GS. Trần Văn Giàu, người thầy mà tôi học mãi.


Lê Sơn
 Khi còn học trung học ở tỉnh nhà miền Trung, bên ngoại tôi có người ông, từ đầu thế kỷ XX, vào Sài Gòn làm nghề thợ may, đến khi gần 70 tuổi, ông giao tiệm may cho con gái, trở về ở nhà thờ họ tộc dưỡng già. Trong họ có 4 cụ tuổi suýt soát nhau, qua lại trà thuốc, đánh cờ, chuyện trò. Mỗi sáng sớm, 4 cụ kéo nhau ra bờ sông Trà Khúc hóng nắng ban mai, có khi họ nối lưng nhau đi bộ 2 cây số qua tỉnh lỵ ăn don rồi mới về. Trông 4 cụ ai cũng khen khí cốt tiêu sái, tiên phong đạo cốt.

Nhà thờ họ ngoại tôi, gần tỉnh lỵ, vườn tược rộng rãi, con cháu nội ngoại các nhà ở xa, thường về nhà thờ họ ăn ở đi tỉnh học cho tiện. Chúng tôi được giao nhiệm vụ bưng bê cơm nước, trà thuốc phục vụ các cụ, nên thường la cà hóng chuyện các cụ. Chúng tôi thích nghe chuyện của cụ thợ may Sài Gòn, vì ông lưu lạc Sài Gòn gần 60 năm, lưu trữ cả kho chuyện lạ mà bọn thiếu niên chúng tôi rất thích nghe. Ông thường nhắc đến Trần Văn Giàu như một nhân vật hùng biện đến huyền thoại. Ông nói, bấy giờ Sài Gòn vừa khởi nghĩa Tháng Tám thành công, nhiều phe phái nổi lên lắm, phe anh chị trộm cướp có, phe quốc gia tư sản có, phe cộng sản đệ tứ có… Họ xưng hùng xưng bá gây rối ren lắm. Chỉ có Trần Văn Giàu mới khóa miệng chúng được. Rồi ông kể những cuộc diễn thuyết của Trần Văn Giàu trước cả trăm ngàn thính giả mà ông được dự. Ông ca tụng Trần Văn Giàu như một vị anh hùng cứu nước đầy tài năng, nào Trần văn Giàu đã từng du học Pháp, du học Liên Xô, được Bác Hồ cử về nước lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Tháng Tám thành công ở Nam bộ.

Bấy giờ là những năm đầu của thập niên 60, miền Nam do chính quyền Ngô Đình Diệm quản lý, ai nhắc đến Bác Hồ là bị tù. Ông thợ may Sài Gòn cũng chỉ dám nói những chuyện ấy trong gia đình họ tộc. Tôi vừa hơn 10 tuổi, thích nghe chuyện anh hùng, hình ảnh người anh hùng Trần Văn Giàu chiếm một vị trí rất lớn trong tâm hồn tôi.

Ông thợ may Sài Gòn là em ruột Cử nhân Nguyễn Đình Quản. Ông Cử Quản tham gia lãnh đạo phong trào khất thuế ở Quảng Ngãi bị tù Côn Đảo, chung thân biệt xứ, hy sinh ngoài Côn Đảo năm 1913. Trong tác phẩm “Thi tù tùng thoại” nổi tiếng, cụ Huỳnh Thúc Kháng nhắc nhiều đến Cử Quản, ca ngợi Cử Quản là một con người có chí khí và đởm lược. Cử Quản bị tù, các em ông phần lớn bỏ xứ vào Sài Gòn sinh nhai và dễ dàng hòa nhập vào các phong trào yêu nước tại chỗ. Ông thợ may Sài Gòn có 2 người con, người con trai ra đi từ những ngày đầu Nam bộ kháng chiến và hy sinh trong thời chống Pháp ở trong Nam, chưa vợ con chi. Ông thương tiếc mãi người con trai, nên đến tuổi già, ông tìm về sống nơi quê nhà, giữa bà con họ tộc, xóm giềng cho đỡ nhớ con, như ông nói, mà còn để đỡ cô đơn, nhưng ông không bao giờ nói ra.

 

o0o

 

Đến những năm cuối thập kỷ 80, tôi theo học lớp “trên đại học” lần đầu tiên mở tại TP.HCM, có nhiều vị thầy đáng kính nổi tiếng giảng dạy, trong đó có những khuôn mặt nổi bật như Giáo sư Trần Văn Giàu, Giáo sư Trần Đức Thảo, Giáo sư Vũ Khiêu, Giáo sư Phạm Đức Dương, Giáo sư Văn Tạo, Giáo sư Phan Lạc Tuyên…

Tôi thích lối giảng bài đầy nhiệt thành của thầy Giàu, tôi khâm phục sự uyên bác và lý luận khúc chiết của thầy Giàu. Thầy mở ra cho chúng tôi một khung trời văn hóa tư tưởng rất rộng lớn, nhưng tôi nhớ mãi câu thầy nói đại khái là:

“Kho kiến thức của nhân loại ngày nay vô cùng phong phú, nhiều tác phẩm giá trị mà thanh niên ta cần phải tiếp cận. Phải nhanh chóng chuyển thành tiếng Việt cho mọi người cùng tham khảo thì kiến thức mới sâu rộng. Đối với nước ta công việc dịch thuật là hết sức cần thiết hiện nay. Thanh niên ta không thể chỉ đọc những gì cha chú ta viết, mà thanh niên ta cần đọc càng nhiều những tác phẩm vĩ đại của nhiều người thuộc các nền văn minh khác viết…”.

Cuối khóa học, tôi vinh dự được lọt vào top ten, rồi ngày phát bằng, tôi lại được đích thân thầy Giàu trao bằng “Cao học Sử”. Làm viên chức Nhà nước cấp quận, ngoài công việc chuyên môn hàng ngày, tôi dành nhiều thời giờ cho sách vở, nhưng rất chung chung. Ngành khoa học lịch sử có đến hàng chục chuyên ngành, mênh mông lắm. Tôi nhớ mãi câu nói trên kia của thầy Giàu và hướng mình vào mũi nhọn dịch thuật. Thế là tôi tập trung trước hết cho chữ Nho, vì trước đây tôi được các thầy Nguyễn Đăng Thục, Trần Trọng San… đánh giá cao về Hán văn, môn này tôi đỗ Bình thứ, mà khóa học ấy chẳng có ai đỗ Bình hoặc Ưu cả. Tôi đã từng được thầy Nguyễn Đăng Thục giao cho dịch một số bài ngắn trong “Ẩm băng thất” của Vương Dương Minh khi tôi học năm thứ tư. Khi ấy thầy chê tôi dịch chưa đạt và giảng giải thêm các chỗ còn yếu. Tôi vẫn thường xuyên đọc sách chữ Nho, Liêu Trai, Nho lâm ngoại sử, Hồng lâu mộng, Tây sương ký… Tôi đã thử dịch trọn bộ “Nho lâm ngoại sử”, dịch dở dang “Liêu Trai chí dị” và một số tác phẩm khác, đều chỉ vì thích mà làm, gọi là cho vui, chứ chưa tính việc theo hẳn nghề dịch thuật, trong khi tôi vẫn an phận với công việc của một nhân viên Nhà nước cấp quận. Tôi vẫn tiếp tục theo chuyên ngành Dân tộc học mà tôi thích, bấy giờ mới có vài ba Phó Tiến sĩ, để rồi đến cuối năm 1995, tôi bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ. Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, Viện trưởng Viện Dân tộc học và Tôn giáo Việt Nam, giáo sư phụ trách phản biện I trong Hội đồng giám khảo chấm bài cho tôi, sau một tháng đọc luận án của tôi, giáo sư bảo riêng tôi:

“Cậu không nên tiếp tục làm việc hành chánh, mà nên chuyển hẳn qua nghiên cứu thì sẽ có ích hơn. Vì cậu rất phù hợp với nghiên cứu, tôi tin sau 10 năm nghiên cứu, cậu sẽ vượt tôi”.

Có lẽ thầy đọc trong luận án của tôi, bài dịch một chương chữ Nho trong Gia Định thành thông chí và bài dịch nguyên một tiểu luận tiếng Pháp của GS Nguyễn Văn Khoan, người Việt Nam lấy học vị Tiến sĩ Sorbonne đầu tiên từ những năm 1920, làm việc ở Viện Viễn Đông Bác cổ. GS Nguyễn Văn Khoan đã bỏ ra trên 10 năm nghiên cứu, viết 32 trang tiếng Pháp về Đình làng và tục lệ cổ của cư dân đồng bằng sông Hồng cực hay, mà chưa ai dịch ra tiếng Việt.

Lời động viên của thầy hết sức ấn tượng, nhưng tôi chưa cảm thấy tự tin lắm, vẫn công việc hành chánh và lan man với đủ loại sách Ta, Tàu, Tây, chưa thể tìm ra hướng đi mũi nhọn thích hợp cho mình.

Thế rồi, nửa cuối năm 2002, Giải thưởng Trần Văn Giàu ra đời, năm 2003 đi vào hoạt động. Giải thưởng do NNC Trần Bạch Đằng làm Chủ tịch, Ủy ban Giải thưởng gồm 7 thành viên. Các Ủy viên UB Giải thưởng Trần Văn Giàu đều là các học giả uy tín trong sử học và triết học, đều có công việc thường xuyên của riêng từng người. Họ đứng trong Ủy ban Giải thưởng TVG là được cụ Giàu và cụ Bạch Đằng mời kiêm nhiệm, vài ba tháng mới họp một lần. Thế là Giải thưởng cần có một nhân viên trực Văn phòng Giải thưởng. Các cụ cũng đã nhắm ít nhất là Thạc sĩ. Điều kiện ấy cũng không khó tìm người, nhưng một Tiến sĩ chịu ngồi suốt ngày suốt tuần, một mình một phòng để trực mà không có lương, chỉ có phụ cấp 500.000 đồng/tháng thì mới khó tìm.

Tiến sĩ, Đại tá Nguyễn Hữu Nguyên, Viện phó Viện Lịch sử quân sự, là người được các cụ nhắm tới trước, nhưng anh đang ôm cả núi công việc của tỉnh Long An, chiến trường mà anh gắn bó thời chống Mỹ. Anh Nguyên lớn hơn tôi 2 tuổi, là bạn đồng môn top ten Cao học Sử năm nào, anh nhắm tôi thay thế anh, anh giới thiệu tôi với Ủy ban Giải thưởng Trần Văn Giàu và đến thuyết phục tôi:

“Sơn vẫn thường nói là khâm phục cụ Giàu, nay làm lính cho cụ thì hợp quá rồi. Lại còn được làm việc với các vị trong Ủy ban Giải thưởng do cụ Bạch Đằng làm Chủ tịch thì còn gì thích hơn”.

Thế là từ năm 2003, tôi làm thư ký văn phòng của Ủy ban Giải thưởng Trần Văn Giàu, tức là từ khi Giải thưởng đi vào hoạt động cho đến nay đã hơn 8 năm. Hàng ngày tôi ngồi tại văn phòng Giải thưởng tiếp khách, đọc sách, tổ chức hội họp của các vị với nhau hoặc với khách. Tôi thích nhất là được tỉnh táo quan sát cung cách và phương pháp làm việc của các bậc cây đa cây đề trong sự nghiệp nghiên cứu mà bắt chước. Tôi đọc tất cả các tác phẩm gửi dự giải thưởng, toàn những sách có giá trị đã được đánh giá cao, thì người ta mới gửi tới dự giải.

Được gần gũi với những cây đại thụ trong làng văn hóa Nam bộ, thấy họ làm họ sống, tôi đã học được nhiều, tôi bắt đầu viết và dịch.

Vạn sự khởi đầu nan! Nhưng kiến tha lâu đầy tổ, mỗi ngày tôi lập chí ngồi vào máy khoảng 15 tiếng, đều đặn suốt 8 năm như thế, nên đến nay, tôi đã có trên 10 tác phẩm trình làng.

Điều mà tôi muốn nói ở đây, là ảnh hưởng hết sức lớn mang tính quyết định của cụ Giàu đối với tôi. Hàng ngày, tôi tiếp những vị lão thành đến hỏi thăm sức khỏe cụ Giàu. Tôi đọc thấy nơi các vị khách ấy sự chân tình, lòng yêu mến sâu nặng và tinh thần cảm phục đối với một người luôn luôn cao hơn mình một cái đầu về nhiều phương diện. Đó là những vị xưa kia làm việc dưới quyền cụ Giàu, là các thế hệ học trò cụ Giàu, thậm chí có những vị chỉ nghe đến danh tiếng cụ Giàu. Trong đó, có nhiều vị giữ cương vị cao, thậm chí rất cao trong hệ thống Đảng, chính quyền, Hội, Đoàn Trung ương và các tỉnh, thành từ Bắc chí Nam, đương chức hoặc đã về hưu. Tôi cũng bắt đầu đọc có hệ thống tủ sách khá phong phú của văn phòng Giải thưởng, mà trong đó có đầy đủ sách của cụ Giàu và của các nhà lãnh đạo, của nhiều học giả nổi tiếng viết về cụ Giàu. Bấy giờ tôi đã hơn 50 tuổi, càng đọc tôi càng thấy cụ Giàu lớn quá, làm được nhiều việc quá, chỉ tính riêng trong lĩnh vực văn hóa, tư tưởng.

Tôi bắt đầu lập chương trình cho mình và làm việc một cách cần cù. Khởi nghiệp bằng chữ Nho trước. Phải tìm các bản sách có ích cho văn hóa mà chưa ai dịch. Lúc này, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Nhuận, Phó Viện  trưởng Viện Hán Nôm, qua PGS. TS. Phan An, Viện Khoa học xã hội tại TP.HCM, biết tôi người Quảng Ngãi bảo tôi dịch “Học văn dư tập” của ông quan to kiêm nhà thơ, người đồng hương Trương Đăng Quế. Hòa thượng Thích Phước Sơn, Phó Viện trưởng Viện Phật học TP.HCM, Thượng tọa Thích Đồng Bổn, Ban Phật giáo Việt Nam khuyến khích tôi dịch “Đại Đường Tây vực ký” của thầy Đường Tăng Trần Huyền Trang đi thỉnh kinh. Tôi nhận lời dịch, chỉ nhờ các sư phụ chỉ dạy thêm và chịu bỏ công nhuận sắc cho. Đến đầu năm 2007 thì hoàn thành bản dịch và nhuận sắc, 2 cuốn sách đã ra đời. Tôi tiếp tục dịch một số tác phẩm chữ Hán có tiếng của các tác giả Nho học nước ta mà chưa ai dịch. Tôi cũng tham gia dịch một số sách Phật học như “Đại bát Niết bàn kinh”…

Nhưng theo cụ Giàu, tôi đã không dừng lại ở việc dịch thuật chữ Hán. PGS. TS. Nguyễn Văn Lịch, Phó Chủ tịch Ủy ban Giải thưởng Trần Văn Giàu, Chủ nhiệm bộ môn Việt Nam học, Đại học Khoa học và Nhân văn TP.HCM, kéo tôi vào kho sách Tây học hiện đại, thuộc chuyên ngành Dân tộc học của tôi. Các sách tiếng Anh, tiếng Pháp đang thịnh hành ở phương Tây mà Việt Nam rất cần nhưng chưa ai dịch. Tôi chủ biên và đồng dịch các tác phẩm “Anthropology: The study of man” (Nhân chủng học: Khoa học về con người), “Anthropological Theory” (Lý thuyết Nhân loại học) và tự mình dịch “Le Japon d Aujourd hui” (Nhật Bản ngày nay).

Những tác phẩm trên rất cần cho thanh niên ta tham khảo, nhưng nguyên tác đều dày cả ngàn trang, lượng tiêu thụ hạn hẹp, nên không thu hút các nhà dịch thuật. Mỗi cuốn sách ấy tôi phải làm hàng nhiều năm trời mới xong, mà thật ra chỉ với cung cách sinh hoạt nghiêm túc, môi trường hoạt động của Giải thưởng Trần Văn Giàu mới giúp tôi nhẫn nại và cầu tiến như thế.

Từ khi đọc một cách có hệ thống các tác phẩm của thầy Trần Văn Giàu và được gần gũi làm việc dưới sự chỉ dạy thân tình của các vị trong Ủy ban Giải thưởng mang tên cụ Giàu, tôi đã có được hướng đi rất rõ ràng cùng với phương pháp làm việc có hiệu quả. Đến nay, sau 8 năm cần cù trong sự ưu ái của các vị là cây đa cây đề, tôi đã có trên 10 đầu sách. Chính thầy Giàu đã mở lối đi cho tôi thật sáng sủa. Tôi mong muốn làm một trò nhỏ của thầy Giàu, dịch ra tiếng Việt các tác phẩm có ích cho văn hóa nước nhà, là thực hiện một chút gì đối với hoài bão vĩ đại của thầy Giàu. Năm nay, đã 62 tuổi, tôi sẽ theo suốt cuộc đời sự nghiệp mà thầy Giàu đã vạch ra cho tôi.

                                                                                                 Ngày 16-12-2010

                                                                       LÊ SƠN (LÊ SƠN PHƯƠNG NGỌC)

One thought on “GS. Trần Văn Giàu, người thầy mà tôi học mãi.

  1. Pingback: Wiki backlinks

Thank for your comments

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s