Kinh tế Việt Nam 2012: Trong họa có phúc


 

Nhìn nhận rằng nền kinh tế đang đứng giữa ngã ba đường và thời kỳ tăng trưởng phi mã trên 2 con số đã qua rất xa, nhưng các nhà kinh tế, lãnh đạo doanh nghiệp vẫn tin tưởng rằng đây cũng chính là cơ hội để tái cấu trúc DN và nền kinh tế.

Đó là những ý kiến trao đổi tại diễn đàn Cơ hội vượt lên trong năm 2012: Góc nhìn của các doanh nghiệp hàng đầu và tăng trưởng nhanh do công ty Vietnam Report phối hợp với báo VietNamNet tổ chức tại TP.HCM ngày 6/9.

Xa rồi thời tăng trưởng nhanh

Phát biểu trước hàng trăm DN hàng đầu Việt Nam, tiến sĩ Đăng Doanh nhận định, nền kinh tế Việt Nam đã qua “rất xa” thời kỳ tăng trường mạnh mẽ từ 2 con số trở lên. Những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng chậm lại, mức độ lạm pháp tăng cao, đồng tiền mất giá so với nhiều nước trong khu vực; chỉ số chứng khoán cũng “đi xuống” nhanh nhất trong các nước.

Dự kiến chỉ tiêu kinh tế xã hội năm 2012 đề ra là khoảng 6,5%, thấp hơn so với mức 7.5% đề ra trong năm nay và thấp hơn chỉ tiêu đề ra cho kế hoạch 5 năm 2011 – 2015…

“Rõ ràng nến kinh tế Việt Nam đang đứng trước ngã ba đường. Nếu có sự tái cơ cấu mạnh mẽ từ Chính phủ, từ các DN, phát huy được các tiềm năng về tài nguyên, lao động…thì nền kinh tế Việt Nam có thể tiến tới giai đoạn ổn định khoảng 2 năm sắp tới, rồi tiếp tục tăng trưởng ở mức độ bền vững hơn. Nếu không có biện pháp mạnh mẽ, rất có thể có một kịch bản khó khăn, kinh tế Việt Nam rơi vào trạng thái vừa tăng trưởng trì trệ, vừa lạm phát cao…Đấy là viễn cảnh rất tiêu cực” – tiến sĩ Doanh nói.


Dưới góc độ của chuyên gia tư vấn quốc tế, ông Edward Chien – Giám đốc Pricewaterhouse Coopers Việt Nam cho rằng ở Việt Nam đang có một nghịch lý là tăng trưởng tăng nhưng năng suất lao động không tăng, lạm pháp phi mã thì hiệu quả của nền kinh tế là không cao. Đáng lo ngại nhất vẫn là tốc độ lạm pháp, con số không chính thức có thể lên tới 33%/năm…

Phát biểu nhận định về nền kinh tế Việt Nam, tiến sĩ Alan Phan – Chủ tịch quỹ đầu tư Viasa lại có cái nhìn “lạc quan” hơn. Theo ông, kinh tế vĩ mô xấu đi, nhưng kéo theo nó cũng có rất nhiều thay đổi và cơ hội cũng nhiều hơn…

“Các bạn nhớ những năm 2001, khi nền kinh tế gặp khó khăn, nhiều đại gia người Việt đã biết vận dụng cơ hội để kiếm tiền và tạo ra khối tài sản ngày càng lớn..Hiện tại tôi cảm thấy rất lạc quan, bởi trong thời điểm khó khăn này cũng chính là thời gian tốt cho những người biết nắm bắt cơ hội” – TS  Alan Phan chia sẽ với lãnh đạo DN.

Nắm bắt cơ hội để vươn lên

Trao đổi về khả năng “chèo lái” nền kinh tế, tiến sĩ Lê Đăng Doanh tin rằng, năm 2012 sẽ là năm cải cách, tái cơ cấu mạnh mẽ của Chính phủ.

Theo ông, trước hết phải cải cách tài khóa và tài chính công, cắt giảm đầu tư công và cải cách DN Nhà nước. Chấm dứt việc doanh nghiệp nhà nước vay tiền nhưng sau đó Bộ tài chính đi trả nợ giùm. Ngoài ra phải thực hiện công khai minh bạch, về trách nhiệm giải trình và kiểm soát các lợi ịch nhóm. Nếu như không kiểm soát lợi ích nhóm, thì hiện nay rất nhiều các dự án đầu tư, như số sân golf đang tăng lên, rồi các dự án sử dụng nhiều đất đai, dùng vốn nhà nước, không biết sẽ mang lại lợi ích gì cho người lao động, nhưng chắc chắn mang lại lợi ích cho một số người nào đấy

Ngoài ra cũng cần tăng cao tính dự báo của các chính sách và tăng đối thoại của Chính phủ đối với DN trước khi ban hành

Ông Doanh còn lưu ý các DN cần giải quyết các nhu cầu vốn của mình, tránh các rủi ro về mặt tỷ giá, điều chỉnh kế hoạch sản xuất, đề phòng các rủi ro có thể xảy ra.

Ông Trương Đình Anh – Tổng giám đốc công ty cổ phần FPT trong phát biểu đã ví von rằng: tình cảnh hiện nay là “trong họa có phúc”.

Ông Trương Đình Anh – TGĐ FPT: Tiết kiệm chi phí, giảm nhân sự

Khi mà cả xã hội khó khăn thì FPT cũng không phải là ngoại lệ. Ngay từ đầu năm chúng tôi đã xác định triển vọng kinh doanh năm nay là rất khó khăn. Điều đó đòi hỏi phải tăng cường “hợp lực” trong toàn bộ tập đoàn, tiết kiệm chi phí, tăng cường rà soát lại nhân sự…

Thực tế trong 6 tháng đầu năm 2011, doanh thu của FPT tăng 22%, nhưng số cán bộ giảm 0,6%, doanh thu lợi nhuận trên mỗi đầu người sẽ tăng lên, trong khi chi phí sẽ giảm đi. Làm được điều này, chúng tôi sẽ có nhiều nguồn lực hơn, để huy động cho phát triển trong bối cảnh khó khă

Ông Trương Đình Anh – Tổng giám đốc công ty cổ phần FPT trong phát biểu đã ví von rằng: tình cảnh hiện nay là “trong họa có phúc”. Theo ông Anh, FPT đã có thời kỳ rất tự tin với định hướng phát triển DN, khi có tới 35% số vốn đầu tư vào ngành nghề khác không quen thuộc. Tuy nhiên tới nay, tình hình khó khăn buộc DN này phải chuyển hướng, tái cấu trúc lại, chỉ đầu tư không quá 10% vào lĩnh vực, ngành nghề khác có tình rủi ro.

“Tập trung vào ngành nghề chính sẽ tạo nên sức mạnh cho DN. Đó là bài học mà FPT rút ra tại thời điểm này” – ông Anh chia sẽ.

Tiến sĩ Alan Phan kể một câu chuyện từng “mắt thấy, tai nghe” để nói việc huy động vốn cho phát triển sản xuất mà theo ông “không khó để tìm”. Đó là trường hợp DN của ông Nguyễn Thanh Mỹ ở Trà Vình. Thật khó tin ở một tình thuộc diện khó khăn nhất nước lại có một DN sản xuất công nghệ cao để xuất khẩu, kiếm tiền triệu USD.

“Chính việc chọn lựa lĩnh vực đầu tư, cách điều hành quản lý DN thuộc diện “hiện đại, chuyên nghiệp như ở Mỹ” mà DN này đã nhận được sự đầu tư 12 triệu USD của một quỹ đầu tư từ Pháp..” – tiến sĩ Alan Phan cho biết.

Cho lời khuyên về khả năng DN Việt Nam làm gì để thu hút nguồn vốn từ nước ngoài, ông Edward Chien – Giám đốc Pricewaterhouse Coopers (Việt Nam) lưu ý các DN Việt Nam nên áp dụng hệ thống tài chính, kiểm toán quốc tế, bởi các nhà đầu tư nước ngoài luôn có tâm lý e ngại các đánh giá tài chính trong nước, thường độ chuẩn xác chưa cao..

Còn theo diễn giả tiến sĩ John Vong, CEO Leadership Corporation Australia để đưa sản phẩm công nghệ của Việt Nam ra toàn cầu thì ngoài vai trò hỗ trợ của Nhà nước, các DN phải đăng ký ở nước xuất khẩu để nhận được tài trợ và bảo hộ trí tuệ…

Tại hội nghị, CEO của DN trong lĩnh vực nông nghiệp tại tỉnh Thái Bình kể lại câu chuyện một nhà đâu tư tài chính nước ngoài quan tâm tới DN của ông. Hỏi lý do, nhà đầu tư quốc tế này cho biết hai lĩnh vực lương thực và năng lượng đang rất “nóng”, rất dễ nhận đầu tư…

Đồng tình với với ý kiến này, tiến sĩ Alan Phan cho rằng ngành nông nghiệp vẫn là “cốt lõi” của nền kinh tế Việt Nam, tiếc là mức độ quan tâm từ Chính phủ đang giảm đi. Đây là ngành mà Việt Nam có lợi thế rất lớn về đất đai, tài nguyên…đảm bảo cho sự tăng trưởng, phát triển bền vững.

Còn với các DN viễn thông ở Việt Nam, CEO FPT Trương Đình Anh cho rằng, sự cạnh tranh khốc liệt khiến thị trường viễn thông phát triển tới mức bão hòa, nhưng thị trường nội dung số vẫn còn nhiều cơ hội phát triển cho các DN biết nắm bắt thời cơ, làm ăn bài bản, nhìn xa trông rộng.

 

Năm 2012: Cộng đồng DN có cái nhìn lạc quan

Ông Vũ Đăng Vinh – Tổng giám đốc công ty VietNam Report: Công ty Vietnam Report thường xuyên gửi phiếu điều tra đến DN để cập nhật tình hình, cũng như là xu thế phát triển, với kỳ vọng tạo cầu nối giữa công đồng DN, đặc biệt là cộng đồng lãnh đạo DN Việt Nam đối với đánh giá về hiện trạng phát triển cũng như chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ trong năm vừa qua.

Trong lần điều tra này, chúng tôi có gửi phiếu hỏi tới công đồng 500 DN lớn nhất Việt Nam, 500 DN tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam, 1000 DN nộp thuế lớn nhất Việt Nam. Hôm nay, chúng tôi cũng công bố báo cáo điều tra về môi trường kinh doanh của Việt Nam với ý kiến trả lời của 250 DN.

Đánh giá chung, cộng đồng DN có nhận định là trong năm 2011 có những khó khăn, đặc biệt trong lĩnh vực huy động vốn, rào cản về chính sách, các triển vọng… Phần lớn các DN có nhìn nhận năm 2012 là tích cực.

Chúng tôi cũng ghi nhận các khuyến nghị từ cộng đồng DN để có những bước đột phá, cải tổ trong chính sách quản lý tiền tệ, chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Đồng thời DN cũng có những bước chuẩn bị nhằm đối phó với quản trị về rủi ro, trong tình hình bất ổn.

 

 

Tác giả: Thái Thiện  – VEF.vn

——————————————————-

Tỷ giá: Điểm yếu của nền kinh tế Việt Nam

 

Nếu tỷ giá được giữ như hiện nay thì có lẽ tăm Việt Nam không thể cạnh tranh với tăm Trung Quốc.

Với tỷ giá như hiện nay, hàng hóa của Việt Nam gần như không thể cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc. Điều này có nghĩa là các loại nguyên vật liệu phụ trợ gần như không có cửa để phát triển.

Có rất nhiều điều đáng bàn khi nhìn lại bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2010 và dự báo cho năm 2011. Tuy nhiên, dựa vào sự mất cân đối trầm trọng của cán cân ngoại thương cứ dai dẳng trong mấy năm qua thì có thể nói rằng tiền đồng Việt Nam đang bị định giá quá cao, nhất là so với đồng Nhân dân tệ (RMB), chính là điểm yếu của kinh tế Việt Nam. Chính đồng tiền đang bị định giá quá cao làm cho hàng hóa của Việt Nam không thể cạnh tranh nổi với hàng hóa Trung Quốc cho dù ngay trên sân nhà của mình.

Nhiều người có thể cho rằng phần lớn các nguyên vật liệu phải nhập khẩu từ Trung Quốc là do Việt Nam chưa có các ngành công nghiệp phụ trợ trong khi Trung Quốc đang có nhiều lợi thế với các ngành như vậy.

Điều này có thể chấp nhận đối với một số ngành mà Trung Quốc có lợi thế như phôi thép, một số loại điện máy… Nhưng làm sao có thể biện minh cho việc nhiều loại hàng hóa thông thường như tăm tre hay miếng rửa bát của Trung Quốc đang tràn ngập trên thị trường Việt Nam nếu dựa vào lập luận nêu trên.

Chính việc phải đi nhập khẩu từng cây tăm đã làm cho nhập siêu từ Trung Quốc chiếm đến 90% nhập siêu của cả nước. Yếu tố giải thích khả dĩ nhất chính là tỷ giá đồng tiền.

Có nhiều ước lượng khác nhau về mức độ định giá thấp hơn giá trị thực của đồng Nhân dân tệ và mức độ tiền đồng cao giá so với đồng Đô la Mỹ. Nếu dựa vào số liệu từ bài viết của TS. Võ Đại Lược và TS. Lê Xuân Nghĩa trình bày tại hội thảo “Ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng: Kinh tế Việt Nam năm 2010, triển vọng năm 2011” sẽ thấy đồng Nhân dân tệ đang được định giá thấp hơn so với đồng Đô la Mỹ 30% trong khi tiền đồng đang bị định giá cao hơn 15% so với đồng Đô la. Hai kịch bản tỷ giá được trình bày trong bảng 1.

Bảng 1: Hai kịch bản tỷ giá
Tỷ giá Hiện tại Đúng giá Đúng giá/Hiện tại
USD/VND 19.500 22.425 15%
USD/RMB 6,93 4,85 -30%
RMB/VND 2.815 4.625 64%

Hiện nay tỷ giá USD/VND là 19.500, tỷ giá USD/RMB là 6,93 và tỷ giá RMB/VND là 2.815. Giả sử chi phí sản xuất một hộp tăm tại Trung Quốc (bao gồm cả lãi định mức và chi phí vận chuyển) là 1RMB. Để có được mức lời định mức nêu trên, giá bán một hộp tăm Trung Quốc ở thị trường Việt Nam chỉ cần ở mức 2.815 đồng. Nếu chi phí sản xuất một hộp tăm ở Việt Nam là 4.000 đồng thì chắc chắn tăm Việt Nam không thể cạnh tranh được với tăm Trung Quốc vì nếu bán ở Việt Nam thì giá phải là 4.000 đồng và bán ở Trung Quốc phải là 1,42 RMB.

Điều gì sẽ xảy ra nếu tỷ giá các đồng tiền được định đúng giá trị của nó? Lúc này, tỷ giá USD/VND sẽ là 22.425, tỷ giá USD/RMB sẽ là 4,85 và tỷ giá RMB/VND sẽ là 4.625. Do chi phí một hộp tăm ở Trung Quốc vẫn là 1 RMB nên để có được mức lời định mức, giá bán một hộp tăm Trung Quốc ở Việt Nam phải lên đến 4.625 đồng.

Khi đó tăm Việt Nam không những không bị thất thế trên thị trường trong nước như hiện nay mà còn có thể xuất khẩu sang Trung Quốc vì chỉ cần bán được 4.000 đồng trên thị trường Việt Nam hay 0,87RMB là đã đạt được lợi nhuận định mức.

Phân tích trên cho thấy, việc đồng tiền Việt Nam đang bị định giá cao hơn trên 60% so với đồng Nhân dân tệ giống như hàng hóa sản xuất ở Việt Nam bị đánh thuế hơn 60% so với hàng hóa sản xuất từ Trung Quốc.

Hành động hợp lý của các doanh nghiệp không chỉ nhập khẩu các nguyên vật liệu phụ trợ mà còn nhập khẩu cả tăm tre, sản phần gần như không có sự khác biệt về công nghệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, thậm chí nếu không tính đến yếu tố tỷ giá bị bóp méo thì chi phí sản xuất ở Việt Nam còn thấp hơn.

Với tỷ giá như hiện nay hàng hóa của Việt Nam gần như không thể cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc. Điều này có nghĩa là các loại nguyên vật liệu phụ trợ gần như không có cửa để phát triển.

Giải pháp có tính mấu chốt là cần phải đưa đồng tiền trong nước về đúng giá trị của nó so với đồng RMB càng sớm càng tốt. Đây là chìa khóa nhằm làm tăng sức cạnh tranh của các loại hàng hóa trong nước và cơ cấu lại nền kinh tế. Một trong những vấn đề làm nhiều người lo ngại là việc giảm giá đồng nội tệ sẽ gia tăng nợ. Tuy nhiên, đứng trên quan điểm quốc gia thì đây là một quan niệm sai lầm. Vì giảm giá đồng tiền không chỉ không làm tăng nợ mà còn giúp cho khả năng trả nợ của Việt Nam được cải thiện.

Với khoản nợ nước ngoài khoảng 30 tỉ Đô la Mỹ, tương đương với 600.000 tỉ đồng hiện nay, nếu giả dụ, tỷ giá tăng lên 30.000 đồng/Đô la Mỹ thì tổng nợ quy ra tiền đồng sẽ là 900.000 tỉ đồng, tăng 50%. Đây là con số mà nhiều người nhìn vào và lo ngại. Tuy nhiên, trên thực tế khoản nợ của Việt Nam vẫn là 30 tỉ Đô la và Việt Nam phải kiếm đủ ngoại tệ để trả số nợ này chứ việc quy ra 600.000 hay 900.000 tỉ đồng không có ý nghĩa gì cả.

Đứng dưới góc độ này thì giảm giá đồng tiền sẽ giúp cải thiện khả năng trả nợ của Việt Nam vì xuất khẩu sẽ có lợi và nhập khẩu sẽ bất lợi làm có cán cân ngoại thương được cải thiện. Hơn thế, đối với doanh nghiệp như Vinashin, nếu lấy đóng tàu làm nòng cốt thì giảm giá tiền đồng cũng sẽ có lợi.

Giả sử nợ bằng ngoại tệ của Vinashin là 2 tỉ Đô la, tương đương với 40.000 tỉ đồng. Nếu tỷ giá tăng lên 30.000 đồng/Đô la Mỹ, tổng nợ tính ra sẽ là 60.000 tỉ đồng, tăng 50%. Đây là một con số tạo ra cảm giác vô cùng khủng khiếp, nhưng trên thực tế Vinashin phải kiếm đủ 2 tỉ Đô la để trả nợ chứ không phải là 40.000 hay 60.000 tỉ đồng.

Nếu hoạt động đóng tàu là nòng cốt thì doanh thu chính là từ Đô la, do vậy khi đồng tiền trong nước giảm giá thì ngành đóng tàu sẽ có lợi. Vấn đề của Vinashin chỉ có thể nghiêm trọng hơn khi giảm giá đồng tiền nếu tiền vay ngoại tệ được đổ vào những hoạt động phi ngoại thương như bất động sản hay chứng khoán chẳng hạn.

Cần phải khẳng định rằng đồng tiền được định giá thấp luôn có tác dụng tích cực cho xuất khẩu dù tỷ trọng nguyên liệu đầu vào chủ yếu là nhập khẩu. Đây chính là lý do tại sao cả Nhật Bản và Trung Quốc bằng mọi giá giữ đồng tiền của mình ở một mức có lợi cho hoạt động xuất khẩu.

Tóm lại, chừng nào vấn đề tỷ giá chưa được giải quyết thì việc nâng cao khả năng cạnh tranh, phát triển công nghiệp phụ trợ của Việt Nam vẫn chỉ là ước muốn. Chỉ có điều chỉnh tỷ giá mới có thể giúp cân bằng ngoại thương. Nếu Việt Nam không chủ động thì khi dữ trữ ngoại hối còn ở mức quá thấp và vì một lý do nào đó mà dòng vốn đảo chiều thì việc phá giá bắt buộc và bị động sẽ gây ra những tổn hại rất lớn cho nền kinh tế.

Hơn thế, song song với việc điều chỉnh tỷ giá đồng tiền, việc cắt giảm chi tiêu công, nhất là những khoản đầu tư kém hiệu quả là một trong những yêu cầu bắt buộc vì mất cân đối bên ngoài rất khó giải quyết khi mà mất cân đối bên trong trầm trọng vẫn diễn ra.

Huỳnh Thế Du (TBKTSG)

 

———————————————————————————-

 

Thực trạng Nền kinh tế Việt Nam theo đánh giá các chuyên gia

Bài 1:  Việt Nam giữ vững tiến trình trong 2 cơn bão lớn

Hai cơn bão lớn cùng đổ bộ

Theo chuyên gia kinh tế Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), tăng trưởng ấn tượng của Việt Nam trong thời gian qua kéo theo những hiệu ứng phụ như tăng trưởng quá nóng ở một số bộ phận của nền kinh tế, tăng đột biến kim ngạch nhập khẩu, sự thiếu hụt cơ sở hạ tầng, nhân lực chất lượng cao.

Dòng tiền chảy vào Việt Nam mạnh gây bùng nổ nhu cầu tiêu dùng, xây dựng và bùng nổ thị trường chứng khoán (TTCK) giữa năm 2007 và bong bóng thị trường bất động sản thời gian gần đây.

Nhu cầu trong nước tăng mạnh cùng mức thanh khoản cao tạo áp lực ngày càng cao đối với  lạm phát. Tỷ lệ lạm phát trung bình hằng năm từ 3,1% năm 2003 lên tới 7,8% năm 2004 và duy trì mức cao này trong những năm tiếp theo, cao hơn trung bình khu vực. Trong khi đó, vào thời điểm năm 2000, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam thấp hơn khu vực, và là thiểu phát.

Giá lương thực tăng nhanh hơn so với mức tăng của cả rổ hàng hóa. Việc tăng giá, đặc biệt giá lương thực ảnh hưởng đến người nghèo, nhất là người nghèo đô thị, những người sử dụng phần lớn thu nhập cho mua hàng hóa thực phẩm mà không phải cho giáo dục hay y tế và không có cơ hội tiếp cận lương thực dễ dàng như người nghèo nông thôn.

Hơn nữa, người nghèo nông thôn có khả năng hưởng lợi từ việc mua bán lương thực trong bối cảnh tăng giá, tạo yếu tố triệt tiêu ảnh hưởng lạm phát.

Tỷ lệ lạm phát tăng cũng làm suy yếu năng lực cạnh tranh của Việt Nam. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa đã giảm từ từ đến cuối 2007 và tỷ giá hối đoái thực, chỉ số thực ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp Việt Nam so với ngành công nghiệp Mỹ tăng nhiều từ tháng 3/2004. Lạm phát của Việt Nam tương đối cao hơn so với lạm phát ở Mỹ. Hệ số lạm phát triệt tiêu thay đổi tỷ giá danh nghĩa, dẫn đến tăng tỷ giá thực.

Đồng thời với cơn bão lạm phát, ông Bahodr Ganiev, chuyên gia ABD phân tích, sự suy giảm kinh tế toàn cầu bắt đầu từ suy thoái kinh tế Mỹ cũng đổ bộ và gây ảnh hưởng lớn đến Việt Nam. Những diễn biến này ảnh hưởng bất lợi tới Việt Nam.

Sự thay đổi mạnh ở TTCK thế giới ảnh hưởng đến sự biến động của TTCK Việt Nam. Giá tăng gây áp lực lên lạm phát, ít nhất trong ngắn hạn. Sự phát triển của các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam suy giảm dẫn đến chậm lại tốc độ tăng xuất khẩu và đà tăng trưởng GDP. Do các quốc gia chủ đạo có tốc độ tăng trưởng chậm lại, đặc biệt là những nước có tiền đổ vào Việt Nam và những nước có đông người Việt Nam sinh sống, nên lượng kiều hối từ cộng đồng người Việt cũng sẽ giảm. Thâm hụt tài khoản vãng lai sẽ tăng lên, thặng dư tài khoản thanh toán giảm, thặng dư cán cân thanh toán giảm.

Việt Nam giữ vững tiến trình trong bão

Ông Konishi, Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam giả định rằng Chính phủ sẽ duy trì định hướng chính sách chống lạm phát cho tới khi lạm phát được giải quyết; sự phối hợp và tính đồng bộ của các chính sách vĩ mô sẽ được cải thiện; thắt chặt ngân sách cần đồng bộ với thắt chặt chính sách tài khóa và sự linh hoạt của chính sách tỷ giá; thắt chặt tiền tệ không gây ra vấn đề nghiêm trọng nào đối với hệ thống tài chính và sẽ không có nguy cơ về các cú sốc cung, đặc biệt là cung hàng hóa; ví dụ,  không xảy ra dịch lớn như cúm gà, lở mồm long móng với gia súc, kinh tế Việt Nam năm 2008 sẽ đạt tăng trưởng 7%. Từ đó, ông đưa ra các dự báo về kinh tế như sau:   Chỉ số lạm phát bình quân kỳ 2008 sẽ khoảng 18,3% và đến 2009 là 10,2%. Nếu tính lạm phát cuối năm so với năm trước, chỉ số lạm phát của Việt Nam năm 2008 là 15,6% và năm 2009 xuống còn 7,6%. Tốc độ tăng xuất khẩu dự báo vẫn ở mức 18,7% và tăng lên 23,5% vào 2009. Cán cân vãng lai sẽ nới rộng mức thâm hụt lên -10,3% và lên -9,4% vào 2009.

Ông Ayumi Konishi nhấn mạnh “Việt Nam cần duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời xây dựng khả năng vững chắc của nền kinh tế nhằm duy trì sự tăng trưởng kinh tế bền vững ở tầm trung và dài hạn. Điều quan trọng là Việt Nam nhận ra sự tăng trưởng tương quan so với các nước láng giềng cũng như điều tiết các chính sách kinh tế đáp ứng được những tình huống bất ngờ nhằm duy trì tiến trình tăng trưởng dài hạn của đất nước”.Con số 7% tăng trưởng không cao nhưng so với mặt bằng kinh tế thế giới suy giảm là không tệ.

Ông Konishi lưu ý Việt Nam cần có sự phối hợp đồng bộ trong các giải pháp trong chống lạm phát. Đến giữa tháng 3/2008, việc phối hợp vẫn chưa tốt. Chính sách tài khóa vẫn chưa rõ định hướng, mục tiêu chủ đạo.

“Việt Nam cần phối hợp chặt giữa chính sách giá, tiền tệ và tài khóa. Chính sách tiền tệ chặt chưa đủ. Ngoài ra Chính phủ cũng cần giảm thiểu những xáo trộn và gánh nặng đối với các ngân hàng và cả nền kinh tế”.

Theo ADB, trong quá trình này, Việt Nam không nên cắt giảm đầu tư công mà nên cải thiện hiệu quả đầu tư công và bảo vệ lợi ích của người nghèo.

Việt Nam cũng cần tiếp tục tiến trình cải cách theo hướng thị trường, tăng cường quản lý dòng vốn, nâng cao năng lực thể chế của các cơ quan Chính phủ và năng lực của những người có trách nhiệm quản lý chính sách kinh tế vĩ mô. Đối với khu vực tài chính, cần tăng cường cơ chế đảm bảo an toàn, giám sát.

Sau khi giảm tốc do ảnh hưởng của những cơn bão đổ bộ vào thị trường, nền kinh tế Việt Nam có nhiều khả năng tăng trưởng trở lại. 

Việt Nam có nền tảng kinh tế vững mạnh trên cơ sở 20 năm Đổi mới, phát triển và những yếu tố này vẫn duy trì ngay cả trong giai đoạn khó khăn này. Đầu tư nước ngoài sẽ vẫn tiếp tục vào vì thị trường nội địa Việt Nam còn tiềm ẩn nhiều tiềm năng.(Vietnam Net ngày 3/4/2008)

Bài 2:  Kinh tế Việt Nam đang “sốt”

Dù rất hạn chế đưa ra các quan điểm khi đánh giá về tình hình kinh tế của Việt Nam thời gian vừa qua nhưng chuyên gia kinh tế trưởng của WB tại Việt Nam, ông Martin Rama cũng thừa nhận nền kinh tế Việt Nam đang “sốt”, mà nguyên nhân sâu xa của tình trạng này là do “Tam pháp bất khả thi”

Trong buổi công bố báo cáo cập nhật kinh tế Việt Nam và khu vực ngày 1/4/2008 tại Hà Nội, ông đưa ra hai khả năng cho mức độ tăng trưởng của Việt Nam. Theo phương án cơ bản, tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ đạt 8,0% năm 2008 này và tăng lên 8,5% trong năm 2009. Còn theo phương án thấp, tăng trưởng GDP sẽ hạ xuống còn 7,5% năm 2008 và nhích lên 8,1% vào năm 2009.

WB đưa ra 5 cách phá vỡ thế “tam pháp”

 

DỰ BÁO CHO VIỆT NAM      
  2007 2008Estimated 2009Estimated
Phương án cơ bản      
+ Tăng trưởng GDP (%) 8,5 8,0 8,5
+ Tăng trưởng xuất khẩu (%) 21,9 22 22
+ Tăng trưởng đầu tư cố định (%) 10,1 10,8 11,0
+ Tài khoản vãng lai (% của GDP) -9,7 -9,0 -8,2
+ Cân đối ngân sách Nhà nước (% của GDP) -1,0 -2,0 -2,0
Phương án thấp      
+ Tăng trưởng GDP (%) 8,5 7,5 8,1
+ Tăng trưởng xuất khẩu (%) 21,9 18,0 20,0
+ Tăng trưởng đầu tư cố định (%) 10,1 10,1 10,3


Xuất khẩu vẫn là thế mạnh của Việt Nam

Theo chuyên gia kinh tế trưởng của WB, Phương án cơ bản có cơ sở vững hơn cả. Ông cũng cho rằng Việt Nam sẽ không phải là quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh nhất của việc nền kinh tế thế giới phát triển chậm lại. Xuất khẩu của Việt Nam đã tăng ổn định        (20-21% trong vòng ba năm qua). Vì thế, Việt Nam không phải là nhà xuất khẩu bị loại ra hay chịu ảnh hưởng xấu mà sẽ là nhà xuất khẩu được hưởng lợi từ tình hình phát triển hiện nay của kinh tế thế giới. Vấn đề mà Việt Nam cần quan tâm chính là các dòng vốn, trong đó đặc biệt quan tâm đến thị trường cầm cố. Thị trường này mặc dù rất nhỏ so với toàn bộ nền tài chính nhưng tác động của nó có thể lây lan sang khu vực khác. Cụ thể như thị trường cầm cố liên quan đến cho vay mua bất động sản có thể lan sang các loại tài sản khác (như thẻ tín dụng).

Nền kinh tế Việt Nam đang bộc lộ những dấu hiệu tăng trưởng quá nóng. Biểu hiện rõ rệt nhất ở tỉ lệ lạm phát tăng mạnh từ mức 6,6% (tháng 12/2006) tới 15,7% tính đến tháng 2/2008. Bên cạnh đó là tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức đáng ngại (ước tính vào khoảng 9,3 tới 9,7% GDP năm vừa qua); giá tài sản tăng rất cao, thể hiện ở giá nhà đất tăng quá nhanh, có nguy cơ tạo ra tình trạng “bong bóng” trên thị trường bất động sản. Xu hướng này tiếp nối một đợt “bong bóng” trên TTCK đã xảy ra vào đầu năm 2007.

Về nguyên nhân của nền kinh tế nóng hiện nay của Việt Nam, bên cạnh việc bị ảnh hưởng của tình trạng lạm phát bên ngoài, trong đó có “Hiệu ứng Trung Quốc” dẫn đến việc giá cả hàng hoá nông sản và nguyên vật liệu thế giới tăng cao, tình trạng này còn do ba biện pháp là chu chuyển dòng vốn, tỷ giá cố định và chính sách tiền tệ độc lập tạo thành bộ ba “Tam pháp bất khả thi”. Biểu hiện cụ thể là khi Ngân hàng nhà nước mua vốn vào để duy trì tỷ giá thì đồng thời cũng làm ảnh hưởng đến tính thanh khoản của tiền Đồng trong nền kinh tế. Tính thanh khoản có thể được nâng cao nhờ nghiệp vụ trung hoà, song NHNN gần như đã bán hết trái phiếu Chính phủ. Lượng cung tiền có thể bị thắt chặt bằng cách bán hối phiếu của NHNN, song tỷ giá được đưa ra lại không mấy hấp dẫn. Bên cạnh đó, tín dụng tăng hơn 50% trong năm 2007 vừa qua đã góp phần làm tăng giá, tăng nhập khẩu và tạo “bong bóng” bất động sản.

Không nên dùng liệu pháp “sốc”

Theo ông Martin Rama, để phá vỡ thế “Tam pháp bất khả thi”, Việt Nam nên áp dụng liệu pháp nhẹ nhàng tránh làm “vỡ vụn” một trong ba “tam pháp” đó. “Hãy để cho lãi suất tăng lên và thả nổi tỉ giá hối đoái, không đưa ra biện pháp quá mạnh để giá cả quá cao hay quá thấp. Mỗi khía cạnh của “tam pháp” này đều phải can thiệp ở mức độ chấp nhận được”.

Tam pháp bất khả thi cần được xoá bỏ, song phải kiểm soát được chi phí đối với nền kinh tế. Chính vì vậy, ngoài các biện pháp nêu trên, ông Martin Rama đã đưa ra 5 biện pháp cụ thể để cắt giảm chi phí nhằm giảm bớt sức ép đối với nền kinh tế.

Một là, chấm dứt tình trạng “bong bóng” trên thị trường nhà đất. Theo đó, việc giám sát hoạt động ngân hàng và quy định mức trần cho vay mua bất động sản có thể giúp kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, việc đặt mức trần cho vay cũng có thể làm chậm lại tốc độ phát triển đô thị và đầu tư cho nhà đất, khu công nghiệp. Một cách thức quyết liệt khác để ngăn ngừa tình trạng đầu cơ là đưa ra các quy định mới về thuế tài sản.

Hai là, chính sách hướng nhiều hơn vào cơ chế thị trường. Hiện nay, đã có biện pháp cắt giảm tín dụng vận hành thông qua việc bán trái phiếu của NHNN. Tuy nhiên, một số cơ quan nhà nước (trong đó có Bảo hiểm xã hội Việt Nam) hiện đang nắm giữ một phần vốn khả dụng đáng kể trong các NHTM. Một cơ chế quản lý quỹ dự trữ hưu trí hiện đại hơn sẽ đòi hỏi BHXH Việt Nam phải mua vào trái khoán trao đổi được. Lượng mua vào của BHXH Việt Nam trên thị trường nội địa có thể giúp hợp nhất trái khoán (có hàng trăm loại nhỏ khác nhau).

Ba là, siết chặt hoạt động vay vốn của khu vực công. Tuy nhiên, ông Rama cũng lưu ý rằng thắt chặt chi tiêu của khu vực công không phải là giải pháp tốt nhất. “Nếu xuất khẩu giảm mạnh thì chi tiêu công cũng bị duy trì ở mức thấp làm cho các hoạt động của nền kinh tế không triển khai được nữa; và như vậy đây cũng không phải là một giải pháp tốt”

Bốn là, tách rời ảnh hưởng của đồng đôla Mỹ. “Nếu muốn đảm bảo Việt Nam là quốc gia xuất khẩu có tính cạnh tranh lớn thì cần đảm bảo khả năng cạnh tranh của Việt Nam theo giỏ ngoại tệ chung. Kiến nghị rõ ràng của chúng tôi với Việt Nam là nên dựa vào cả giỏ ngoại tệ chứ không chỉ dựa vào một đồng Đôla Mỹ”

Năm là, quản lý dòng vốn. Theo ông Rama, có khoảng 3-4 tỉ USD vốn vào Việt Nam hiện không xác định được là vốn ngắn hạn hay dài hạn. Với luồng vốn vào lớn như vậy, Việt Nam cần đảm bảo có luồng vốn đầu tư dài hạn nhiều hơn. Theo đó, việc cấp phép cho các quỹ đầu tư dựa trên mục đích hoạt động có thể là một cách để từ chối các nguồn vốn ngắn hạn.

Những khuyến nghị từ các chuyên gia quốc tế luôn là thông tin quan trọng để Việt Nam tham khảo.  (Thời báo Kinh tế Việt Nam ngày 2/4/2008)

Bài 3: World Bank dự báo gì về kinh tế Việt Nam năm nay ?

“World Bank dự báo kinh tế Việt Nam năm 2008 sẽ giảm 0,5% so với năm 2007 nhưng sẽ tăng trở lại vào năm 2009”

Những điểm chính trong báo cáo mới nhất của Ngân hàng Thế giới (WB) về tình hình kinh tế khu vực Đông Á, trong đó có Việt Nam:

Đánh giá kinh tế Việt Nam năm 2007

Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2007 đạt 8,5%, như vậy đây là năm thứ ba liên tiếp kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trên 8%.

Hoạt động kinh doanh tại Việt Nam vẫn tiếp tục được cải thiện, tỷ lệ đầu tư của nền kinh tế đạt 40,4% so với GDP. Sự tăng trưởng đã được thúc đẩy bởi nhân tố tư nhân, trong đó có 59 nghìn doanh nghiệp được thành lập trong năm qua, tăng 26% so với năm trước. Vốn đầu cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng gần gấp đôi, lên 20,3 tỷ USD.

Trong khi đó, tính đến năm 2007, vốn hoá thị trường chứng khoán đạt 43% GDP (hai năm trước mới đạt 1,5% GDP). Mức dự trữ ngoại hối đã tăng từ 10 tỷ lên 21,6 tỷ USD, tương đương 30,2 % GDP hay 3,3 tháng nhập khẩu.

Xuất khẩu (không tính dầu thô) tăng 27%, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 48,5 tỷ USD, đạt hơn 68% GDP.

Tuy nhiên,  nền kinh tế cũng xuất hiện một số vấn đề “nóng bỏng” như lạm phát, cán cân thanh toán thiếu hụt, sự tăng nóng của lĩnh vực tín dụng, mức tăng trưởng nhanh của thị trường chứng khoán và sự tăng mạnh của thị trường bất động sản đang tạo ra nguy cơ “bong bóng”.

Dự báo kinh tế Việt Nam năm 2008

World Bank dự báo kinh tế Việt Nam năm 2008 sẽ giảm 0,5% so với năm 2007 nhưng sẽ tăng trở lại vào năm 2009.

Cụ thể, theo phương án dự báo cơ bản, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2008 ước tính đạt 8% và 8,5% vào năm 2009. Theo phương án thấp, các con số này lần lượt là 7,5% và 8,1%.

Đáng chú ý, dự báo của World Bank về mức tăng chỉ số giá tiêu dùng trong năm 2008 sẽ bằng năm 2007 với mức 12,6% và sẽ giảm xuống còn 9% vào năm 2009.

Đề cập đến cán cân thương mại, World Bank dự báo mức thâm hụt trong cán cân thương mại năm 2008 là 15,9 tỷ USD, trong đó xuất khẩu dự kiến đạt 59,2 tỷ USD, nhập khẩu ước đạt 75,2 tỷ USD.

Về nhân tố nợ nước ngoài,  năm 2008 nợ nước của ngoài của Việt Nam là 24,8 tỷ USD, tăng 2,4 tỷ USD so với năm 2007 và sẽ tăng thêm 2 tỷ USD vào năm 2009. Như vậy, theo dự báo của World Bank, tỷ lệ nợ nước ngoài của Việt Nam năm 2008 sẽ bằng 30,5% GDP, giảm 1,1% so với năm 2007.

Cuối cùng, mức dự trữ ngoại tệ của Việt Nam năm 2008 sẽ đạt 22,1 tỷ USD, tăng 0,5 tỷ USD so với năm 2007. Trong khi đó mức dự báo tăng trưởng tín dụng của Việt Nam sẽ ở mức 30,0% năm nay và năm 2009, dù năm ngoái, mức tăng trưởng tín dụng lên đến 53,9%.

Tăng trưởng kinh tế khu vực Đông Á – Thái Bình Dương

(Đơn vị: %)  

 

Nền kinh tế 2007 2008Estimated 2009Estimated
Nhật Bản 2,1 1,5 2,0
Trung Quốc 11,4 9,4 9,2
Hàn Quốc 4,9 4,6 5,0
Hồng Kông 6,3 4,8 5,1
Singapore 7,7 5,2 5,9
Đài Loan (Trung Quốc) 5,7 4,3 4,6
Indonesia 6,3 6,0 6,4
Malaysia 6,3 5,5 5,9
Philipinnes 7,3 5,9 6,1
Thái Lan 4,8 5,0 5,4
Việt Nam 8,5 8,0 8,5
Các nền kinh tế nhỏ khác 6,6 6,4 6,1


Nguồn: WB / Ghi chú: E là ước tính; Các nền kinh tế nhỏ bao gồm các nước: Lào, Campuchia, Đông Timor, Mông Cổ, Fuji, Kiribati, Marshall Islands, Micronesia, Palau, Papua New Guinea, Samoa, Solomon Islands, Tonga, Vanuatu.

Các chỉ tiêu chính của Việt Nam

 

Chỉ tiêu 2006 2007 2008E 2009E
Tăng trưởng GDP (%) 8,2 8,5 8,0 8,5
Chỉ số sản xuất công nghiệp (%) 17,0 17,1 16,8 17,2
Tỷ lệ thất nghiệp (% khu vực thành phố) 4,8 4,6 4,5 4,5
Chỉ số giá tiêu dùng (%) 7,5 12,6 12,6 9,0
Cán cân thương mại (tỷ USD) -5,1 -14,2 -16,0 -17,6
Xuất khẩu (tỷ USD) 39,8 48,5 59,2 72,3
Nhập khẩu (tỷ USD) 44,9 62,7 75,2 89,9
Nợ nước ngoài (tỷ USD) 19,2 22,4 24,8 26,8
% tỷ lệ nợ nước ngoài so với GDP 31,5 31,6 30,5 30,2
Dự trữ, bao gồm vàng (tỷ USD) 11,5 21,6 22,1 22,7
Tăng trưởng tín dụng (%) 25,4 53,9 30,0 30,0
Lãi suất ngắn hạn (%-3 tháng) 7,9 8,9 9,0 8,5
Nguồn: WB – GSO,SBV,IMF / Ghi chú: E là ước tính.

(VnEconomy 1/4/2008)

Bài 4: Hơn một năm Việt Nam gia nhập WTO

Nhiều tác động tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế

Tại hội thảo “Tác động từ việc gia nhập WTO tới kinh tế và xã hội Việt Nam” do Bộ Công Thương phối hợp với Uỷ ban châu Âu (EC) tổ chức tại Hà Nội ngày 2/4/2008, các diễn giả gồm các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước đã phân tích và đánh giá về tất cả những tác động tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế nước ta sau hơn một năm Việt Nam là thành viên của WTO.

Đánh giá tác động:  không chỉ xem xét từ việc gia nhập WTO

Theo Bộ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Thành Biên, Bên cạnh những chuyển biến hết sức tích cực của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2007 như tăng trưởng GDP, xuất khẩu, sản lượng công nghiệp tăng mạnh, vốn đầu tư nước ngoài đạt kỷ lục, thị trường chứng khoán phát triển mạnh…., chúng ta đã và đang phải đối mặt với những vấn đề hết sức khó khăn như tỷ lệ lạm phát phi mã, thâm hụt thương mại tăng kỷ lục. Năm 2008, những khó khăn này dường như trầm trọng hơn cùng với nhịp biến động hàng ngày của các chỉ số kinh tế thế giới.

Theo quan điểm chung của các chuyên gia kinh tế, không thể đánh giá được tác động từ việc gia nhập WTO đến kinh tế và xã hội Việt Nam nếu chỉ xem xét từ tác động của việc gia nhập WTO. Theo ông Antonio Berenguer, Tham tán thương mại Phái đoàn EC tại Việt Nam thì Đánh giá tác động đến kinh tế, nhất là về thương mại là điều không thể, bởi trước khi gia nhập WTO, Việt Nam đã ký nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương như Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, mở cửa thị trường với EU…. Hơn một nửa luồng thương mại vào Việt Nam là từ một số hiệp định ngoài WTO như Hiệp định định AFTA. Do vậy, rất khó có thể tách bạch được đâu là tác động từ WTO, đâu là tác động từ các hiệp định thương mại song phương và khu vực. Ngoài ra, còn có nhiều yếu tố không liên quan nhưng lại tác động đến thương mại, chẳng hạn như những biến động về giá cả trên thế giới, suy thoái kinh tế Mỹ hay sự sụt giảm của thị trường chứng khoán…

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh cũng nhận định rằng Rất khó tách bạch đâu là thuần tuý tác động của WTO, đâu là tác động của Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, đâu là tác động của lịch trình AFTA, đâu là tác động của quan hệ Việt-Trung. Trong các tác động tích cực và tiêu cực thì cũng rất khó phân biệt được đâu là tác động thuần tuý của Tổ chức WTO, đâu là tác động của giá dầu tăng, giá lương thực tăng và giá của nhiều mặt hàng cũng tăng.

Tác động chủ yếu là tích cực

Tuy nhiên, nhìn chung các ý kiến đều cho rằng các tác động của việc gia nhập WTO đối với kinh tế và xã hội Việt Nam chủ yếu là tích cực. Theo tiến sỹ Lê Đăng Doanh, tích cực thứ nhất là khả năng tiếp cận thị trường của Việt Nam đã mở hơn trước. Thứ hai là Chính phủ đã cam kết và bày tỏ quyết tâm, có chương trình hành động để tiếp tục cải cách, chấp nhận cạnh tranh quốc tế với các nguyên tắc đối xử quốc gia bình đẳng hơn. Một thuận lợi nữa là vị thế về mặt pháp lý của các doanh nghiệp Việt Nam khi gặp tranh chấp về thương mại mà được giải quyết không thoả đáng thì có thể đưa ra Hội đồng giải quyết tranh chấp của WTO. Luồng vốn nước ngoài vào Việt Nam tăng lên rõ rệt, đầu tư trong nước cũng tăng lên mạnh mẽ, chất lượng đầu tư cũng cao hơn…

Ông Antonio Berenguer cũng nhận xét rằng Nếu nhìn nhận ở khía cạnh khả quan và tích cực thì nhiều nước trên thế giới đánh giá tốt về Việt Nam vì Việt Nam đã nhận được 20,7 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm đầu tiên gia nhập WTO. Bên cạnh đó, vốn đầu tư gián tiếp cũng rất lớn, và còn có 5-7 tỷ USD kiều hối từ nước ngoài gửi về, tổng cộng đạt trên 30 tỷ USD.Con số này lớn hơn cả của Ấn Độ – một nước rộng lớn hơn Việt Nam rất nhiều.

Đánh giá về những tác động tiêu cực, các chuyên gia đều cho rằng tác động thấy rõ nhất là Việt Nam chưa sẵn sàng để tiêu thụ được một khối lượng vốn lớn, kết cấu hạ tầng còn nhiều bất cập. Từ một đất nước có nhiều lao động được đánh giá cao, Việt Nam trở thành một nước khan hiếm về lao động; tương tự, Việt Nam từ một nước thiếu vốn trở thành một nước ứ đọng vốn không “tiêu hoá” được.

Do chuẩn bị về mặt cạnh tranh chưa được tốt nên một số doanh nghiệp, chẳng hạn như các doanh nghiệp điện tử, dệt may, đã bắt đầu gặp khó khăn ngay; khung pháp luật cũng chưa đầy đủ, chẳng hạn như các siêu thị được mở rộng tới đâu, các rào cản kỹ thuật như thế nào. Trong khi đó, các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc vào WTO từ lâu nhưng không có một siêu thị nào của nước ngoài vào được bởi họ đưa ra những quy định kỹ thuật, và trong thời gian đưa ra những quy định kỹ thuật ấy thì họ thúc đẩy trong nước đầu tư vào siêu thị. Chẳng hạn, Nhật Bản quy định siêu thị này phải cách siêu thị kia 60 km, khi các rào cản kỹ thuật hết hiệu lực thì hệ thống siêu thị đã ổn định, các nhà đầu tư nước ngoài không thể chen chân vào được nữa.

Giáo sư Claudio Dordi, chuyên gia EU đã tóm lược như sau: Những tác động tích cực từ việc gia nhập WTO thường không lượng hoá được, còn những tác động tiêu cực lại là mặt trái của tấm huy chương. Cải cách do yêu cầu của WTO làm nền kinh tế Việt Nam tự do hơn nhưng lại càng nhạy cảm và dễ bị ảnh hưởng bởi các cú sốc bên ngoài, ví dụ như lạm phát và cạnh tranh tăng lên. Gia nhập WTO và hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế thế giới buộc Chính phủ Việt Nam phải cẩn trọng trong việc hoạch định chính sách kinh tế và thương mại.

Tất nhiên, tự do hoá thương mại qua kênh đa phương WTO hoặc qua các kênh hội nhập khu vực và song phương khác mang lại nhiều lợi ích chung cho nền kinh tế nhưng kèm theo đó là những nghịch lý về lợi ích. Đó là nghịch lý giữa việc có được những sản phẩm nhập khẩu rẻ hơn cho người tiêu dùng, người sản xuất và nhu cầu phát triển sản xuất trong nước, tạo việc làm cho người lao động; đó là khả năng mở rộng thị trường cho những ngành xuất khẩu có lợi thế và nguy cơ mất thị trường cho những ngành kém khả năng cạnh tranh; đó là nhiều người có cơ hội giàu nhanh nhưng cũng có nhiều người nghèo đi…Vì vậy, các chuyên gia cho rằng cần phải có những phân tích, đánh giá kịp thời về tác động của WTO và các yếu tố khác để Chính phủ có những chính sách quản lý kịp thời, nhằm hài hoà các nhóm lợi ích, phát huy tối đa cơ hội của tiến trình hội nhập và giảm thiểu rủi ro.

 

 

(Thời báo kinh tế Việt Nam ngày 3/4/2008)

One thought on “Kinh tế Việt Nam 2012: Trong họa có phúc

  1. Pingback: Blackhatlinks

Thank for your comments

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s