Những bài viết về võ học


 
 

Tham khảo tại website : http://www.congphu.com

 

 

Đôi điều về Văn võ – Võ văn

Văn không võ, văn thành nhu nhược;
Võ không văn, võ thuộc bạo tàn…

Cách nói ấy của người xưa mục đích giáo dục người học hoàn thiện mình trên tinh thần nhân văn – thượng võ.

Sự học xưa nay là tỏ rõ đức, hoàn thiện nhân cách (Đại học chi đạo tại minh minh đức, tại chỉ ư chí thiện). Nhân, Nghĩa là sức mạnh. Trong lòng nhân từ có sức mạnh (Nhân tất hữu dũng). Thấy việc nghĩa không làm không phải là người có dũng lược (Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã). Không khuất phục trước quyền uy bạo lực (Uy vũ bất năng khuất). Tinh thần người học võ là thượng võ, nhân văn. Người thượng võ hòa ái, khiêm tốn, khoan dung, độ lượng, xả thân vì đại nghĩa, chính đại quang minh…
Người học văn, kẻ sĩ, tinh thần bất khuất, thà chết không chịu nhục, không làm nô lệ (Ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục); Điều không ngay thẳng không làm (Tịch bất chính bất tọa). Những người học văn hành xử đúng đạo, sức mạnh có thừa. (Văn dĩ tải đạo).

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm;
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
(Nguyễn Đình Chiểu)

Biểu trưng của Liên đoàn VTCT Việt Nam đao, kiếm và quyển sách (văn, võ song toàn)

Người học võ đạt đỉnh cao, thái độ ung dung, tao nhã, tinh thần an nhiên tự tại, chí cực điềm đạm, như con tuấn mã phi hằng ngàn dặm đường không biết mỏi, như chim bằng bay từ biển Bắc sang biển Nam, không gặp hạt ngô đồng không ăn, không gặp giếng nước ngọt không uống. Những người ấy tinh thần vô úy và hành xử rất khiêm cung, văn hóa.

“Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”
(Trần Bình Trọng)

Song, cuộc đời dâu bể khôn lường (Thế sự phù trầm nan tri liệu). Có những việc người đời không nhịn được, bởi vậy kẻ thất phu gặp nhục, tuốt gươm đứng dậy vươn mình xốc đánh (Thất phu kiến nhục, bạt kiếm nhi khởi, đỉnh thân nhi đấu). Đấng trượng phu thì hóa giải như dùng nước khử lửa, nước thì làm lợi cho vạn vật mà không tranh…(Thiện thượng nhược thủy; Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh…) Vì vậy, học là một việc mà làm theo được những điều hay lẽ phải đã học là một việc khác. Từ đó, trần thế có kẻ tiểu nhân, có người quân tử; có kẻ phản tặc, có người ái quốc; có kẻ vong tình bội nghĩa, có người son sắt thủy chung. Có người học văn nhưng khiếp nhược bán rẻ lương tâm; có người học võ mà làm đạo tặc, học võ đạo nhưng hành xử vô đạo. Bởi vậy, các bậc chân sư trưởng thượng mới giáo huấn môn đệ mình bằng ý tưởng: Văn không võ, văn thành nhu nhược; Võ không văn, võ thuộc bạo tàn…

Nhưng cũng chỉ là quan niệm tương đối mà thôi.
Võ sư Trương Văn Bảo

 

———————————————-

Chính khí

 

Người học võ trọng tinh thần thượng võ. Chính khí là một trong những yếu tố làm nên thượng võ. Người thượng võ có nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, bất khuất, kiên cường, uy dũng, liêm sỉ, chính trực… Khoa học quân sự nhận định: Hỏa lực, quân số, kỹ thuật tác chiến chỉ giữ được nửa phần quyết định chiến trường, phân nửa còn lại thuộc về chính khí, có dám quyết chiến và làm chủ trận đánh hay không. Võ thuật cũng như khoa học quân sự: Thể lực, kỹ chiến thuật là một nửa, phân nửa còn lại là tinh thần bất khuất.

Lịch sử chứng minh những võ tướng trung kiên, chân thực đều là người chính khí. Đặng Đức Siêu (1751 – 1810) trong bài văn tế Võ Tánh và Ngô Tùng Châu có viết: “…Chỉ non sông giã với cô thành, chén tân khổ nhắp ngon mùi chính khí…” (tân khổ là cay đắng, có nghĩa là thuốc độc. Uống thuốc độc chết để bảo toàn chính khí).

Võ thuật tồn tại qua bao thời kỳ, bao thế hệ, có lúc mưa dồn sóng dập nhưng vẫn uy vũ trường tồn giữa trời cao, biển rộng, đất dày bởi trong võ có chính khí. Để được chính khí người học võ tinh tấn rèn luyện, sửa thân tâm chính trực, có ý chí và lý tưởng.

1. VÕ TƯỚNG TRẦN BÌNH TRỌNG: TINH THẦN BẤT KHUẤT

Trần Bình Trọng (1259 – 1285), danh tướng đời Trần, sinh tại xã Bảo Thái, nay là huyện Thanh Xuân tỉnh Thanh Hóa, có lòng dũng liệt hơn người. Ngày 21 tháng Giêng năm Ất Dậu (Trùng Hưng thứ I), ông cầm quân đánh giặc, bị bắt rồi hy sinh khi chặn giặc ở bãi Thiên Mạc trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, được truy phong tước Bảo Nghĩa Vương.

Sử chép: Trần Bình Trọng bị bắt, tướng Nguyên là Thoát Hoan biết ông là tướng tài, tìm mọi cách khai thác, dụ hàng nhưng ông kiên quyết không khuất phục. Khi được hỏi có muốn làm vương đất Bắc không, Trần Bình Trọng đã khẳng khái trả lời: “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Trần Bình Trọng bị quân Nguyên giết, năm đó ông 26 tuổi.

Phan Kế Bính trong “Truyện Hưng Đạo” có thơ vịnh tinh thần bất khuất của danh tướng Trần Bình Trọng như sau:

Giỏi thay Trần Bình Trọng!
Dòng dõi Lê Đại Hành,
Đánh giặc dư tài mạnh,
Thờ vua một tiết trung,
Bắc vương sống mà nhục,
Nam quỷ thác cũng vinh,
Cứng cỏi lòng trung nghĩa,
Ngàn thu tỏ đại danh.

2. VÕ TƯỚNG HOÀNG DIỆU: QUYẾT TỬ VỚI HÀ THÀNH

Hoàng Diệu (1828 – 1882), người quyết tử bảo vệ thành Hà Nội khi bị Pháp tấn công năm 1882. Tên thật của ông là Hoàng Kim Tích, tự Quang Viễn, hiệu Tỉnh Trai, sinh ngày mồng 10 tháng 2 năm Kỷ Sửu, niên hiệu Minh Mạng thứ X (1828) tại làng Quang Đài, huyện Diên Phước (sau đổi là huyện Điện Bàn), tỉnh Quảng Nam. Ông thi đỗ Cử nhân khoa Mậu Thân, nhằm niên hiệu Tự Đức nguyên niên năm 20 tuổi. Khoa Quý Sửu niên hiệu Tự Đức thứ VI, ông đỗ Phó bảng.

Sau khi chiếm được Nam bộ, Pháp chuẩn bị tấn công Bắc bộ. Vua Tự Đức giao cho Hoàng Diệu làm Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội và Ninh Bình – 1880) với chức hàm Binh bộ thượng thư kiêm cả việc Thương chính. Từ năm 1880 – 1882 ông đã ba lần dâng sớ xin triều đình chi viện để củng cố phòng tuyến chống giặc tại Hà Nội, nhưng không nhận được hồi âm từ Huế.

Rạng ngày 25 tháng 4 năm 1882 tức ngày mồng 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ, Đại tá Henri Rivière cho 4 tàu chiến áp sát thành Hà Nội, hạ tối hậu thư yêu cầu Hoàng Diệu giải giới binh linh, và hẹn 8 giờ sáng hôm ấy các quan văn võ, Tổng đốc, Tuần vũ, Bố chánh, Án sát, Đề đốc và chánh phó Lãnh binh trong thành Hà Nội phải đến nộp mình tại dinh của Henri Rivière nhưng Hoàng Diệu không nghe theo.

8 giờ 15 phút quân Pháp bắt đầu tấn công, tàu chiến bắn yểm trợ cho 450 quân và thân binh đổ bộ chiếm thành Hà Nội. Tổng đốc Hoàng Diệu và quân dân trong thành chống giữ rất anh dũng, quyết tâm sống chết với Hà thành. Sự kháng cự quyết liệt đó đã gây nhiều thiệt hại nặng cho đối phương, Từ sự việc kho thuốc súng trong thành bị nổ gây nhiều đám cháy lớn, làm quân sĩ hoang mang cùng với sự chênh lệch về tương quan lực lượng, hỏa lực giữa đôi bên nên chỉ hơn hai giờ sau thì thành Hà Nội bị chiếm.

Trong tình thế tuyệt vọng, dù lực lượng binh lính trong thành ngày càng yếu đi nhưng Tổng đốc Hoàng Diệu vẫn cùng quân sĩ chống lại đến giây phút cuối cùng. Khi không còn khả năng chống trả, Hoàng Diệu ra lệnh cho binh sĩ giải tán để tránh thương vong, một mình ông vào hành cung cắn ngón tay lấy máu thảo tờ di biểu tạ tội với Vua Tự Đức, rồi ra trước Võ miếu nơi cửa Bắc dùng khăn bịt đầu thắt cổ tự tử, hưởng dương 54 tuổi.

Di biểu viết: “Tướng lược phi trường, tử quí sanh nhi vô ích. Thành vong mạc cứu, túng nhiên tử hữu dư cô… Cô trung nhi thệ dữ Long thành, nguyện trùng tiên thần Nguyễn Tri Phương ư địa hạ. Sổ hàng huyết lệ, vạn lý quân môn, nguyện nhật nguyệt chi chi chiêu minh, biểu thần xích tâm nhi dĩ”. Có nghĩa là: “Làm tướng bất tài, thần tự nghĩ sống cũng vô ích, dẫu biết rằng thành mất mà có chết cũng còn có tội… Một mình thề với Long thành, thần nguyện theo gương Nguyễn Tri Phương ngày trước mà xuống nơi suối vàng. Vài dòng huyết lệ, cửa rồng muôn dặm, xin mặt trời mặt trăng soi tỏ tấm lòng son”.

Tổng đốc Hoàng Diệu chết theo thành Hà Nội, người dân Bắc Hà và cả nước vô cùng khâm phục cảm thương; ông được thờ trong miếu Trung Nghĩa ở Huế và miếu Tam Trung ở Hà Nội. Để tưởng nhớ Hoàng Diệu, tại đền Trung Liệt trên gò Đống Đa cùng với Nguyễn Tri Phương có câu đối hai bên cổng:
Thử thành quách, thử giang sơn, bách chiến phong trần dư xích địa
Vi nhật tinh, vi hà nhạc, thập niên tâm sự vọng thanh thiên
(Kia thành quách, kia non sông, trăm trận phong trần còn thước đất,
Là trời sao, là sông núi, mười năm tâm sự với trời xanh)

Đương thời, trước tấm gương trung nghĩa sáng chói của Hoàng Diệu, danh sĩ Ba Giai tức Nguyễn Văn Giai ở Bắc Hà đã ví Hoàng Diệu với vị đại thần Nam Tống bên Trung Hoa là Văn Thiên Tường, và hết lời tán dương công nghiệp của Hoàng Diệu trong tác phẩm “Hà thành thất thủ chính khí ca”, có lời lẽ đau buồn thống thiết.

Một cơn gió thảm mưa sầu,
Nấu nung gan sắt, dãi dầu lòng son.
Chữ trung còn chút cỏn con,
Quyết đem gửi cái tàn hồn gốc cây.
Trời cao, biển rộng, đất dày,
Núi Nùng, Sông Nhị, chốn này làm ghi.

Hình ảnh Võ cổ truyền trong lịch sử Việt Nam ngàn đời soi bóng, thiên cổ lưu danh; dẫu có phải trải qua bao nhiêu cơn gió thảm mưa sầu, bao nhiêu lần bị vong tình bội nghĩa nhưng vẫn là hồn thiêng của tổ quốc, là máu xương của dân tộc. Chính khí không thể vay mượn, không thể giả danh, không thể cưỡng dụng.
Võ sư Trương Văn Bảo

———————————————————

Đại dũng

 

Sách Luận ngữ có câu: “Kiến nghĩa bất vi vô dũng giả”, có nghĩa là thấy việc nghĩa không làm không phải là người có dũng, thấy việc đúng mà không làm thì không phải là người quân tử, vì vậy tiêu chí của người học võ là trọng nghĩa.

Dũng không phải là thấy việc bất bình thì “động thủ”, liều chết xông lên. Khi bị binh lính hành hình trên thập tự giá, trước lúc trút hơi thở cuối cùng, Đức Chúa Giê Su nói: “Xin Cha hãy tha thứ cho chúng, vì chúng không hiểu việc chúng làm”. Tinh thần điềm đạm và nhân ái ấy chính là đại dũng.

Người dụng võ đại dũng chân chính, chiếu không thẳng không ngồi (tịch bất chính bất tọa), việc phi nghĩa không nhúng tay. Nhưng, được mấy người như vậy? Thế sự phù trầm trên con đường tu học, người giác ngộ thì ít, kẻ giả vờ giác ngộ thì nhiều. Vì vậy, lời hát hay không lọt được vào tai chúng nhân, hát líu lo bậy bạ thì chúng lại cùng nhau vỗ tay khen hay.

Trong Lục tài tử thư (1), Nam Hoa Kinh của Trang tử là bộ sách xếp hàng thứ nhất. Để miêu tả tinh thần đại dũng của một hiền sĩ qua hình ảnh loài chim Uyên Sồ; Thiên Thu Thủy trong Nam Hoa Kinh có đoạn chép:

Huệ tử làm quan nước Lương, Trang tử tính qua nước Lương thăm. Nhưng, có kẻ nói với Huệ tử: “Trang tử mà qua đây là để cùng ông tranh ngôi tướng quốc”. Huệ tử sợ, cho kẻ canh chừng suốt ba ngày ba đêm, đợi Trang tử đến thì bắt.”

Trang tử hay chuyện, không đi. Sau rồi lại đến. Gặp Huệ tử ,Trang tử bảo: “Phương Nam có con chim tên là Uyên Sồ, ông có biết không? Uyên Sồ bay từ biển Nam qua biển Bắc, nếu không gặp cây ngô đồng thì không chịu đậu; nếu không gặp hột luyện thì không ăn; nếu không gặp giếng nước ngọt thì không uống”.

Có con chim ụt đang rỉa xác chuột chết giữa cánh đồng, thấy Uyên Sồ bay ngang, sợ nó giành miếng ăn nên kêu to lên để dọa Uyên Sồ đừng đáp xuống.

Nay vì sợ cái ngôi tướng quốc của ông ở nước Lương nên ông kêu to lên để dọa tôi sao?”

Chiến Quốc Sách viết chuyện Yêu Ly và Khánh Kỵ: Yêu Ly vì cảm cái nghĩa của Hạp Lư mà hứa giúp cho để lừa giết Khánh Kỵ. Một hôm Khánh Kỵ ngồi ở mũi thuyền chỉ huy binh sĩ, thì Yêu Ly cầm kích đứng sau lưng mà hầu, thừa lúc thuận chiều, đâm kích suốt qua bụng Khánh Kỵ. Khánh Kỵ sức khỏe phi thường, liền trở tay với bắt Yêu Ly, xách ngược lên, dìm đầu xuống nước ba lần, nhưng rồi lại ẵm lên để trong lòng, cúi nhìn cười và bảo: “Thiên hạ lại còn có kẻ dũng sĩ này có gan đâm ta chớ!”

Các tướng sĩ toan đâm chết Yêu Ly, nhưng Khánh Kỵ gạt đi, bảo: “Người này là một bậc đại dũng. Trong một ngày chớ nên để chết hai người dũng sĩ của thiên hạ. Các ngươi nên tha hắn, để hắn về Ngô tỏ lòng trung”.

Khánh Kỵ tha Yêu Ly rồi rút ngọn kích trong bụng ra mà chết. Sau đó, Yêu Ly cảm tinh thần đại dũng của Khánh Kỵ liền rút gươm tự sát.

Yêu Ly là người đại dũng. Khánh Kỵ lại còn là người trên người đại dũng.

Lạn Tương Như, một bậc đại dũng, người đời Chiến Quốc, môn hạ của vua Triệu. Qua việc dâng ngọc cho vua Tần mà tỏ dũng khí buộc vua Tần phải giữ lời hứa giao thành đổi ngọc cho Triệu. Cảm nghĩa khí ấy, vua Triệu ban tặng lời khen ngợi và phong chức Thượng tướng trước quần thần cho Lạn Tương Như.

Cũng vì lời khen và phong chức cho Lạn Tương Như của vua Triệu mà tướng quốc Liêm Pha của Triệu đem lòng ganh tị, bất mãn. Lạn Tương Như biết được nên tìm đường lánh Liêm Pha không cho gặp mặt.

Có lần Lạn Tương Như ra đường gặp Liêm Pha trước sau tả hữu quân lính ồ ạt theo hầu. Tương Như thấy vậy bảo người đánh xe tránh vào ngõ hẻm, chờ Liêm Pha qua khỏi mới đi. Kẻ thủ hạ thấy vậy muốn biết nguyên nhân.

Lạn Tương Như hỏi: “Các ngươi xem Liêm tướng quân uy lực có bằng vua Tần không?”. Bọn xá nhân đáp: “Không bằng”. Lạn Tương Như nói: “Lấy cái uy lực của vua Tần trong thiên hạ không ai dám chống, thế mà ta dám đương nhiên mắng vào mặt vua Tần và làm nhục cả quần thần. Ta dẫu hèn, há sợ Liêm Pha sao? Tuy nhiên ta nghĩ sở dĩ nước Tần không dám đánh Triệu là vì có ta và Liêm Pha. Nay nếu ta và Liêm Pha vì hiềm khích hại nhau, Tần sẽ thừa cơ đem quân đánh Triệu. Ta nghĩ đến sự tồn vong của đất nước mà bỏ chuyện hiềm khích vì ganh tị cá nhân của Liêm Pha đó thôi.”

“Nhân tất hữu dũng”, nghĩa là người có lòng nhân ái là người có dũng. Người đời ngưỡng mộ võ, vì thấy những tấm gương đại dũng của người dụng võ. Người đời khinh rẻ võ, bởi thấy nhiều ngừời dụng võ tham tài (tiền) bỏ ngãi (nghĩa).

Đại dũng là đức tính cao quý của người dụng võ. Người đại dũng khiêm cung, hòa ái, can đảm, bất khuất, kiên cường…lấy nhân, nghĩa làm đường tiến thủ.
Võ sư Trương Văn Bảo

 

————————————————-

 

Học võ và dạy võ

Học võ.

Người xưa dạy rằng: “Tập võ chi đạo có thể được cường thân, mẫn trí. Một người tập võ thì được cường thân, một nhà tập võ thì được cường tộc. Đường lối của võ thuật trước tiên là phải trọng võ đức, muốn có võ đức phải hiểu rõ công lý, muốn hiểu rõ công lý thì phải có học vấn.” Võ thuật là môn học rộng lớn, thâm sâu, có tính khoa học, nghệ thuật, giáo dục văn hoá truyền thống…

Võ là khoa học, nghệ thuật vì võ dạy cho con người phương pháp rèn luyện sức khoẻ, phát triển sức mạnh, ngăn ngừa bệnh tật theo khoa học giáo dục thể chất trong một nghệ thuật thần kỳ nuôi dưỡng tinh – khí – thần và nghệ thuật tự vệ, chiến đấu. Khoa học võ thuật đích thực có các nguyên lý cấu thành và liên hệ mật thiết với những khoa học tương cận như vật lý học, sinh học, y học, quân sự…Đặc biệt là triết học Đông phương.

Võ là giáo dục văn hóa truyền thống vì võ dạy cho người học biết nuôi dưỡng nhân tính và sống theo đạo lý trong một tôn chỉ rèn luyện nhân cách làm người.

Việc luyện tập võ thuật là một cuộc trường chinh để tự thắng chính mình, đưa con người đến sự giản dị, điềm đạm, khiêm tốn, đạt đến chân – thiện – mỹ trong cuộc sống. Chỉ có những ai không đi hết trọn con đường mới phải tự quảng cáo, khoe khoang, biện bạch. Trong tập sách Từ sinh lý đến dưỡng sinh, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã viết: “Tập vận động cho thân thể có nhiều cách, có những vận động tự nhiên như chạy, nhảy, bơi lội…thì ai cũng nên tập. Ngoài ra còn có các môn thể dục, thể thao tay không hay dụng cụ nhưng muốn rèn luyện để có các vận động điêu luyện thì tập võ là phương pháp hay nhất.”

Thật vậy, tuy võ thuật có đặc thù là chiến đấu nhưng tập võ còn là phương pháp tốt để nâng cao sức khỏe, qua đó con người có thể rèn luyện được nhiều đức tính quý báu như bền bỉ, chịu đựng, nhanh nhẹn, mưu trí, gan dạ và nhất là ở đỉnh cao người học võ thì khiêm tốn, điềm đạm, giản dị, giàu lòng vị tha và nhân ái. Thuật làm cho thân thể được khoẻ mạnh có rất nhiều. Biết được một thuật đủ để cho thân thể khoẻ mạnh và sống lâu. Võ thuật là một trong các nghệ thuật đó. Võ thuật không chỉ là loại hình vận động thể dục thể thao giản đơn mà còn là một hiện tượng văn hoá thần kỳ với những thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái… những công phu đặc dị, khí công, âm dương, ngũ hành, điểm huyệt, giải huyệt…

Do vậy cổ nhân thường ví võ học sâu như Đông hải, rậm rạp như rừng, mênh mông như biển cả. Võ thuật là giáo dục, văn hoá truyền thống, khoa học, quân sự, là phương pháp rèn luyện tu tập thể chất lẫn tinh thần và là môn học mang lại nhiều bổ ích. Đức Phật Thích Ca dạy các đệ tử rằng: “Đánh thắng vạn quân không bằng tự thắng chính mình, tự thắng mình là chiến công oanh liệt nhất”.

Tứ thư, Ngũ kinh là những bộ sách lớn, có giá trị trên nhiều phương diện, nhất là giáo dục. Chương thứ I, sách Đại học, bộ Tứ thư, luận về sự học viết:

Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện.
Tri chỉ, nhi hậu hữu định. Định, nhi hậu năng tĩnh. Tĩnh, nhi hậu năng an. An, nhi hậu năng lự. Lự, nhi hậu năng đắc.
Vật hữu bổn mạt; sự hữu chung, thuỷ. Tri sở tiên, hậu, tắc cận đạo hỹ.
Cổ chi dục minh minh đức ư thiên hạ giả, tiên trị kỳ quốc. Dục trị kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia. Dục tề kỳ gia giả, tiên tu kỳ thân. Dục tu kỳ thân giả, tiên chính kỳ tâm. Dục chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ý. Dục thành kỳ ý giả, tiên tri kỳ tri. Trí tri tại cách vật.
Vật cách, nhi hậu tri chí. Tri chí, nhi hậu ý thành. Ý thành, nhi hậu tâm chính. Tâm chính, nhi hậu thân tu. Thân tu, nhi hậu gia tề. Gia tề, nhi hậu quốc trị. Quốc trị, nhi hậu thiên hạ bình.
Tự Thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản. Kỳ bản loạn, nhi mạt trị giả, phủ hỹ. Kỳ sở hậu giả bạc, nhi kỳ sở bạc giả hậu, vị chi hữu giã.
Khang Cáo viết: “ Khắc minh đức”.
Thái Giáp viết: “Cố thị Thiên chi minh mệnh”.
Đế Diễn viết: “Khắc minh tuấn đức”. Giai tự minh giã.

Dịch nghĩa

Cái đạo của đại học là ở tỏ đức sáng, ở mới dân và ở chỗ chỉ ư chí thiện.
Trước hết phải biết mục đích, rồi sau mới quyết định, quyết định rồi bình tĩnh, bình tĩnh rồi sau mới vững được tinh thần. Tinh thần có vững mới nghĩ được những công việc cho đi đến kết quả.
Vật có gốc ngọn, việc có trước sau. Biết phân biệt thứ tự là gần với đạo vậy.
Người đời xưa muốn tỏ đức sáng cho thiên hạ biết thì trước khi trị nước phải lo cho yên nhà. Muốn lo cho yên nhà, trước hết phải sửa mình. Muốn sửa mình thì tâm phải ngay thẳng, ý chí phải thành thật. Muốn cho tâm được ngay thẳng, ý chí đươc thành thật, thì trước hết phải thông suốt vấn đề, phải hiểu lẽ sự vật.
Hiểu lẽ sự vật rồi sau mới thông suốt vấn đề, rồi ý chí mới thành thật. Ý chí thành thật rồi tâm mới ngay thẳng. Tâm ngay thẳng rồi thân mới sửa. Thân sửa rồi nhà mới yên. Nhà yên rồi sau nước mới trị. Nước có trị rồi thiên hạ mới bình được.
Từ Thiên tử cho đến người thường dân, ai ai cũng lấy sửa mình làm gốc cả. Gốc loạn mà ngọn yên không bao giờ có vậy. Cũng như chưa có ai đối với người hậu với mình mà xử bạc, đối với người bạc mà xử hậu.
Thiên Khang Cáo nói: Phải làm cho sáng đức.
Thiên Thái Giáp nói: Bao giờ cũng phải xét kỹ cái mệnh sáng của trời.
Thiên Đế Diễn nói: Phải sáng đức lớn.
Tất cả đều nói phải tự làm sáng đức mình vậy.
(Tạ Thanh Bạch dịch chú)

“Học võ là học đạo, trước tiên là đạo làm người, học võ còn để rèn luyện thân thể, lấy “dục thể, dục trí, dục đức” làm mục đích phấn đấu, bất luận trong hoàn cảnh nào, tinh thần thượng võ phải được tôn trọng. Người biết võ nên đóng góp công sức vào những việc ích nước lợi dân. Người giỏi võ mà kém trí đức chỉ là hạng võ biền hại người hại mình.” (Võ sư Hoắc Nguyên Giáp – Tinh võ môn)

Dạy võ

Thầy: tiếng gọi thiêng liêng, như tiếng gọi cha, gọi mẹ. Thầy là “sư phụ”, xưa quan niệm thầy là thiên chức không phải là nghề, thầy dạy chữ là giáo sư, thầy dạy võ là võ sư. Thầy là người có công ơn dạy dỗ, trau giồi, truyền đạt kiến thức, hun đúc ý chí, làm tấm gương soi rọi về nhân phẩm, đạo đức cho học trò noi theo mà nên người. Thành nhân là tôn chỉ của giáo dục. Dân gian có câu: “Không thầy đố mày làm nên”.

Người xưa quan niệm truyền thụ võ công là việc trang nghiêm, người học đến võ đường phải làm lễ nhập môn, bái tổ, bái sư. Nghi thức ấy xem ra cổ mà kính, đó là khởi nguồn của lễ. Võ thuật bắt đầu bằng lễ và kết thúc cũng bằng lễ. Chính từ những quan niệm xưa ấy mà thầy trò giữ lễ với nhau, lấy nhân nghĩa làm tiêu chí hành xử. Thầy sẽ là tấm gương soi trong sáng cho hậu thế, lời nói đi đôi với việc làm, tri hành hợp nhất. Ngoài khả năng chuyên môn, tư cách đạo đức, người thầy còn làm sáng lên nhân cách xử thế, người học nhìn vào mà noi theo.

Người xưa trọng tinh thần hơn vật chất, do vậy ít nghe chuyện khoe khoang, quảng cáo, công nghệ đánh phấn tô hồng chữ tôi, mà tâm niệm học võ là để phát huy chữ đức. Thầy quang minh lỗi lạc, chính trực công minh như tướng lĩnh can trường ngoài mặt trận. Chuyện dùng những thủ đoạn thấp hèn, độc quyền xưng bá đồ vương võ lâm là điều không có với những người thầy liêm sỉ. Thầy trượng phu, quân tử coi cuộc đời như thủy bạc, tình nghĩa đón đưa đôi bờ, bốn bể là nhà, đất trời là giang sơn. Văn hóa võ thuật như rừng cây có nhiều gỗ quý.

Thầy là sự mẫu mực, từ tri thức đến đạo hạnh. Dạy môn sinh bằng tâm đức, lấy lòng yêu thương, tâm huyết truyền thụ võ công, nên có câu: “danh sư xuất cao đồ”. Làm người thật khó, làm thầy thật khó hơn. Quan niệm xưa và nay bây giờ đã khác. Ngày xưa quan niệm: “Hữu xạ tự nhiên hương”, thầy giỏi và đức độ học trò tự “tầm sư học đạo”. Ngày nay kinh tế thị trường, quảng cáo tiếp thị là phương tiện giúp con người tìm đến nhau, nên có thầy đã tìm trò. Chính vì vậy mà nảy sinh chênh lệch đạo lý thầy trò, xã hội nhìn hình ảnh người thầy bằng một góc khác. Võ thuật là môn học đặc thù, trọng võ đức, nêu cao tinh thần thượng võ, thuyền trưởng chết theo tàu, tướng lãnh chết theo thành.

Dạy võ là dạy nhân cách sống, nhân cách hành xử:

– Điều thứ nhất là trong võ có đạo, đạo ở đây là đạo đức thuợng võ, đạo làm người, vì vậy người dụng võ trước tiên phải trọng võ đức, khi hành xử phải tự chủ, tự thắng chính mình để tránh được tối đa các kết quả xấu, ngoài ý muốn.

– Điều thứ hai là võ không chỉ đơn thuần là quyền cước, binh khí chiến đấu mà đỉnh cao của võ là trí tuệ, mưu lược, khôn ngoan, uyển chuyển, khi cần thì lên cao, lúc không cần thì xuống thấp, linh hoạt ẩn hiện như con rồng. Người đánh trăm trận trăm thắng chưa phải là người giỏi nhất, không đánh mà buộc đối phương phải hàng, tâm phục khẩu phục mới thật là người giỏi nhất.

– Điều thứ ba khi cần thiết phải dụng võ để chiến đấu tự tồn, mưu sinh thoát hiểm thì như mãnh hổ chốn rừng sâu, uy nghi, dũng cảm, cương quyết, tỉnh táo làm chủ trong mọi tình huống.

– Điều thứ tư là văn ôn võ luyện, võ là hơi thở hằng ngày, là hành trang vạn dặm, có như vậy thì sự học võ mới không hoài công vô ích.

– Điều thứ năm, là Thiên Mưu Công trong Tôn Tử Binh Pháp viết:
Biết người biết ta trăm trận không nguy;
Không biết người chỉ biết ta một được một thua;
Không biết người không biết ta hễ đánh là nguy.

Nhưng dù sao đi nữa thì: “Trong thế gian không có hương thơm nào bay ngược được chiều gió, chỉ có hương thơm đức hạnh mới có khả năng bay ngược chiều gió và tỏa ngát muôn phương”. (Kinh Pháp cú).

Thầy dạy võ là:
“Sổ hàng di biểu lưu thiên địa.
Nhất phiến đan tâm phó sử thi”.
Có nghĩa là:
Đôi hàng soi dấu lưu muôn thuở.
Một tấm lòng son tạc sử xanh.
(Cổ thi)
Võ sư Trương Văn Bảo
Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam

 

——————————————————-

Võ thuật & Đạo làm người

 

Võ thuật không chỉ là môn học về kỹ thuật luyện tập chiến đấu, không chỉ là một môn nghệ thuật mà còn là môn khoa học nữa. Bởi vì hình thức của nó được xây dựng từ các lý thuyết căn bản của khoa học tự nhiên như vật lý học, sinh học đồng thời nội dung của nó chứa đựng lý thuyết của khoa học xã hội như triết học, nhân văn….. Tính triết lý và nhân văn đó chính là nét để khu biệt võ thuật với các môn thể thao khác. Bởi lẽ người ta chỉ gọi là Nhu đạo (Judo), Không thủ đạo (Karate), Hiệp khí đạo (Aikido), Thái cực đạo (Teakowndo) chứ không ai gọi là bóng đá đạo, cầu lông đạo hay quần vợt đạo bao giờ cả. Chữ “Đạo” trong võ được xã hội hóa và ăn sâu trong máu thịt các dân tộc có nền võ học lâu đời như Nhật bản, Trung quốc, Triều tiên, Việt nam …… Như vậy, võ học được hình thành từ sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và hình thức, tất cả mọi chuyển động cơ học của các kỹ thuật tay chân đều ngầm chứa nội dung mang tính đạo lý và nhân bản sâu sắc. Suy cho cùng, trong sâu xa võ có hai phần: thuật và đạo. Thuật chỉ đủ để giúp người ta biết võ. Còn đạo mới đưa người ta đến tận cùng của cái biết võ mà hành võ. Đạo chính là đẳng cấp cao nhất mà người tập võ chân chính phải phấn đấu đạt đến.

Tiếng “Đạo“ của người phương Đông – nơi nhu cầu và tài nghệ con người được nghệ thuật hóa và triết học hóa tới cao độ. Quả thật, chưa có một từ ngữ tương đương nào của người phương Tây có thể dịch thoát, vì đạo ngoài ý nghĩa là “con đường“, là “thông lộ” còn bao hàm cả ý nghĩa về tôn giáo, luân lý và nghệ thuật. Ví dụ : Uống trà là nhu cầu thông thường, nhưng biết cách thưởng thức trà và những ý nghĩa thanh cao của việc uống trà kết bạn, giúp ích xã hội thì đó là Trà Đạo. Ngắm nghía và thưởng ngoạn hoa là thú vui thông thường trong cuộc sống, nhưng biết cách thưởng ngoạn như 1 nghệ thuật và nâng cao nữa về đạo lý giúp ích cho cuộc sống thì là Hoa đạo… vv…..

Khác võ thuật Trung Hoa cũng như Việt Nam nặng về xuất thế và cố giữ vị thế độc lập với chính trị, võ thuật Nhật Bản có truyền thống hội nhập ngay vào mọi sinh hoạt chính trị để hình thành một giai cấp trong xã hội Nhật Bản đó chính là tầng lớp Samourai (Võ Sĩ Đạo). Người Võ Sĩ Đạo được huấn luyện ngay từ nhỏ những kỹ thuật chiến đấu tay không và vũ khí rất lành nghề và quan trọng nhất vẫn là rèn luyện tinh thần Nhật Võ Đạo với những điều luật được ghi chép rõ ràng. Tinh thần đó tạo nên nét đặc trưng của người Võ Sĩ Đạo, bao gồm 5 đức tính tính chính (sự ngay thẳng, đức can đãm, lòng nhân từ, đức lễ phép, đức tự kiểm) và 3 đức tính phụ (đức vâng lời, đức trung tín, đức yêu việc).

Xưa nay các môn võ phương Đông dù khác nhau ở chiêu thức, nhưng đều có điểm giống nhau ở môn qui: không phản môn, phản thầy; không khoe tài, không ỷ lực hiếp người; không háo sắc, loạn dâm; không thắng vui, thua buồn… Tuy nhiên, người Nhật Bản có điểm khác biệt cơ bản các dân tộc ở quốc gia châu Á khác như Việt Nam, Trung Quốc và nhất là tại các nước Tây phương, chính ở chỗ quan niệm về học võ của họ. Người Nhật Bản đến võ đường với mục đích cao quí là học tập và rèn luyện cái “Đạo” trong võ học, còn đòn thế và cách thi triển chỉ là thứ yếu. Trong khi ở Việt Nam người ta đi học võ với mục đích rất “tầm thường” và thiên về mục đích cá nhân. Họ đi học võ để tự vệ, học để giữ gìn sức khỏe bản thân, rèn luyện để chữa bệnh, để làm việc nghĩa hiệp bênh vực kẻ yếu, có khi chỉ vì bạn bè rủ rê cho vui ……“Trà như ẩn sĩ, rượu như hào sĩ, võ như lực sĩ. Rượu để kết bạn, trà để hưởng tĩnh, võ để luyện thần “

Người ta thường nói “võ nghệ “ hay “võ thuật” với hàm ý trong võ có nghệ thuật hay võ là một nghệ thuật đặc biệt nhằm chiến thắng hoặc chinh phục một đối thủ nào đó . Nhưng, người ta còn gọi là “võ đạo” , đó là một sự tôn xưng một khi võ thuật đã đạt được cái vi diệu, cái lẽ tối thượng của nó. Khi đó nó đã tự phát lộ được khả năng soi sáng, khả năng giác ngộ, để con người không chỉ vượt thắng đối thủ, vượt thắng ngoại giới, mà cái chính là “vượt thắng chính mình”, tự hoàn thiện nhân cách, tự soi sáng tâm linh mình qua một quá trình rèn luyện gian khổ, qua hành trên con đường chông gai để đạt tới đạo .Đạo ấy của võ cũng giống như đạo Thiền, là quá trình tự khai sáng. Tổ sư Phật giáo thiền tông Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) tương truyền vừa là người khai sáng đạo thiền vừa là người khai sáng môn võ Thiếu Lâm. Hành trình khai sáng ấy trải qua suốt 9 năm trời ông “diện bích” – quay mặt vào vách đá trong hang động trên đỉnh núi Tung Sơn để Tham Thiền nhập định, lấy cái tĩnh mở thông cho cái động, lấy sự tịnh tâm làm đích cho mọi hoạt động của mình sau này, dù đó là hoạt động tôn giáo hay võ thuật.

Có ai bước vào nghề võ mà không vài lần nghe thầy dạy bảo: “Khi mới học võ, tôi chỉ có mong muốn là nắm được đòn thế cao siêu. Lên được đai đen, đai đỏ, tôi lại muốn mình phải thật giỏi để đánh thắng người khác. Nhưng bây giờ, mục đích lớn nhất của tôi chính là phải chiến thắng chính bản thân mình”. Trên các bức tường của võ đường hay treo đại tự “Nhẫn”. Bởi chính đó là nền tảng hun đúc nên tinh thần thượng võ. Chuyện võ kể rằng: Có một đại cung thủ đã đạt đến mức độ thượng thừa có thể “bách bộ xuyên dương”, đi trăm bước ngoảnh đầu lại bắn trúng lá liễu. Cả đời cung thủ này chỉ có một tâm nguyện duy nhất là tìm người để được thua. Ngày kia, theo lời chỉ dẫn của giới võ lâm, anh quyết lên ngọn Hoa sơn thi thố tài năng với một đại sư lừng danh đã ẩn tu. Vị đại sư đồng ý cùng anh leo lên một mỏm đá cheo leo cao nhất. Giữa cuồng phong gào rít, cung thủ chỉ đứng không đã muốn té, nói gì giương cung, lắp tên thi bắn đại bàng. Cuối cùng anh chịu thua và chuyển cung cho vị đại sư trổ tài. Thật bất ngờ, đại sư lại vứt cung xuống vực rồi bình thản nói: “Tôi đã bỏ tiền ra mua được một con đại bàng thật đẹp, thì khổ chi phải leo lên tận đây chịu nguy hiểm để bắn nữa…”. Như tuyết rơi giữa mùa hè. Như tia chớp lóe sáng ngay buổi bình minh. Đầu óc cuồng mê bất bại của cung thủ ngỡ ngàng đại ngộ! Anh lặng lẽ xuống núi, bẻ cung, ngồi thiền và viết ra dòng chữ “Dụng ý bất dụng lực”.

Như vậy thì con đường cũa võ khá gần gũi và thân mật với con đường của người làm nghệ thuật, nó đều khởi từ tâm và qua một quá trình vận động lại trở về tâm, theo một đường xoáy trôn ốc nào đó. Có lẽ người điển hình cho sự hợp nhất hòa đồng giữa Đạo, Võ và Thơ là Lý Bạch. Là một thi hào bậc nhất , luôn đứng ở Top Ten các thi sĩ mọi thời đại, Lý Bạch cũng là một kiếm sỹ lừng danh , một đạo sỹ bí ẩn của Trung quốc.

Và cũng để nói rằng, ở đời tự vượt thắng mình là con đường gian khó biết bao, và con đường ấy dẫn tới “hòa nhi bất đồmg” – hòa mà không đồng – là dẫn tới những cá tính nghệ thuật của nghệ sỹ, dù là kiếm sỹ hay thi sĩ. Hòa với người, hòa với Đại Ngã, nhưng “bất đồng”– vẫn là mình như một cá tính sáng tạo, một cái gì không lặp lại, như những đường kiếm biến ảo, dù nó vẫn theo lực hướng tâm. Ngày nay, nhiều môn võ được đưa ra thi đấu quốc tế tranh thắng thua. Mặt tích cực của nó là giúp người luyện võ tinh thần phấn đấu, rèn luyện sức khỏe, võ thuật. Nhưng nếu chỉ chú tâm vào chiến tích thấy được, e dễ rơi vào cuồng vọng thắng người mà quên mất phải tự thắng chính mình, sự chiến thắng thượng thừa nhất của người luyện võ.

 

————————–

 

Võ đạo của võ cổ truyền Bình Định

Võ đạo là cái đạo của người học võ, cái đạo của con người sống trong trời, đất, được thể hiện một cách sinh động qua bản sắc văn hóa, truyền thống, phong tục, tập quán, điều kiện kinh tế-xã hội và cốt cách con nhà võ, cùng với quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu tâm, dưỡng tính gắn với các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng ngay từ lúc sinh ra đến khi nhắm mắt lìa đời.

Hơn thế nữa, võ đạo trong võ cổ truyền Bình Định được hun đúc qua bao đời và trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc, được thể hiện khá rõ nét, cụ thể:

1. Truyền thống thượng võ, chống ngoại xâm

Mỗi con người chúng ta đều gắn liền với quê hương, xứ sở, luôn tự hào về truyền thống tốt đẹp của quê hương, xứ sở mình, và đều mang trong mình dòng máu của cha ông, của dân tộc.

Mỗi khi đất nước có họa ngoại xâm, thì mọi người già trẻ trai gái đều hăng hái tập luyện võ nghệ, sử dụng các loại binh khí, các miếng võ bí truyền và ai có súng dùng súng, ai không có súng thì gươm, giáo, mác, gậy, gộc, đồng lòng chung sức nhất tề đánh đuổi quân thù và sẵn sàng chiến đấu, hy sinh đến hơi thở cuối cùng, nhưng khi quân thù bại trận thì dân ta rất mực khoan hồng, độ lượng, hành sự đúng mực trượng phu.

Truyền thống đó được hun đúc qua 4000 năm lịch sử đấu tranh oanh liệt, chống ngoại xâm, chống bất công, áp bức, cường quyền, cùng nhau chung lưng đấu cật, chia ngọt sẻ bùi, đoàn kết xây dựng cuộc sống và bảo tồn giống nòi Lạc Việt.

Từ đó, cho dù ở phương trời nào, chúng ta cũng nhớ về cội nguồn, tổ tiên, luôn tự hào về các bậc tiền nhân đã dày công dựng nước, giữ nước, đánh đuổi quân thù, thu phục giang sơn về một mối, trong đó có các võ quan, võ tướng, các võ sư, võ sĩ đã không tiếc máu xương vun đắp nên truyền thống võ hào hùng của dân tộc Việt Nam mãi mãi trường tồn.

2. Truyền thống uống nước nhớ nguồn

Dân tộc ta có truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Nhắc lại chuyện xưa: khi Nguyển Ánh lên ngôi, đã hủy diệt toàn bộ thành quả của nhà Tây Sơn, trong đó có sự nghiệp võ học lẫy lừng của nhà Tây Sơn, nhưng người dân Bình Định, nhất là các học giả, các nhà nghiên cứu, các nhân sĩ, trí thức, các võ sư, võ sĩ, đã một lòng một dạ trung thành với những di sản và tinh hoa võ học chân truyền của nhà Tây Sơn, vẫn tôn thờ vị hoàng đế Quang Trung. Nhiều người khi được dụ hàng để được hưởng ân sủng, chức tước, bổng lộc của nhà Nguyễn, đều từ chối và quyết tâm chiến đấu, hy sinh đến giọt máu cuối cùng, lưu lại tiếng thơm cho muôn đời sau.

Nhiều nhà thi đỗ tiến sĩ, cử nhân võ nhưng không ra làm quan mà vẫn trung thành với “chủ cũ” đã tìm mọi cách để tập hợp tư liệu, biên soạn lại sách, giáo trình, các bài thiệu, các bài thuốc võ, bí mật truyền bá, lưu truyền cho các thế hệ mai sau, khỏi mất gốc, nhờ vậy, mà võ cổ truyền Bình Định không bị mai một, bế tắc mà còn ăn sâu bén rễ và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống văn hóa của nhân dân Bình Định.

Người Bình Định, từ người có võ công cao cường, đến người hiểu biết võ nghệ chút ít đều luôn một lòng tôn kính giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dòng võ cổ truyền Bình Định, ra sức truyền bá và bảo tồn võ đạo, võ lý, võ y, võ thuật, võ nhạc và những tinh hoa độc đáo của tổ tiên, tiếp tục truyền lại cho các thế hệ mai sau.

3. Truyền thống võ sĩ đạo và trọng nhân nghĩa

Đây là truyền thống cực kỳ quý báu đã ăn sâu vào máu thịt của người Việt Nam, trong đó có người dân “đất võ”. Trong lĩnh vực võ học, người học võ trước tiên phải là người có bản lĩnh, luôn lấy tâm đạo để chế ngự tà đạo, phải có cốt cách diện mạo của con nhà võ. “Tâm đạo” là nói đến tu luyện tư duy đạo đức làm người, sống phải cao thượng, trung với nước, hiếu với dân. Trung thực với môn phái, truyền dạy những điều hay, việc nghĩa. Một võ sĩ chân chính là một công dân tốt. Còn “Tà đạo” là sự đam mê tửu sắc, dâm ô trụy lạc, rượu chè say sưa, gây lộn đánh người, phá rối xã hội, bất chấp kỷ cương phép nước. Đây là những điều cấm kỵ đối với môn sinh học võ cổ truyền Bình Định. Ngoài ra, người võ sĩ đạo còn phải được truyền thụ thuần thục về tâm pháp và thực hiện nghiêm túc những điều cần làm và cấm làm:

– Phải giữ gìn bản thân luôn trong sáng, thuần khiết.

– Phải chuyên cần tập luyện võ công suốt đời và trung thành với môn phái.

– Phải phát huy và truyền dạy võ công của môn phái theo “chính đạo”.

– Không phản thầy, hại bạn, hà hiếp người khác.

– Không khoe mình, chê người.

– Không có tư tưởng thắng thì làm “vua”, thua thì làm “giặc”.

Khi thâu nhận võ sinh, người thầy bao giờ cũng chú trọng tướng diện, cử chỉ, lời nói, cung cách xử sự, nhân thân, lai lịch của người học trò để truyền dạy hay từ chối không truyền dạy, hoặc chỉ truyền dạy một ít thảo thức thông thường (ngay cả người thân trong dòng họ cũng vậy). Sau khi được thử thách để tuyển chọn, môn sinh phải lễ cúng tổ và được thử thách về sức chịu đựng, sự kiên trì, gan dạ, về đạo đức, tư cách, về sự trung thành với môn phái, tuân thủ môn quy, đặc biệt là sự tôn sư trọng đạo. Lễ cúng tổ được tổ chức trang nghiêm và theo nghi thức võ cổ truyền Bình Định, người thầy đứng lên đọc văn tế ông Tổ nghề võ. Sau khi cúng Tổ, đệ tử làm lễ khởi động tay chân…

Người xưa thường nói: “Đệ tử tầm Sư dị, Sư tầm đệ tử nan” – người muốn học võ, nghe thầy giỏi tìm đến không khó; thầy muốn truyền dạy võ thuật cho đệ tử không phải dễ, bởi lẽ thầy phải “chọn mặt gửi vàng”, phải chọn người có đạo đức trong sáng, hành động đúng mực trượng phu.

Mỗi bài tập đều có phần “lễ Tổ” và “bái Tổ”. Bái Tổ chính là thể hiện sự tôn kính tổ tiên, môn phái, kính thầy, yêu quý đồng môn. Những người giỏi võ cuộc sống thường rất bình dị, tài võ nghệ chỉ tiềm ẩn bên trong con người giàu lòng vị tha, khiêm tốn, ít khi lộ diện ra bên ngoài. Ngoài ra, họ còn có các đức tính như: Tín-Nghĩa-Hiệp-Dũng, đây chính là tinh thần và mục đích của người võ sĩ đạo chân chính. Chữ “Tín” ở đây muốn nói lên từ cái tâm của con nhà võ, lời nói phải đi đôi với hành động, không đem võ ra “bán” theo dạng võ Sơn Đông. Không hại người, không ỷ mạnh hiếp yếu, luôn bảo tồn võ đạo, uy tín môn đồ, mọi việc đều xử sự một cách trong sáng, chính nghĩa, không làm điều phi nghĩa, thất nhân, thất đức – đó là “nghĩa”. Còn “hiệp”, “dũng” là những đức tính không thể thiếu được của con nhà võ, luôn sẵn sàng diệt gian, trừ ác, thấy sự bất bình không khoanh tay đứng nhìn.

Hay nói cách khác, ở Bình Định, học võ là để giữ thân, giữ nhà, cứu người, giúp đời khi cần thiết, người có võ công càng cao thì đức tính lại càng khiêm nhường, thường sống ẩn dật, không phô trương, kiêu ngạo, không đánh người “dưới ngựa” hoặc truy thù đến cùng, nhưng một khi đã ra đòn thì phải hạ thủ.

Nói tóm lại, võ đạo chính là đạo đức trong sáng, đức tính cao cả, tâm hồn hỷ xả của con người có võ, người có võ mà thiếu đạo đức thì sẽ trở thành một tai họa không thể lường hết được và sự nguy hại không những cho bản thân, gia đình mà cho cả xã hội nữa.

Chính vì vậy mà võ cổ truyền Bình Định luôn đặt vai trò, vị trí và tầm quan trọng của việc giáo dục, truyền thụ võ đạo lên hàng đầu trong toàn bộ sự nghiệp chấn hưng nền võ học chân truyền, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai góp phần hình thành con người mới phát triển toàn diện, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.

 

——————————–

Lực pháp trong võ thuật

Lực có nghĩa là sức lực, sức mạnh tiềm ẩn bên trong cơ thể. Khái niệm về lực theo khoa học vật lý có phần rõ ràng dễ hiểu hơn khái niệm về lực trong võ thuật. Các môn phái võ thuật cổ truyền Đông Phương, dù cương hay nhu, nội gia hay ngoại gia quyền, muốn sử dụng chiêu thức có hiệu quả tất cả đều phải dùng lực. Thuật ngữ diễn tả cho khái niệm lực ấy trong võ thuật gọi là “kình”. Kình thường gắn liền với nhiều huyền thoại võ công của các cao thủ bởi tính cách hiệu quả kỳ bí của nó.

Người xưa nói: “Luyện quyền bất luyện công, đáo lão nhất trường không”, ý nghĩa đó ngầm nhắc đến công phu của kình, một sức mạnh tiềm ẩn bên trong mà chỉ có ai dày công luyện tập mới đạt được kết quả. Nếu không có lực thì các chiêu thức võ thuật dù có tuyệt nghệ đến đâu cũng chỉ là đơn điệu thuần cơ học. Đó là lý do cho thấy có những bậc thầy sử dụng đòn thế tuy ít nhưng hiệu quả rất cao và độ sát thương gây cho đối phương không lường được là vì phát huy được lực trong dụng võ.

Khái niệm về kình trong võ thuật cổ truyền Đông Phương chính là lực tạo ra do khí đi vào hệ cơ bắp trong một cơ chế sinh học đặc biệt và lực lại là hệ quả tất yếu của quá trình phát kình với các hiệu ứng mang tính vật lý, đó là tạo ra áp lực lên đối tượng và gây ra tác động ớ các mức độ và mục đích khác nhau. Nói một cách dễ hiểu là đòn đánh ra có một sức xuyên phá lớn làm cho đối phương bị chấn thương. Theo nhiều tài liệu võ thuật, có một số nguyên tắc cơ bản chung để phát huy lực pháp. Bất luận công việc gì, môn học nào, muốn có kết quả cũng đều đòi hỏi phải có công phu. Lý thuyết về sức mạnh của các chuyên gia võ học là sự phối hợp của nhiều yếu tố sau đây:

– Khối lượng và điểm tiếp xúc: Vật tiến công có trọng lượng càng lớn, sức mạnh xúc tác càng cao và điểm tiếp xúc của vật càng nhỏ thì sức xuyên phá càng lớn.

– Tập trung tinh thần: Đây là yếu tố không kém phần quan trọng bởi nếu tinh thần không tập trung được thì dễ bị tản lực khi ra đòn.

– Sự thăng bàng: Giữ vững trọng tâm cơ thể khi phát đòn sẽ giúp cho lực tập trung không bị phát tán.

– Kiểm soát hơi thở: Hơi thở có một vị trí quan trọng trong nguyên tắc phát lực, nhờ vào vận khí đúng lúc mà sức công phá của đòn tăng lên gấp bội và khả năng duy trì được sức bền.

– Kết cấu cơ thể: Cơ thể có cấu trúc tốt sẽ thuận lợi trong việc luyện tập và phát huy hiệu quả phát lực, điều này do bẩm sinh hoặc do kết cấu giữa việc luyện tập và chế độ dinh dưỡng.

– Gia tốc: Theo nguyên tắc vật lý, gia tốc tỷ lệ thuận với tốc độ, vì vậy đòn nào có gia tốc càng lớn thì sức tiêm kích của đòn ấy càng mạnh.

 

Võ sư Trương Văn Bảo

 


Luyện tập với bao cát

 

Bao cát có khá nhiều loại, loại treo, đứng dành cho từng kiểu tập khác nhau.

– Khi tập nên quan trọng nhất là biết được sức nặng cần thiết của mình so sánh với bao cát, một người 50 ký không nên đánh bao nặng hơn 3/4 trọng lượng chính cũa thân thể mình.

– Khi tập không nên tập hoài 1 kiểu đấm hay đá duy nhất, mà phải thay đổi đòn thế, tập hoài 1 kỹ thuật nó sẽ tạo nên thoái quen khó đánh được đòn khác.

– Nên bắt đầu tập bao cát nhét ruột bằng vải, sau đó bỏ thêm chút mạt cưa vào, sau đó thì dùng những cái khác như mạt cưa nặng, cát và đừng quá vội mà hư tay chân.

– Cách tập bao cát thì nên 2 người đứng 2 hướng khác nhau đấm đá ngược hướng đễ tạo sức mạnh cho cả 2 người.

– Nên mang bao tay để đấm bao cát, không dùng tay chân chai đá.

Tập bao toàn cát nên cẩn thận, tính cho phù hợp về số lượng lần tập, tăng dần khối lượng, không giục tốc bất đạt mà chấn thương mang hại về sau. Điều quan trọng nhất là phải có thuốc xoa bop trước và sau khi tập, hiệu quả tập luyện khá hay nhưng cần nỗ lực vì rất đau.

Nên tập bao cát bằng mùn cưa là tốt nhất, bao đựng mùn cưa có sự đàn hổi vừa phải nếu bạn dồn chặt, mùn của gỗ tốt là tuyệt vời rồi. Mới tập mà tập bằng bao cát rất đau và nặng, hơn nữa tập bằng bao cát quá cứng sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới xương khớp của các đốt ngón tay, cổ tay, khuỷu tay, bả vai chất bôi trơn giữa các khớp sẽ bị khô, lão hóa khi về già.

Khi tập bạn cố gắng thực hiện tất cả các động tác nhưng phải đúng kỹ thuật kẻo chân thương (nắm đấm chặt, tập trung, cổ tay phải thẳng dù đấm thẳng, vòng cầu hay móc, ra đòn phải dứt khoát…). Trong khi tập nếu đòn nào chưa nhuyễn thì hãy tập thật chậm cho chính xác quen dần sẽ nhanh.
Nguồn: vothuat.net.vn

——————————————

Phương pháp tập quyền

 

Theo quan niệm võ thuật truyền thống: Quyền là linh hồn của môn phái. Bài quyền là hiện thân của các chiêu thức chiến đấu. Bài quyền càng cao thâm phong phú bao nhiêu thì chiêu thức chiến đấu càng uyên áo đa dạng bấy nhiêu. Bài quyền và chiến đấu như hai mặt của bàn tay, nếu lưng bàn tay là quyền thì lòng bàn tay là chiến đấu và ngược lại, nhưng cả hai là một, đó là võ thuật. Khi diễn quyền phải thể hiện được tính chiến đấu thực tế, tinh thần tập trung, có sức mạnh và năng lực. Bài quyền không phải là một điệu múa vũ trường cũng không phải là sự ráp nối của một số động tác trình diễn tính sân khấu.

Theo triết học Đông phương, đặc biệt là triết học Phật giáo, từ quan niệm ”Nhất điểm phát vạn thù, vạn thù quy nhất điểm”, nên vị trí khởi hành và kết thúc của những bài quyền truyền thống cùng chung một điểm. Muốn tập bài quyền đúng mức, thể nhập bài quyền vào thân tâm, trước hết phải bình tâm không nôn nóng, vội vàng trước nhiều kỹ thuật, chiêu thức. Hãy bắt đầu bài quyền bằng tinh thần điềm đạm, từ tốn, khiêm cung. Tập từ cái đơn giản, bình thường, tập từng thế một, lặp đi lặp lại nhiều lần, đưa dần kỹ thuật lên mức cao nhất. Chỉ khi thuần thục thế này mới chuyển sang tập thế khác, tập đầy đủ các thế ấn định của bài quyền rồi mới kết hợp lại. Ban đầu cũng còn phải đánh chậm, sau mới dần dần đánh nhanh, mạnh, thoải mái, không gò bó.

Tập bài quyền đúng là tập đủ các pháp cơ bản trong võ thuật, vì bài quyền đích thực kết hợp các phần của tấn pháp, bộ pháp, thân pháp, thủ pháp, cước pháp… Trong diễn luyện còn phải thể hiện được thần lực của nhãn pháp, nội lực của khí pháp, sự an nhiên tự tại của tâm pháp, cùng nhịp điệu, tiết tấu, độ cương nhu của chiêu thức trong bài quyền cùng với nghệ thuật dung hòa cái đẹp trong uy lực dụng võ.

Cơ sở quan trọng nhất của người tập võ là luyện quyền, luyện quyền gắn với luyện công. Tập quyền càng lâu công lực càng thâm hậu, phát huy đặc thù của quyền và sự ảo diệu của đòn thế. Người xưa nói: “Luyện quyến bất luyện công, đáo lão nhất trường không”. Luyện một bài quyền tay không hay binh khí là tự đặt mình trong thế trận chiến đấu với đối thủ vô hình, do vậy cần thể hiện công phu, nghệ thuật, theo lộ đồ chiến thuật, đấu pháp công, thủ, phản, biến như trận đấu thật sự mới làm nổi bật được tính đặc thù của võ.

Ở trình độ cao, người luyện quyền có thể hòa mình vào cảnh vật với thiên nhiên. Sách chép rằng một hôm Minh Tông Đại sư đang luyện bài Mê Tông La Hán Quyền trong lúc ngoài sân chùa những cánh hoa mai rơi rụng trước cơn gió tàn đông. Nhập vào cảnh sắc ấy, tuy chân vẫn bước theo bộ vị mà tâm hồn hòa theo cùng những cánh hoa mai, mỗi động tác tay như một cánh hoa rơi uyển chuyển trước gió, giúp Đại sư khám phá ra sự ảo diệu của các thế võ mà hình thành nên bài Ngũ Lộ Mai Hoa Quyền nổi tiếng của môn phái Thiếu Lâm.

Nhập thần vào những thế đá khôn ngoan, bí hiểm và tinh thần quyết chiến không lui, qua quan sát các trận đá gà mà Nguyễn Lữ, anh em nhà Tây Sơn, đã sáng tác bài Hùng Kê Quyền nổi tiếng của Võ thuật cổ truyền Việt Nam. Từ đó có thể nhận thức rằng ngoài yếu tố sức mạnh, võ còn là thế trận và chiến thuật mà người luyện quyền phải làm sống được cái hồn của bài quyền, giúp lĩnh hội cảnh giới huyền diệu của quyền thuật.
Võ sư Trương văn Bảo

One thought on “Những bài viết về võ học

Thank for your comments

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s