng bắt chước Lý Tiểu Long mãnh hổ địch quần hồ, để rồi phải chết trong vòng dao búa trước khi kịp nhận ra võ trong phim và võ ngoài đời khác nhau biết chừng nào!).

    Nhiều người thắc mắc không biết công phu của Lý Tiểu Long bắt nguồn từ đâu? Rõ ràng anh có ba năm học Vĩnh Xuân quyền với võ sư Diệp Vấn. Sau này anh có tập thêm karate, quyền anh, quyền Thái, nhưng chừng ấy vẫn chưa thể gọi là đủ. Chính những tố chất thông minh, hiếu thắng, gan dạ, ý chí sắt đá, đam mê khổ luyện, dày dạn trận mạc… mới tạo nên tượng đài Lý Tiểu Long trong võ thuật, với quan điểm chiến đấu rất rõ ràng: vô chiêu, tức thời, trực tiếp, đơn giản, hiệu quả.

    Đòn thế của anh không hề rườm rà, huê dạng mà bao giờ cũng dứt khoát, rõ ràng và thuyết phục. Anh đặt tên cho nghệ thuật chiến đấu ấy là Triệt quyền đạo, không lâu sau Triệt quyền đạo trở thành môn phái mà anh là vị sáng tổ.

    Nếu tính cách khuôn thành số phận thì Lý Tiểu Long là một dẫn chứng điển hình. Trong gia đình, anh là đứa bé hiếu động, không bao giờ chịu ngồi yên; nên còn có cái tên “Con lật đật”. Trong lớp, anh là một học sinh lười biếng, thường gây ồn ào, mất trật tự, không nghe lời thầy…; vì thành tích quậy phá ấy mà anh bị đuổi học nhiều lần, và cuối cùng bị đuổi hẳn khỏi Trường trung học La Salle vì hạnh kiểm xấu và học lực kém.

    Ngoài lớp, anh là xếp sòng của một băng anh chị chuyên gây gổ, thách thức, âu đả. Ngay cả võ là môn anh “say mê và miệt mài luyện tập tưởng chừng như sắp hóa điên”, Lý cũng từng bị võ sư Diệp Vấn đuổi khỏi võ đường vì cho rằng thiếu tư cách, ngông nghênh, tự phụ. Và anh mang cả lên đỉnh cao giàu sang và danh vọng tính cách cá biệt của mình.

    Những người thân yêu quanh anh hiểu rõ điều này hơn ai hết. Linda Lee nói về chồng mình: “Lý Tiểu Long có rất nhiều nhược điểm, chẳng hạn như nóng nảy bất thường, thiếu tế nhị với người xung quanh, không ý tứ trong mọi cách hành xử”. Michael Lai, bạn anh, nói: “Nếu anh thua, bao giờ anh cũng viện ra một cái cớ nào đó để bào chữa.

    Anh có vẻ trơ tráo và khệnh khạng như một con công, luôn luôn tỏ ra kẻ cả, cha chú trong các hành động”. Còn Amy Sanbo thì đồng ý rằng anh quả có tài về võ thuật, nhưng “chỉ là một kẻ non nớt, thiển cận và luôn luôn bám riết những việc làm có tính cách khoe mẽ”, “Anh ấy chỉ biết ném ra một lô những túi khôn của phương Đông mà chẳng bao giờ anh ấy tuân theo cả”.

    Những năm cuối đời, anh là hiện thân của sức mạnh, quyền lực và giàu có, như kẻ sở hữu một lưỡi kiếm sáng ngời và sắc lẻm, thay vì giấu nó trong bao thì anh lại xách đi khơi khơi giữa ba quân thiên hạ.

    Một tính khí như thế, một tính cách như thế, một cái tâm như thế, cùng với nỗi khao khát giành phần thắng, luyện võ sẽ rất mau thành tựu công phu, nhưng lại quá nguy hại cho bản thân: nóng nảy, điên loạn, và tẩu hỏa nhập ma.

    Còn với đời, chắc chắn sẽ có nhiều nỗi khổ hơn niềm vui, nhiều kẻ thù hơn bè bạn. Thomas Chan, người cùng đóng chung với anh trong phim Tinh Võ môn, tiết lộ: “Trong hai năm cuối cùng ở Hong Kong, anh hoàn toàn cô độc. Cả đời anh, anh không có một người bạn nào”.

    Cái chết của anh cũng vậy thôi, cũng lạ lùng kỳ quái như chính cuộc đời anh. Đám tang anh, từ Hong Kong đến Mỹ, hàng vạn người tiễn đưa anh, vừa buồn bã vừa nhẹ nhõm, vừa ngợi ca vừa mai mỉa.

    Người ta nói xế trưa ngày 20-7-1973, Raymond Show và anh hẹn gặp nhau tại nhà nữ tài tử Đinh Phối để thảo luận về cuốn phim mới. Cuộc trao đổi kéo dài cho đến chiều, Raymond Show mời cả Lý và Đinh Phối cùng đi ăn tối. Đến nhà hàng đợi hoài không thấy, Raymond Show gọi điện về nhà thì Đinh Phối cho biết Lý Tiểu Long kêu nhức đầu nên cô đã cho uống một viên thuốc cảm nhẹ, rồi anh ấy ngủ li bì đến nay vẫn chưa dậy. Raymond Show vội quay về, gọi xe cấp cứu đưa anh vào bệnh viện nhưng không kịp nữa, Lý đã chết trên đường đi.

    Việc Lý Tiểu Long có tuyệt kỹ công phu bỗng lăn đùng ra chết khiến cả Hong Kong choáng váng. Người ta nhao nhao đi tìm nguyên nhân. Người thì nói do gây thù kết oán với băng nhóm mafia nên anh bị Hội Tam Hoàng thanh toán. Người khác nói do thành công của anh với hãng phim Gia Hòa đe dọa sự tồn tại của hãng phim Shaw Brothers nên Lý bị hãng này thuê sát thủ ra tay.

    Người khác lại nói, bởi mười ngày trước anh đã có cuộc va chạm dữ dội với đạo diễn La Duy nên La Duy thuê người ám hại.

    Rồi người khác nữa lại nói trong một cuộc tỉ thí ba tháng trước đó, anh bị một nhà sư chùa Thiếu Lâm điểm huyệt. Và vì anh chết trong phòng riêng của Đinh Phối nên nhiều người đoan chắc rằng anh chết vì “thượng mã phong”… Còn cánh bác sĩ cũng đành phải đầu hàng. Họ chỉ có thể giải thích cái chết của anh là “không rõ nguyên nhân”.

    Cho đến nay vẫn chưa ai biết đích xác vì sao Lý Tiểu Long qua đời đột ngột. Nhưng nếu căn cứ vào cái chết của con trai anh 20 năm sau, e rằng Lý chết vì bị người ta đầu độc. Còn nếu căn cứ vào xác minh của bác sĩ, thì chắc chắn anh chết vì tẩu hoả nhập ma. Suy cho cùng, ít nhất cũng có một người biết đích xác cái chết của anh, đó là anh. Nhưng nay thì anh đã học được ngôn ngữ của sự thinh lặng.

    Từ trên tấm bia cẩm thạch, anh lại mỉm cười. Đôi mắt ấy ngày nào dữ dội là thế mà nay sao quá đỗi dịu dàng, và có vẻ buồn. Hẳn cái chết giúp anh nhận ra rằng đời người vốn vô thường, vinh hoa phú quí chỉ là mộng ảo: “Có tài mà cậy chi tài”… và rằng “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

    Dù rất buồn lòng về anh, tôi vẫn là một trong muôn triệu người hâm mộ anh.

    http://maxreading.com/sach-hay/tu-lieu-vo-thuat/tro-chuyen-voi-ly-tieu-long-31211.html

    Like

  10. Pingback: Cuốn sách giúp Lý Tiểu Long học võ có giá gần 2 tỉ đồng | Người Đến Từ Bình Dương

  11. Pingback: Sách Võ Thuật Lý Tiểu Long (Bruce Lee) | Người Đến Từ Bình Dương

  12. Triệt quyền đạo hay Tiệt quyền đạo (截拳道) là một môn võ thuật chú trọng đến hiệu quả và thực tế. Tên tiếng Anh là Jeet Kune Do.

    Mục lục [ẩn]
    1 Nguồn gốc
    2 Nguyên tắc
    3 Các kỹ thuật
    3.1 Luyện tập và khởi động
    3.2 Động tác chân
    4 Các tính trong Triệt quyền đạo
    4.1 Tính phối hợp
    4.2 Tính chuẩn xác
    4.3 Tính uy lực
    4.4 Tính bền bỉ
    4.5 Tính thăng bằng
    4.6 Tính cơ thể tự cảm nhận
    4.7 Tính thị giác dự báo
    4.8 Tính tốc độ
    4.9 Tính đúng lúc
    4.10 Điệu, nhịp và tiết tấu
    4.11 Hình thức tốt
    5 Xem thêm
    6 Tham khảo
    7 Liên kết ngoài
    Nguồn gốc
    Tổ sư sáng lập là Lý Tiểu Long với sự kết hợp các môn võ Trung Hoa (như Vịnh Xuân Quyền) và các môn thể thao phương Tây (như Quyền Anh, thể dục thể hình,…) và quan trọng hơn bộ tấn và cách di chuyển của Triệt quyền đạo được lấy từ môn đấu kiếm của phương Tây [cần dẫn nguồn].

    Tên của môn võ này chữ Hán là 截拳道. Nếu dịch theo đúng nghĩa Hán Việt thì phải đọc là Tiệt quyền đạo. “Tiệt” có nghĩa là “cắt đứt” hay “một đoạn”. Ý nghĩa này theo Lý Tiểu Long là vì môn võ khi đánh cắt đứt đường quyền của đối thủ, trước khi đối thủ có thì giờ phản ứng. Tuy nhiên, nhiều người dịch lầm là Triệt quyền đạo, với ý tưởng là “triệt tiêu” địch thủ. Tên này nghe hay hơn nên trở nên phổ thông ở Việt Nam, mặc dù không đúng ý nghĩa của người sáng lập là Lý Tiểu Long.

    Nguyên tắc
    Hãy vứt đi mọi thứ bạn có, bỏ đi những khái niệm đã ăn sâu vào đầu bạn để lấy tự do. Cái tự do đó sẽ giúp bạn hiểu biết tất cả những gì bạn đã bỏ đi, và rồi tiến tới hiểu thêm cả những gì bạn chưa biết.
    Triệt Quyền Đạo không có nội quy hay nguyên tắc gì ràng buộc bạn cả, nó chỉ cho bạn hướng để phát triển một cách không hạn chế. Bạn học Tiệt Quyền Đạo để sử dụng và cũng không cần nhớ là mình học môn gì.
    Hình thức phi hình thức là sự yêu cầu trau dồi các kỹ năng rồi tiến tới không cần đến chúng, chỉ còn lại sự giản dị đến không ngờ.
    Hãy đấm khi cần đấm hãy đá khi cần đá(cái này nói thì đơn giản nhưng thực hiện thì không hề dễ chút nào)
    Võ thuật như là nước(đây là triết lý do Lý Tiểu Long sáng tạo ra),nước thì muôn hình vạn trạng,khi bạn rót nước vào chiếc cốc thì nó là cốc,khi bạn rót nước vào chiếc chén thì nó là chiếc chén,nó không bị ràng buộc vào bất kỳ điều gì,hãy để cho mọi thứ tự nhiên nhất.
    Triệt Quyền Đạo chủ yếu dùng vô chiêu thắng hữu chiêu,đánh vào điểm sơ hở của đối phương.
    Các kỹ thuật
    Luyện tập và khởi động
    Phải có chương trình luyện tập hiệu quả cho cả tuần.
    Luyện tập không nhất thiết cứ phải có giờ giấc, bạn có thể tranh thủ bất cứ lúc nào để luyện tập, như đi bộ đến chỗ nào, tranh thủ trèo cầu thang thay cho đi thang máy…
    Khởi động phải bám sát buổi tập, như buổi tập này bạn dự định tập chân thì nên khởi động kỹ từ hông đến gót chân.
    Bạn đang hướng tới mục địch hiệu quả chứ không phải thể hình vì vậy phải tránh việc luyện những cơ bắp gây cản trở lực đánh hay sức bật.
    Trong triệt quyền đạo không có bất cứ 1 tư thế nào ràng buộc bạn như bất cứ môn võ nào mà bạn từng học bạn có thể muốn chuẩn bị bất cứ tư thế nào mà bạn cảm thấy là tốt nhất, thoải mái nhất và bạn thấy hài lòng nhất vì khi bạn bị đánh lén chỉ nên thuận theo phản xạ của cơ thể. Khi bạn luyện võ thì phản xạ trong người của bạn sẽ được hình thành ngày càng nhanh và khi đó phản xạ của bạn chính là phòng thủ khi và đòn tấn công của bạn khi bị người khác đánh lén bất ngờ !

    Động tác chân
    Nguyên tắc chiến đấu chính là nghệ thuật di chuyển để tìm kiếm mục tiêu hoặc tránh khỏi tầm đánh của đối phương.
    Kỹ thuật chân là sự giữ thăng bằng trong hành động, nó giúp tung ra những đòn có uy lực và tránh sự phản kích của đối thủ.
    Kỹ thuật chân chia các phần:
    Động tác rê chân: lướt đôi bàn chân trên mặt đất sẽ giúp phát triển tốc độ và sự uyển chuyển.
    Động tác tiến nhanh ra phía trước: giúp di chuyển thân mình nhanh nhẹn.
    Triệt thoái nhanh là kỹ thuật ngược lại với tiến nhanh giúp cho cơ thể tránh khỏi tầm đánh của đối phương một cách nhanh nhất.
    Bước ngang là kỹ thuật di chuyển thân mình sang phải hay trái mà không bị mất thăng bằng. Đây là một thao thác phòng thủ cốt tủy, an toàn và tạo được cơ hội để phản công bất ngờ.
    Các tính trong Triệt quyền đạo
    Tính phối hợp

    là khi âm dương kết hợp, nghĩa là nó đã tồn tại. Khi phòng thủ nhất định phải kèm với tấn công. Đó là điều cốt lõi trong triệt quyền đạo, vì khi đối phương tấn công cũng là lúc để lộ rõ sơ hở, phải biết trong nháy mắt đoán được ý đồ của đối phương để kịp thời ngăn chặn đòn đánh và tức tốc phản kích trong một thời gian ngắn. Tốc độ phải như tia sáng của mặt trăng, ta không thể nhìn nhưng lại cảm nhận được nó. Ánh mắt không phải nhìn về mình mà luôn hướng về đối thủ. Đối thủ lớn nhất của mình không phải ở trước mắt mà là ở đằng sau, khi ta tiêu diệt được ảo ảnh thì đối thủ cũng biến mất.
    Tính chuẩn xác
    Là sự đạt được đúng đắn động tác nhằm diễn tả mức thích đáng của động tác phóng ra mà sức lực thực hiện ít nhất. Nếu sức lực thực hiện ít nhất mà có tốc độ nhanh nhất có thể thì các bạn sẽ không nắm chắc được thành công khi ra đòn. Yêu cầu phải có tốc độ nhanh khi ra đòn. Không những nhanh mà lực phát ra phải dồn hết về cánh tay. Cổ tay phải dẻo và linh hoạt mói có thể tấn công tốt được.

    Tính uy lực
    Uy lực không hoàn toàn chỉ là sức mạnh mà nó là sự kết hợp giữa sức mạnh – thời điểm – tốc độ. Nếu bạn tăng tốc cho một đòn đánh thì đòn đánh đó tăng uy lực lên mặc dù độ co kéo của cơ bắp vẫn không đổi.
    Để kết hợp tốt sức tung ra với lợi ích hành động, các xung lực thần kinh gồm một số lượng sợi vừa đủ được chuyển đi để tác động thúc đẩy hoạt động cơ bắp đúng lúc. Đồng thời các xung lực cũng tác động vào các cơ bắp nghịch ứng làm giảm nhẹ sự đề kháng. Tất cả các hoạt động này sẽ tạo nên hiệu quả và đưa tới sự sử dụng uy lực tốt nhất.
    Tính bền bỉ
    Sự bền bỉ được tạo ra khi những người luyện tập cố vượt quá chính bản thân giới hạn của mình một cách thường xuyên.
    Các bài tập tính bền bỉ là những bài tập khó khăn và phải được giám sát cũng như gia tăng từ từ.
    mỗi đòn trong triệt quyền đạo được tập rất nhiều lần và trong thời gian dài.
    Tính thăng bằng
    Tính thăng bằng là trạng thái ổn định của cơ thể dù đang ở tình trạng hành động hay đứng yên.
    Thăng bằng chỉ có khi cơ thể ở trong thế thẳng hàng thích hợp. Bàn chân, ống chân, thân hình và đầu giữ phần quan trọng nhất để tạo lập và duy trì tư thế thăng bằng. Các bàn chân cần giữ được tương quan thích hợp với nhau và thích hợp với thân hình mới tạo cho cơ thể vào thế thẳng hàng chuẩn xác.
    Luyện phối hợp đấm đá, trong lúc tiến, lui, đổi hướng với tốc độ, uy lực tối đa, đồng thời luyện giữ vững tư thế thăng bằng hoặc lấy lại tư thế thăng bằng một cách mau chóng nhất.
    Tính cơ thể tự cảm nhận
    Là việc cơ thể tự cảm nhận mình và đối thủ, xem xét tư thế của mình có phù hợp không và của đối thủ đang có biểu hiện gì.
    Tính cơ thể tự cảm nhận sẽ làm nảy ra tác động hỗ tương thích hòa hợp giữa thân xác và thân hình trong một nhịp điệu không thể tách rời.
    Tính thị giác dự báo
    Học nhận thức cực mau bằng mắt là bước mở đầu căn bản. Để luyện tập cần thực hành hàng ngày bài tập nhìn lẹ, ngắn và tập trung.
    Làm động tác giả và đánh nhử là phương pháp khiến đối thủ phải do dự trước khi hành động.
    Tính tốc độ
    Tốc độ là một trạng huống phức tạp, nó bao hàm cả thời gian nhận thức lẫn thời gian phản ứng. Tình thế phản ứng càng phức tạp thì tốc độ lại càng chậm.
    Tốc độ được chia thành năm loại:
    Tốc độ chi giác: Nhanh mắt thấy ngay các kẽ hở và đánh trực diện vào điểm yếu (kẻ hở) cho đối thủ nản chí, bối rối và trở lên chậm chạp.
    Tốc độ tâm lý: Phán đoán nhanh để có ngay cử động hợp thời nhằm vô hiệu hóa đối thủ và phản công.
    Tốc độ khởi đầu: Khởi đầu nhẹ nhàng từ tư thế đúng và phong cách tinh thần đúng.
    Tốc độ thể hiện: Động tác nhanh để đưa cử động tới chính xác và hiệu quả. Bao gồm cả tốc độ co cơ thực sự.
    Tốc độ biến đổi: Khả năng chuyển hướng bất ngờ, bao gồm cả sự làm chủ tính thăng bằng và thói quen chậm chạp.
    Để gia tăng tốc độ cần lưu ý đến năm đặc tính:
    Tính lưu động.

    Tính bật nảy, đàn hồi và mềm dẻo.
    Tính đề kháng đối với sự mệt mỏi.
    Tính cảnh giác về tâm lý và thể chất.
    Tính tưởng tượng và dự báo.
    Các yếu tố tạo thành tốc độ tối đa bao gồm:
    Sự khởi động giúp tăng tính đàn hồi, mềm dẻo và điều chỉnh toàn thân đạt một nhịp độ sinh học cao hơn (nhịp tim, huyết áp, hơi thở).
    Sự co cơ lúc đầu và sự co cơ từng phần.

    Tư thế đứng thích hợp.
    Sự tập trung chú ý thích hợp.
    Giảm nhẹ sự tiếp nhận kích thích để đạt tới thói quen tri giác mau lẹ, đồng thời giảm bớt những động tác bị thúc đẩy để tiến tới thói quen phản ứng nhanh.
    Một số nguyên tắc chi phối tính tốc độ:
    Bán kính ngắn tạo động tác nhanh.
    Vòng cung dài hơn cho xung lực toàn vẹn.
    Sức nặng ở tâm điểm cho tốc độ hồi chuyển và gia tăng tốc độ bởi các động tác trùm phủ đồng qui và nối tiếp.

    Tính đúng lúc
    Tốc độ và tính đúng lúc bổ sung hiệu quả cho nhau vì đòn đánh mạnh mà không trúng đích thì sẽ là vô hiệu.
    Thời điểm phản ứng là khoảng thời gian giữa tác nhân kích thích và sự đáp ứng.
    Thời gian chuyển động là thời gian cần để hoàn tất một động tác.
    Điệu, nhịp và tiết tấu
    Điệu là sự diễn biến giữa các đấu thủ cố theo đuổi mọi động tác của nhau tạo thành những cặp đồng điệu. Nếu một đối thủ phá vỡ điệu này sẽ tạo ra sự chênh lệch nhất thời gây tổn thương.
    Nhịp là sự kiểm soát được tốc độ của đối thủ nhằm tạo tốc độ của mình phù hợp với đối thủ, lúc đó khả năng chi phối trận đấu nằm trong tay người điều khiển.
    Tiết tấu là quy luật của chuyển động, khi một đối thủ bị nắm bắt tiết tấu thì khó có thể kháng cự lại.
    Hình thức tốt
    Là việc làm chủ những tư thế những nền tảng thích hợp và ứng dụng liên tục chúng.
    Hình thức tốt là cách hữu hiệu nhất để hoàn tất mục đích của một lần thể hiện động tác mà không cần di động nhiều và hoang phí năng lực.
    Theo Anh Lý hình thức tốt có thể đánh bại mọi đòn tấn công và có thể tấn công đối phương một cách hợp lý nhất.
    Làm chủ hình thức của bản thân thì có thể làm chủ được tình huống,điều khiển được cuộc đấu theo ý thức của bản thân

    Like

Thank for your comments

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s