Trương Minh Nhật Quang


 

Từ Hà Tiên tới Cần Thơ: Câu chuyện chú bé bán bánh mì và “D32”

 

(Intro) Ngày 20/2/2003, tác giả Trương Minh Nhật Quang đã mừng kỷ niệm hai năm ngày ra mắt phần mềm chôæng virus “D32” chạy trên nền Windows 32 bits, phát triển từ “D2”. Đặc biệt, sau khi e-CHÍP số 2 đăng Tâm thư Trương Minh Nhật Quang, nhiều e-mail đã gởi về Toà soạn và về cả địa chỉ e-mail của tác giả để chia sẻ “tâm sự” của anh. Trên hết, bạn đọc… tò mò muốn tìm hiểu thêm về con người khiêm tốn và “hơi bị…kín tiếng” này trong giới tin học!

Phải “công phu” lắm, chúng tôi mới thuyết phục được anh chịu kể chuyện về mình, dù nay anh đã chíp thêm vai… Biên tập viên e-CHÍP. Mời bạn cùng theo dõi những chặng đường gian khó của chàng trai quê gôæc Hà Tiên này.

Ngọc Hân

Lời kể của một chú bé bán bánh mì…
“Năm 1976, khi ba tôi trở lại sau một thời gian phải vắng nhà, gia đình tôi gần như không còn tài sản nào vì tất cả đã được má tôi bán đi để nuôi tám đứa con. Đồng lương giáo viên của má tôi không đủ trang trải trong ngoài. Bà vừa đi dạy, vừa đan áo len bỏ hàng chợ. Các em tôi bán thuốc lá dạo, còn tôi phụ ba “đổi nước” mướn (bằng một thùng phuy sắt đặt trên xe gỗ, kéo bằng sức người). Hôçi đó, sức khoẻ của ba đã giảm râæt nhiêçu nên tôi chỉ mới 12 tuổi đã phải lao động như một người lớn…
Năm 1978, khi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, như mọi người dân khác ở Hà Tiên, gia đình tôi sơ tán khỏi thị trấn, theo dòng người lánh nạn về bên kia sông để tránh tầm pháo của giặc. Vừa làm ruộng, vừa làm thuê, anh em tôi vẫn đến lớp đều đặn. Học ở đình chùa, ngoài vạt ruộng, dưới hầm dã chiến hoặc gầm bàn để tránh pháo. Phải mất hai năm, chúng tôi mới học xong chương trình lớp 8. Cuối năm tổng kết, có đứa mất tích, đứa chết trên đường đến lớp. Cô giáo tôi cũng chết vì một quả pháo rớt vào trường học. Tôi thì may mắn hơn, chỉ phải nằm trạm xá hơn một tháng do vướng kíp nổ.

Nhỏ: Vừa học, vừa “đôèi nước” mướn. Học ở đình chùa, ngoài vạt ruộng hay dưới hầm dã chiến…
Lớn thêm một chút: Sửa xe lề đường, bốc vác ở bến xe – bến tàu, dọn hàng chợ rôçi làm thợ hồ, cào ruộng muối, kể cả bốc mộ thuê… đêè có điêçu kiện học xong bậc PTTH.
Khi lập gia đình: Phải nghỉ dạy đêè chạy xe đạp ôm, nuôi cá bột, làm cỏ mướn, mượn lúa đêè xay gạo bán lẻ… kiếm tiền trị bệnh cho vợ.
Ngày nay: Cả hai anh chị đêçu lâæy bøìng thạc sĩ – anh theo công nghệ thông tin, chị thì sư phạm ngoại ngữ (tiêæng Anh).

Lúc đó, hầu như ngày nào chúng tôi cũng phải ăn khoai trừ bữa. Có một kỷ niệm khó quên: tôi được má nhờ đi mua khoai chịu cho bữa “cơm chiều”. Lúc ôm rổ khoai ngang qua hàng gạo, vì sợ bà chủ trông thấy sẽ đòi nợ, tôi cắm cúi đi mà không dám nhìn xung quanh rồi luống cuống đụng vào người khác, làm khoai văng tung toé giữa chợ. Oái oăm thay, bà chủ hàng gạo lại chạy ra nhặt hộ, còn tôi thì đỏ mặt, đứng lóng ngóng…

Chiến tranh biên giới lắng dịu, gia đình tôi về lại thị trấn, gom góp nhặt nhạnh đủ thứ vật liệu để cất một túp lều nhỏ trên nền nhà cũ trống hoác. Mười con người sống trong chiếc lều tênh hênh gần cả năm trời. Những đêm mưa lớn, không ai ngủ được vì mưa tạt và gió thốc. Thời gian này, tôi đi bán bánh mì dạo. Từ 4 giờ sáng, tôi đã thức dậy, bán đến 6 giờ rồi cuốc bộ thêm bốn cây số đến lớp học. Vào giờ chơi, tôi mang bánh đến từng lớp nhờ bạn bè mua giúp. Tan trường, tôi trở về nhận bánh mới và tiếp tục bán đến 12 giờ khuya mới về nhà, sau đó tranh thủ ngủ để 4 giờ trở lại lò… Có lần thấy tôi học sút, thầy chủ nhiệm – vốn rất thương tôi – đã rầy tôi giữa lớp. Tôi chỉ biết ôm bao bánh mì ra sau hè quệt nước mắt… Tuy nhiên, sau lần đó, tôi đã cố gắng sắp xếp lại thời khoá biểu của mình và tranh thủ học vào những lúc chờ bánh chín ở lò. Năm ấy, tôi đoạt được giải nhì kỳ thi học sinh giỏi toán của huyện…”

“D2” đã ra đời như thế nào?
Chú bé ở Hà Tiên âæy tên Trương Minh Nhật Quang, tác giả chương trình chôæng virus máy tính “D2”, nay là “D32”.

Có được sự thành đạt như hôm nay, Quang còn phải tiêæp tục trải qua nhiêçu chặång đường khác gian khôè không kém. Đêè có thêè tiếp tục học hết PTTH, ngoài việc bán bánh mì, anh làm đủ nghề: sửa xe lề đường, bốc vác ở bến xe – bến tàu, dọn hàng chợ, rôçi làm thợ hồ, cào ruộng muối, thậm chí nhận cả việc bốc mộ thuê… Thấy con ham học, ba má anh đã cố lo cho Quang và đứa em kế lên TPHCM học, ở nhờ nhà người bác. “Cuối năm đó, tôi tốt nghiệp PTTH loại giỏi, lên nhận phần thưởng trong bộ quần áo thùng thình quá khổ (của anh họ tôi cho, vì đêm trước kẻ trộm đã lẻn vào dọn sạch mấy bộ quần áo đi học của tôi)” – anh Quang kể.

Sau đó, dù thi rớt đại học, anh vẫn không nản lòng. Vừa tham gia công tác trong Ðội Thanh niên xung kích của địa phương như canh phòng phố xá, đào kênh, vận chuyển lương thực, vũ khí cho các tuyến phòng thủ dọc theo biên giới, vừa miệt mài tự ôn luyện chờ ngày thi đại học. Quang học bất cứ lúc nào có thể, dù trên bờ kênh mới đào hay dưới mái hầm dã chiến. Ban đêm giữa đồng không có đèn, anh đốt vỏ tràm một mình ôn luyện. Năm 1985, Quang đăng ký thi vào trường Đại học Cần Thơ. Kết quả thật bất ngờ: chỉ có anh là thí sinh duy nhất của huyện, lại là thí sinh tự do, trúng tuyển diện chính quy với 18,5/30 điểm, đứng sau người cao nhất tỉnh 0,5 điểm. Thế nhưng anh vẫn không được nhận vào học. Ba má anh phải gõ cửa khắp nơi. May nhờ có người bác nói giúp, Quang mới được nhận nhưng phải chuyển ngành và học trễ mất một tháng.

Bốn năm đại học thật vất vả với những khó khăn muôn thuở của một sinh viên nghèo như Quang. “Tuổi thơ gian khổ đã giúp tôi thích nghi với đủ nghề như chạy xe đạp ôm, dạy kèm, làm thuê… Nhờ đạt loại giỏi ở năm thứ ba, tôi là một trong hai sinh viên của Khoa được nhận học bổng đầu tiên của Canada dành cho sinh viên Đại học Cần Thơ. Tốt nghiệp Đại học với số điểm 44/50, tôi xin được ở lại Khoa để tiếp tục học tập và công tác nhưng vâén bị từ chối. Tôi trở về dạy ở trường PTTH Hà Tiên trong khi cô gái tôi yêu vẫn ở lại Cần Thơ công tác…” – anh bồi hồi kể.

Cuối năm 1990, anh cưới được người mình yêu. Sau khi cưới xong, họ trở về với công việc của mình và hàng tháng lại vượt… 210km để đến với nhau trong mừng mừng tủi tủi. Tuy vậy, cuộc sống của họ vâén chưa hêæt sóng gió: vợ Quang mắc phải một chứng bệnh hiểm nghèo, anh phải xin nghỉ việc để nuôi vợ từ Cần Thơ tới TP.HCM. Những lúc thiếu tiền, anh gửi vợ cho các dì phước trông nom rồi dong ruổi khắp miền Tây bằng nghề giao ảnh để kiếm tiền mua thuốc cho vợ. Một năm sau, khi về lại Cần Thơ, vợ Quang vẫn còn yếu chưa đi dạy được, trong khi anh lại thất nghiệp nên cuộc sống của họ càng thêm khó khăn. Ngoài việc chạy xe đạp ôm, nuôi cá bột, làm cỏ mướn, Quang còn về quê mượn lúa, xay gạo chở qua Cần Thơ bán lẻ kiếm tiền chợ. Có lần chở 200kg gạo bị sóng đánh đắm, hai vợ chôçng đem sôæ gạo ít ỏi vớt lại được trải ra nền gạch rồi thay phiên nhau quạt…

Sau đó, nhờ có người giới thiệu, Trung tâm Đại học Tại chức Cần Thơ đã nhận Quang và tạo điều kiện cho anh được học Tin học theo nguyện vọng. Thế là anh gởãi vợ về sống với ba má để lên TP.HCM, lâçn này là học tin học sáu tháng ở Trung tâm của Đại học Kinh tế TP.HCM… “Tháng 2/1992, một máy tính ở cơ quan tôi xuất hiện một đồng hồ nhỏ trên màn hình. Biết máy bị nhiễm virus, tôi rất lo lắng vì chưa tìm được chương trình diệt virus Clock âæy. Ý tưởng tạo ra một phần mềm diệt virus để tự bảo vệ mình đã thôi thúc tôi lao vào nghiên cứu ngôn ngữ Assembly. Sau bôæn tháng miệt mài trên chiếc máy XT của cơ quan, tôi đã biên dịch thành công chương trình chống virus Dir2/FAT, loại virus từng gây lúng túng cho không ít phần mềm chống virus lúc bấy giờ. Do nghe nhầm tên virus, tôi đã đặt tên cho sản phẩm của mình là “D2”. Về sau, lúc biết đích xác danh tánh của nó, vì muốn giữ lại tên gọi đầu tiên, tôi chỉ giải thích đơn giản: D2 là “Detect and Destroy Viruses” (Tìm và Diệt Virus)…” – Trương Minh Nhật Quang bật mí.

Virus thứ hai được anh cập nhật vào chương trình D2 là Little Girl. Virus này đã phá vỡ cấu trúc D2 trên nền duyệt đĩa vật lý, khiêæn anh lại phải làm việc cật lực để thay đổi cấu trúc chương trình giúp D2 có thể diệt các F-virus khác. Virus thứ ba là Clock, lại thêm một phen mày mò phương pháp diệt các B-virus…

Và anh kể tiếp, với nụ cười hiêçn hậu trong khi mắt lại ánh lên nét tinh nghịch: “Lúc này, vợ tôi đã có thể đi dạy được. Tích lũy một thời gian, chúng tôi để dành được đâu chừng một triệu đồng. Chúng tôi quyết định mua một chiếc máy tính 286 màn hình mono, không có đĩa cứng. Giá máy lúc ấy là 5.100.000 đồng, khoản tiền còn thiếu do họ hàng và bạn bè cho mượn. Tuy đã vét đến đồng bạc cuối cùng song trưa hôm ấy, dù ăn cơm với nước tương mà chúng tôi vẫn thấy rất ngon vì món… “ngó máy vi tính”!”.

Để đi tiếp con đường đã chọn…
Đêè có tiền trả nợ, Quang tổ chức một lớp tin học ngay tại nhà. Lớp đầu tiên chỉ có bôæn học viên, gồm bà chị họ, anh hàng xóm tốt bụng, một em sinh viên ở trọ cạnh nhà và…vợ anh. Lớp thứ hai, thứ ba rồi thứ tư có “khả quan” hơn, theo cách anh nói. Nhờ vậy, tám tháng sau, vợ chôçng anh trả dứt nợ.

Thời gian đầu viết “D2” trên máy đĩa ảo, Quang rất vất vả vì lập trình Hợp ngữ thường gây treo máy. Khi viết các thủ tục video, anh phải… tưởng tượng màu trên màn hình… mono đơn sắc. Mãi tới đầu năm 1995 khi mua được chiếc máy tính 386 SX-25, công việc của anh mới nhẹ hơn đôi chút. Tuy vậy, viết “D2” không mang lại chút lợi nhuận nào cho Trương Minh Nhật Quang. Một số người còn liệt anh vào “hàng ngũ phá hoại”, vì cho rằng những người viết chương trình chống virus thường… tạo ra virus (!). Mặc dù bị hàm oan, anh vẫn lặng lẽ tiêæp tục công việc với nguôçn động lực chính là “D2” ngày càng được sử dụng rộng rãi, giúp ích cho ngày càng nhiều người…

Năm 1994, vợ chôçng anh có con trai đầu lòng. Năm sau, Quang thi đậu vào khóa đầu tiên của Viện Tin học sử dụng tiếng Pháp (IFI) ở Hà Nội. Ngoài thời gian học trên lớp, anh vẫn kiên trì phát triển “D2”; tìm cách áp dụng những kiến thức mới vào sản phẩm của mình. Năm 1997, Quang tốt nghiệp Cao học với đề tài “Hệ chẩn đoán thông minh virus lạ”, được Hiệp hội Công nghệ thông tin và Toán ứng dụng của Canada mời báo cáo tiếp cận mới về công nghệ tri thức. (Tuy vậy, chuyến đi của anh không thành vì… không có tiêçn mua vé máy bay!)

Đêæn năm 1998, anh được mời báo cáo tại Hội nghị Công nghệ Thông tin các nước ASEAN tổ chức ở Hà Nội. Sau đó, năm 1999, anh có dịp báo cáo đề tài “Nhận dạng virus lạ” ở Hội nghị Quốc tế về Công nghệ thông tin Tiên tiến do Hàn Quốc tổ chức. Kể từ đó, thuật ngữ “Detect” (Phát hiện) đã được thay bằng “Diagnose” (Chẩn đoán) trong tên gọi của “D2”.

“Cuối cùng thì thế kỷ XX cũng khép lại ở năm 2000. Cũng năm này, Microsoft giới thiệu hệ điều hành Windows 2000, chính thức loại bỏ MS-DOS ra khỏi Windows. Trước sự kiện đó, mặc dù “D2” còn chạy được trên Windows 9x, tôi vẫn quyết định ngừng phát triển “D2” để đầu tư cho phiên bản chạy trên Windows. Như vậy, sau chín năm phát triển (1992-2001), “D2” đã hoàn tất sứ mệnh lịch sử của nó, trở thành phần mềm chống virus chạy trên DOS có thời gian sống lâu nhất của Việt Nam.” – anh Quang nói.

Sau một thời gian nghiên cứu, vào đầu tháng 2/2001, phâçn mêçm mới của Trương Minh Nhật Quang (chống virus trên Windows) đã hoàn tất. Anh kể mình cứ phân vân mãi khi đặt tên mới cho phần mềm này. Bởi thông thường, các chương trình chôæng virus (anti-virus) thường đặt tên với hậu tố AV. Tên mới phải kế thừa từ tên cũ “D2”, vốn đã vượt ngoài thông lệ, vì vậy các tên có hậu tố AV lần lượt bị gạt bỏ. Sau nhiều ngày đắn đo mà vẫn chưa đặt được tên gọi cho phần mềm, tối 19/2/2001 khi đọc bức e-mail có câu “Tôi muốn xin chép phần mềm D3 của anh…”, Quang đã tìm được ý tưởng: Đây chính phần mềm “D3 mới” mà mọi người đang kỳ vọng. Phần mềm này chạy trên nền Windows 32 bits, phát triển từ “D2” nên được đặt tên là… “D32 – Diagnose and Destroy Viruses for Windows 32”. Phần mềm ra mắt mọi người vào ngày 20/2/2001, trùng với ngày sinh của người sáng tạo nên nó, trở thành Anti-virus chạy trên Windows đầu tiên của Việt Nam.

“Từ khi viết “D32”, công việc của tôi càng vất vả hơn trước, nhất là lúc chúng tôi chuẩn bị có đứa con thứ hai, rồi đón bé chào đời, nuôi nấng chăm sóc… Ban ngày, tôi phải lên lớp giảng bài cho sinh viên, thực hiện các công tác của cơ quan. Ban đêm thì đọc tài liệu, soạn bài, trả lời e-mail và cập nhật “D32”. Đêm nào, tôi cũng làm việc đến gần 1 giờ sáng mới được ngủ…”- anh gởi e-mail tâm sự với chúng tôi. “

”Con gái chúng tôi vừa tròn một tuổi, còn “D32” cũng mới tròn hai tuổi. Mặc dù di chứng bệnh cũ của vợ tôi vẫn ám ảnh thường xuyên, chúng tôi vẫn kiên trì đấu tranh với bệnh tật. Gia đình tôi hiện sống rất hạnh phúc ở Cần Thơ, mảnh đất đã đưa chúng tôi đến với nhau, gắn bó và chứng kiến những thăng trầm của cuộc sống từ những ngày đầu gian khổ. Mặc dù còn quá sớm để đánh giá vai trò của “D2” và “D32” trong những năm qua nhưng chúng tôi rất tự hào vì đã sống và làm việc thật có ích. Tôi mong mình có đủ nghị lực đi tiếp con đường đã chọn, góp phần nhỏ vào việc bảo vệ an toàn dữ liệu cho người Việt Nam sử dụng máy tính.”

Nghị lực, chắc chắn anh vâén thừa nghị lực để đi tới mãi, như ngày nào còn gian khó mà vẫn vượt qua được. Bên anh, sẽ luôn có sự giúp sức với cả tâæm lòng của chúng tôi: e-CHÍP và bạn đọc quý mêæn của mình!

Lá thư Cần Thơ

Cần Thơ, ngày 7/7/2003
Kính gửi Hội đồng Biên tập e-CHÍP,

Chương trình trao biểu trưng Hiệp sĩ CNTT lần I đã khép lại, nhưng ấn tượng tốt đẹp về buổi lễ vẫn cứ thấm đượm dạt dào trong lòng người hâm mộ. Đây là lần đầu tiên một ấn phẩm tin học non trẻ ở Việt Nam như e-CHÍP đã thực hiện một chương trình có ý nghĩa xã hội to lớn như vậy. Theo tôi, thành công của chương trình là nhờ:

– Tư tưởng “xã hội hóa tin học” nắm vai trò chủ đạo xuyên suốt chương trình.

– Người tham dự được tận mắt chứng kiến những đoạn phim quý giá về cuộc sống đời thường, có thể nói là rất đỗi bình thường nhưng chứa đựng những tấm gương vượt khó, tinh thần cầu tiến và lý tưởng sống sáng ngời “mình vì mọi người” của các “Hiệp sĩ” tiêu biểu.

– Tạo được nhịp cầu đồng cảm giữa mọi người, không phân biệt “đẳng cấp” tin học, nghề nghiệp, công việc, lứa tuổi…

– Thành công lớn nhất của Ban Tổ chức là đã khơi dậy lòng yêu nước của lớp trẻ, đánh thức được tình cảm dân tộc, văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam (số hóa chữ Nôm để tìm hiểu, giới thiệu, bảo tồn, phát triển văn hóa Việt Nam cho đời sau, đóng góp vào kho tàng văn hóa của nhân loại…).

Có thể nói e-CHÍP đã làm nên một “Người đương thời” thứ hai trong làng báo chí Tin học Việt Nam. “Hiệp sĩ CNTT” đã thổi một luồng gió mát từ trong truyện cổ tích vào thời số hóa: một cô Tấm lọ lem xoa dịu nổi đau cho những người bất hạnh, một chàng Lục Vân Tiên mang lại ánh sáng tri thức cho trẻ em khiếm thị, một Ni sư – hình ảnh của Bụt từ bi bác ái dang tay cưu mang những mảnh đời đau khổ… Hào hiệp, lặng lẽ, bình dị không cầu danh lợi… chương trình “Hiệp sĩ CNTT” của e-CHÍP đã điểm tô thêm nhân cách sáng ngời của con người Việt Nam trong thời đại ngày nay, góp phần giáo dục lý tưởng sống đẹp cho thanh niên qua những việc làm thiết thực, cụ thể.

Để có thể phát hiện và trao danh hiệu “Hiệp sĩ CNTT” nhiều hơn trên mọi miền đất nước/nước ngoài, chúng ta cần nhanh chóng tổ chức một cuộc thi viết (hoặc mở chuyên mục “Bạn đọc viết cho e-CHÍP chẳng hạn) về các “Hiệp sĩ CNTT thầm lặng” chưa được phát hiện. Sau khi nhận bài, e-CHÍP sẽ tiến hành xác minh và bầu chọn vào danh sách “Hiệp sĩ CNTT” đợt II, III…


Hai “hiệp sĩ” chuyên trị virus Nam Quang – Bắc Quảng gặp nhau nhân ngày hội e-Chíp (từ trái sang): Trương Minh Nhật Quang và Nguyễn Tử Quảng

Xin kính chúc e-CHÍP luôn đổi mới để đáp lại tình cảm tin yêu của bạn đọc xa gần.

Trân trọng kính chào,

Trương Minh Nhật Quang

 

 

Echip.com.vn

Thank for your comments

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s