THẬP BÁT BAN VÕ NGHỆ



Huấn luyện viên trưởng Nguyễn Thái Bình

Trưởng ban chuyên môn đào tạo – Tiên Long Quyền Đạo


Binh khí là đồ vật được sử dụng để chiến đấu. Tất cả các vật dụng có thể dùng vào việc chiến đấu đều được gọi là binh khí. Binh khí là một bộ phận quan trọng hợp thành cổ truyền Việt Nam. Võ thuật từ võ nghệ diễn hoá mà thành, vì vậy “võ nghệ binh khí” cũng rất phức tạp, đa dạng. Võ cổ truyền có nhiều loại binh khí khác nhau, thường được gọi chung bằng thuật ngữ “thập bát ban võ nghệ”.

Binh khí cổ đại gồm rất nhiều loại nhưng được hệ thống hóa thành 18 môn loại. Đây là biểu hiện quan niệm của người xưa cho rằng số 9 là số cùng của chữ số (vì nếu thêm 1 vào số 9 thì sẽ thành số 10. Trong 10 vị trí, số hạng 10 lại trở thành chữ số bé nhất) vì vậy triết học, số học và lý học phương Đông dùng số 9 hay bội số của số 9 để biểu thị số mục nhiều. 18 là bội số của 9, vì vậy thập bát ban võ nghệ trở thành thuật ngữ được dùng cho tới ngày nay.

 

Thập bát ban võ nghệ hay 18 ban binh khí là thuật ngữ dùng để chỉ 18 loại binh khí cơ bản trong hệ thống chương trình của các võ phái Võ cổ truyền Việt Nam, đặc biệt là các hệ phái vó xuất xứ từ Bình Định, Nam bộ. Lịch sử nước Việt Nam lâu đời, quá trình phát triển có sự giao lưu, trao đổi, học tập lẫn nhau, rồi sáng tạo, phát minh ra các dạng binh khí khác nhau. Vì vậy trên thực tế binh khí của xưa nay không chỉ có 18 ban binh khí.

 

Thập bát ban võ nghệ do niên đại, vùng đất và các chi phái võ thuật khác nhau,có những quan niệm khác nhau, dẫn đến tình trạng ít nhiều chưa thống nhất về mặt khái niệm. Từ xưa đến nay có hàng chục cách hiểu khác nhau về hệ thống này.

 

Trong lịch sử nhân loại cho thấy, từ thời đồ đá con người đã biết sử dụng gậy gỗ, dao đá, búa đá, là những loại binh khí nguyên thủy trong cuộc đấu tranh sinh tồn chống lại các loài thú dữ và các bộ tộc hiếu chiến khác. Đến thời đồ đồng, các bộ lạc hoang sơ đã biết sử dụng đồng xanh (thanh đồng) mài làm dao, thương, việt (búa) v.v. và sau đó là thời đồ sắt với những vũ khí đầu tiên (không kể những công cụ sản xuất) được làm bằng sắt đúc.

 

Nguồn gốc 18 ban binh khí nói chung đến từ hai mặt, một là trong chiến tranh cổ đại các binh khí thường dùng như cung tên, đao, thương, kiếm, kích, xà mâu… mặt khác do công cụ sản xuất hay vật thường dùng trong đời sống diễn biến mà thành binh khí như soa (chĩa hai, chĩa ba), sản (cái xẻng), bừa cào, chuỳ, phủ (búa), côn, bổng (gậy) v.v..

 

Hệ thống thập bát ban võ nghệ Việt Nam đã có từ thời , thời Nguyễn và được đưa vào nội dung khảo hạch, thi cử để tuyển chọn các cử nhân, tiến sĩ võ. Nội dung thi tuyển này chủ yếu bao gồm bắn cung, phóng lao, lăn khiên, cưỡi ngựa, múa giáo, múa siêu đao, múa kiếm, đấu kích, múa côn, đánh quyền v.v.

Binh khí là sử dụng nối kết hợp nhuần nhuyễn giữa quyền thuật có binh khí nối dài và am hiểu tường tận tính chất lợi hại, hỗ tương của chúng phải biết tận dụng sở trường, sở đoản trong từng tình huống cụ thể, để đối phó. Võ phái Tiên Long Quyền Đạo có Thập bát ban võ nghệ hoàn toàn mang bản sắc Việt Nam gồm 18 môn tương ứng với 18 món binh khí gần gũi trong cách dùng xưa nay, có thể thống kê như sau:


 STT THẬP BÁT BAN
HÌNH ẢNH
PHIÊN NGỮ
 GHI CHÚ
PHÂN LOẠI
 1  Côn  Cudgel, staff  Roi – Đoản côn
– Song đoản côn
– Trung bình côn
– Tề mi côn
– Trường côn
– Đại trường côn
– Tiểu tử côn
– Thiết bản côn
– Thiết lĩnh
– Nhị tiết côn
– Tam tiết côn
– Lưỡng nhị tiết côn
– Hổ vĩ côn.
 2  Kiếm
 Sword – Độc kiếm
– Song kiếm
– Trường xà kiếm
– Gươm
 3  Đao  Scimitar, harlberd – Đơn đao
– Song đao
– Siêu
– Đại đao
 4  Thương  Spear – Thương
– Giáo
– Mác
 5  Mâu  Lance  Xà mâu – Mâu
– Sóc
6   Găm  Dagger  Trủy thủ  – Đơn găm
– Song găm
 7  Thuẫn  Shield – Thuẫn
– Đằng bài
– Lăng khiên
 8  Phủ  Hand axe, battle axe  Búa – Độc phủ
– Song phủ
– Việt phủ
 9  Chùy  Round hammer, mace – Độc chùy
– Song chùy
– Đại chùy
Lưu tinh chùy
 10  Kích  Crescent-moon spear  – Kích
 11  Giản  Rod – Độc giản
– Song giản
 12  Ngãi  Sickle, long sickle – Song tô
– Lưỡi hái
– Câu liêm
 13  Soa  Fork, trident  Chỉa – Cương trường soa
– Cương đoản soa
– Đinh ba trường
– Đinh ba đoản
 14  Câu  Hook-sword  Móc – Đơn câu
– Song câu
 15  Bừa  Rake  Bồ cào – Bồ cào
 16  Tiên  Soft-whip  Nhuyễn tiên – Thất tiết tiên
– Cửu tiết tiên
– Chuỗi tiền
– Xích sắt
– Xà vĩ tiên
– Dây thắt lưng
– Khăn quấn đầu
– Song xỉ
– Song bút.
 17  Hoàn  Heaven and earth loop  Vòng – Hoàn
 18  Cung  Bow and arrows  Cung phỉ – Cung tên
– Ná
– Nỏ.

Thập bát ban võ nghệ căn cứ vào hình dạng và cách sử dụng, có loại dùng một chiếc và có loại dùng một đôi, được phân làm năm loại binh khí:  Binh  khí dài (trường), binh khí trung (vừa), binh khí ngắn (đoản), binh khí nhuyễn (mềm) và binh khí  lưỡng (vừa cứng vừa mềm).

– Loại trường (dài): Trường côn,  Tề mi côn, Mâu, Soa, Bừa, Thương, Đại đao, Giáo, Mác, Kích, Chỉa ba, Đại phủ (búa cán dài), đáng …

 

– Loại trung(vừa): Đòn xóc, Trường kiếm, Phác đao…

 

– Loại đoản (ngắn): Côn (thước), Đao, Rựa, Mã tấu, Đoản kiếm (đơn & đôi), Phủ (búa), Lưỡi lê, Cung, Ná, Nỏ, Chuỳ, Tô, Câu, Giản, Thuẩn, Sóc. Hoàn, Quải, Bổng, chử (cái chày), …

 

– Loại nhuyễn (mềm): Nhuyễn tiên, Nhuyễn xích, Lưu tinh chùy, …

 

– Loại lưỡng (vừa cứng vừa mềm): Lưỡng tiết côn, Tam tiết côn, Mẫu tử côn, …

Ngoài ra cũng tùy theo sở thích, sở trường của mỗi người, mỗi võ phái mà có thể luyện riêng những binh khí đặc biệt khác không có trong 18 thứ binh khí. Sự đa dạng binh khí trong Võ cổ truyền tạo cho người học võ hiểu biết sâu sắc và có kiến thức phong phú từng cách sử dụng mỗi loại binh khí thời xưa, theo tính cách nghệ thuật văn hóa truyền thống.

Ngoài những thuật ngữ thường được thống kê chung trong thập bát ban, còn nhiều tên gọi các binh khí khác như: thiền trượng, đáng, sóc, hoàn (vòng) quải, chử (chày), lưu tinh chùy, sản, đằng bài, lưỡng tiết côn, tam tiết côn, cửu tiết tiên, tiên tử (roi đánh ngựa, trâu bò), bút sắt, phiên (phướn, cờ hiệu), phiến (quạt), phất trần, thiết địch (sáo)…đến những vật dụng thông thường ngay trong đời sống hằng ngày như dù, ghế đẩu, ghế ngựa, ba toong (gậy chống có móc), viết (bút), dây thắt lưng (dây nịt), khăn quấn đầu, khăn quàng cổ, đòn gánh, đòn xóc, búa, rìu, rựa, xà beng, xà gạc (dụng cụ chặt cây của dân tộc thiểu sổ)…đến những lọai binh khí đặc dị với những phương pháp chiến đấu và tự vệ hữu hiệu.

Võ cổ truyền Việt Nam như đôi cánh chim bằng mang tinh thần nhân bản và thượng võ của núi sông vượt muôn trùng mấy mươi thế kỷ. Võ cổ truyền có thập bát ban. Mười tám ban võ nghệ làm nên một chân trời cùng tuyệt, là đặc điểm trường tồn. Mười tám ban võ nghệ là tên gọi chung, trong thực tế có nhiều môn luyện, sự phong phú từ các võ đường, võ phái, môn phái cho thấy nhiều loại hình binh khí khác nhau.

Tên gọi binh khí võ cổ truyền cũng đặc biệt, tuy thoát thai từ nhu cầu mưu sinh thoát hiểm, khả năng chiến đấu sinh tồn và cuộc sống thường nhật nhưng tính cách vô cùng riêng, gọi là thuật ngữ (terminology). Có những môn võ mới, thường gọi là “võ hiện đại” để phân biệt với “võ cổ truyền”, cũng sử dụng một vài loại binh khí trong tập luyện nhưng không vượt ra ngoài các loại hình binh khí “thập bát ban” của võ thuật cổ truyền. Vì vậy võ cổ truyền mới có riêng một chân trời cùng tuyệt.

Võ thuật (martial arts) còn là nghệ thuật quân sự (military arts), từ thời xưa ngoài chiến đấu bằng kỹ thuật, chiến thuật tay không, binh khí; võ cổ truyền còn có cả phương pháp quân sự chiến trường thường được truyền dạy cho hàng võ tướng, gọi là Binh thư như: Binh Thư Yếu Lược. Vạn Kiếp Bí Truyền (Trần Hưng Đạo). Hổ Trướng Khu Cơ – có sách viết là Hổ Trướng Xu Cơ (Đào Duy Từ). Binh Pháp. Bát Trận Đồ (Khổng Minh Gia Cát Lượng). Tôn Tử Binh Pháp (Tôn Võ Tử). Ngô Tử Binh Pháp (Ngô Khởi). Tư Mã Binh Pháp (Nhương Tư). Uất Liễu Tử (Uất Liễu). Lục Thao (Khương Thượng). Tam Lược (Huỳnh Thạch Công).

                                  Văn đà khởi phụng đằng giao,

                              Võ thêm tam lược lục thao ai bì…

                                                           (Nguyễn Đình Chiểu, Lục Vân Tiên)

“Phép đánh là dùng chính để hợp, dùng kỳ để thắng, phép chiến thắng không ngoài kỳ chính, cách biến hóa của kỳ chính không bao giờ hết được. Kỳ và chính sinh ra nhau như vòng tròn không có đầu mối. Xét hư thực, hiểu rõ đâu là vững chắc, đâu là sơ hở, khéo dùng phép kỳ chính, đó là ba vật báu của binh pháp”.

“Hòa mục là giềng mối chính của sự trị an. Trong nước hòa mục thì việc binh tốt đẹp. Lính đồn thú ngoài biên cảnh hòa mục thì không có việc kinh sợ. Nếu bất đắc dĩ mới đặt giới cấm thì sự hòa mục càng được quý trọng. Vua tôi hòa mục sau mới chuyên dùng. Tướng văn tướng võ hòa mục sau mới thành công. Tướng sĩ hòa mục sau mới nhắc nhở công lao của nhau mà tưởng thưởng, khi gặp nguy nan mới cứu viện nhau. Vậy sự hòa mục là đường lối tốt đẹp bất di bất dịch của phép trị quốc hành binh”

                                                              (Trần Hưng Đạo, Binh Thư Yếu Lược)


* Tài liệu tham khảo:

·        Binh khí võ cổ truyền Việt Nam – Báo Bình Định

·        Lược khảo binh khí võ cổ truyền – Võ sư Trương Văn Bảo – LĐVTCTVN

·        Thuật ngữ binh khí Võ cổ truyền – Võ sư Trương Văn Bảo – LĐVTCTVN

·        Cùng nhiều nguồn tài liệu khác trên Internet.

Bến Tre, ngày  01 /07/2011

*HPL

One thought on “THẬP BÁT BAN VÕ NGHỆ

  1. Pingback: Mike

Thank for your comments

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s