Phật giáo Thủ Dầu Một từ hậu bán thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX…


* THÍCH HUỆ THÔNG

 Nhìn chung về mặt vận động thì Phật giáo Thủ Dầu Một trong giai đoạn đầu của giai đoạn này, tức hậu bán thế kỷ XVIII, mang tính truyền thừa theo phổ hệ, tức là theo lối thầy truyền dạy cho trò, hoặc người cùng phổ hệ truyền dạy cho nhau, tức truyền thừa có mang tính cục bộ. Tuy nhiên, vẫn có những nét vượt qua tính cục bộ ấy Đó là giáo lý Phật giáo có quan điểm bình đẳng, có học thuyết Lục hòa… do đó mà tính cục bộ chỉ là tạm thời do điều kiện hoặc hoàn cảnh làm nảy sinh mà thôi. Bởi vậy sang thế kỷ XlX người ta thấy nổi lên một hiện tượng, đó là hễ có những danh tăng nổi tiếng thì dù ở chùa nào, thuộc môn phái nào cũng được cung kính tôn trọng ví danh tăng ấy, tiêu biểu cho tinh thần này là trường hợp Ngài Nguyên Thiều là người Trung Quốc được các chúa Nguyễn mời sang nhưng Ngài được khắp cả nước đều tôn kính Ngài, riêng ở Biên Hòa vẫn xây tháp để tưởng niệm Ngài. Đặc biệt ở thế kỷ XlX, Phật giáo Thủ Dầu Một cũng có một hiện tượng nữa đó là ngành ứng phú được nổi bật, ”Ứng Phú” là “tinh thần đáp ứng và đi đến để đáp ứng yêu cầu của người thỉnh mời”, cụ thể đó là nghi lễ cầu cúng, trì tụng để đáp ứng việc cầu an, cầu siêu… của tín đồ. Chính vì vậy mà đến cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX chư tăng ở Thủ Dầu Một nhiều vị nổi tiếng về nghi thức cúng kiến, tụng niệm và đó là sự nghiệp ”Ứng Phú”, họ lấy việc này để thu hút tín đồ và từ đó mà truyền dạy giáo lý đến với Tín đồ. Ngược lại nhiều tín đồ, kể cả người chưa quy y cũng xem chuyện ứng phú là cần thiết vì nó đáp ứng được nhu cầu tâm linh cho gia đình họ. Tuy nhiên, chỗ này cũng cần nói thêm. Tại sao công tác ứng phú lại đắc dụng như vậy? Có hai lý do để trả lời, đó là, một là đây là giai đoạn đầu, khi người dân vừa mới ổn định được cuộc sống, việc học hành chưa cao cho nên việc hiểu được giáo lý Phật giáo có khó khăn, nên nhu cầu tín ngưỡng là cầu cúng, tụng niệm sẽ đáp ứng được tâm linh cho họ. Hai là đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, đất Nam bộ lại là đất trực trị của Pháp, do đó chúng đã áp dụng nhiều cách thức cai trị đầy rẫy sáp chế, gây nhiều khó khăn cho chư tăng và Phật giáo nói chung, do vậy con đường ứng phú có mặt tích cực của nó đó là con đường để nhân dân đến với tôn giáo truyền thống của dân tộc mình, đồng thời cũng là một lối mở để chư tăng đến gần với đời, đi vào lòng người. Cũng chính vì vậy mà khoa ”Ứng Phú đạo tràng” ở Thủ Dầu Một đã có tiếng khắp cả miền Đông và miền Tây Nam bộ. Đầu thế kỷ XX Thủ Dầu Một có nhiều vị hòa thượng nổi tiếng về ứng phú, có vị giỏi cả về nhạc lại có giọng tốt và giỏi cả về kịch điệu của môn hát bộ! Khoa ứng phú (có nghĩa là đáp ứng và đáp lại những yêu cầu tâm linh của mọi người). Môn ấy đã đi sâu vào cuộc sống dân chúng, khiến cho mọi lễ lộc như cầu siêu, cầu an mà thiếu nghi lễ ứng phú thì xem như chưa trọn vẹn nghi lễ. Ngành ỨNG phú phần nào có chịu ảnh hưởng của Trung Quốc, nhưng được Việt Nam hóa. Đặc biệt Thủ Dầu Một có Hòa thượng Tế Giác – Quảng Châu (Ngài được vua Minh Mạng phong là Tăng Cũng và mời Ngài làm Trụ trì chùa Thiên Mụ, Huế, từ năm 1825 đến năm 1844). Ngài đã có công hệ thống các thứ âm điệu xưa cho phù hợp làn âm điệu xứ Nam bộ. Vào cuối thế kỷ XIX, Phật giáo Thủ Dầu Một có những nét khởi sắc rõ rệt. Trước hết là nhiều Đại hồng chung được đúc ra, đây là món pháp khí rất quan trọng. Trong ấy có những chùa đúc Đại hồng chung mà chúng ta còn nắm tài liệu, đó là chùa sắc tứ thiên Tôn ở An Thạnh, Thuận An đúc chuông vào năm 1888, chùa Phước Long ở thị xã đúc Đại hồng chung vào năm ‘893, chùa Phước tường ở An Thạnh đúc năm 1994, chùa Long Minh đúc năm 1895, chùa Long Thọ, thị xã đúc năm 1898… Một nét văn hóa đặc biệt là việc khắc lộc bản để in kinh, đây là công việc nhằm đáp ứng yêu cấu học hỏi, nghiên cứu, tụng niệm của chư tăng và phật tử, mở đầu là vào năm 1885, Hòa thượng Ấn Long, trụ trì chùa Hội Khánh đứng ra cho khắc bản in kinh, khắc được hơn năm bộ kinh để phát hành cho các chùa trong tính. Ngày nay những bộ kinh mộc bản này vẫn còn được bảo quản giữ gìn ở nhà kho của chùa Hồi Khánh, đó được xem là những di tích văn hóa tôn giáo của một thời ở tỉnh ta. Ngoài ra, Phật giáo Thủ Dầu Một trong giai đoạn này (đầu thế kỷ XX) đã góp phần vào ông việc kiến trúc, điêu khắc, hội họa một cách độc đáo qua những bộ tượng, như bộ tượng thập bát La Hán được đem triển lãm ở Pháp năm 1921 , rồi những bao lam trong các chùa, đặc biệt nhất là những liễn đối, những bài thơ vừa để trang trí vừa mang tính giáo dục, nhắc nhở mọi người sống theo đạo lý, đặc biệt những liễn đối chùa Hội Khánh vừa phong phú vừa thâm trầm, chứa đựng nhiều bài học triết lý. Chính những phát triển các mặt này mà Phật giáo đất Thủ từ đây đã có những khởi sắc góp phần vào việc chấn chính và phát triển Phật giáo. Đặc biệt ở cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX việc học tập kinh luật của chư tăng đã trở thành nề nếp. Những bộ luật, bộ kinh cơ bản đã được thượng nắm vững. Chư tăng còn mở các lớp học tập Phật pháp, nổi bật là chùa Hội Khánh, hòa thượng Thiện Quái, hòa thượng Từ Văn đã tích cực mở các lớp học Phật pháp. Đồng thời tại chùa Hội Khánh các sư còn mở các lớp học về Đông y có kết hợp với các nhà nho từ miền Bắc, miền Trung vào, chính nhờ ngành đông y này mà thượng có điều kiện đi vào dân gian, đem lại cho họ nhu cầu tâm linh thiết yếu. Đầu thế kỷ XX những tác phẩm văn học có nội dung thượng Phật giáo hoặc là thượng Tam giáo đồng nguyên, cụ thể là tác phẩm thơ Nôm có tên là Lưu Hương Diễn nghĩa Bảo quyển được in vào mùa thu năm Mậu Thân (1908) do hai tín nữ Phật tử chùa Hội Khánh) là Nguyễn Từ Nguyên và Huỳnh Diệu Trúc đồng kính san. Sách in trên giấy bản khổ 13×21, toàn bộ có 86 trang gồm có 3.308 câu thơ Nôm lục bát. Vậy ta có thể thấy rằng Phật giáo thủ Dầu Một trong giải đoạn này đã hình thành nên nền Phật học có tính căn bản dựa trên cơ sở thành văn, cũng chính từ cơ sở này mà những tăng tài xuất hiện. Hàng loạt các danh tăng nhờ có trình độ văn hóa đạo đức cao. Những danh tăng xuất hiện như Hòa thượng Minh Tịnh, HT Minh Trứ, HT Từ Tân, HT Quảng Nhu, HT Thiện Hưng, HT Trí Tấn, HT Đảng Viên, HT Mỹ Định…Chính sự khởi sắc ấy (in kinh điển, giảng dạy Phật pháp…) làm nền tảng cho sự phát triển Phật giáo ngày nay…

Một nét quan trọng ở đấu thế kỷ XX, đó là những sinh hoạt của Phật giáo trở nên có nề nếp và có tổ chức hơn. Có được những điều đó là nhờ những sinh hoạt khởi sắc như ở trên đã nói, nhưng làm được việc đó là nhờ có Hòa thượng Chấn Thanh – Từ Văn. Ngài là một danh tăng chăng những trong giảng dạy Phật pháp, mà còn là người khéo léo trong điều hành Phật sự của vùng Thủ Dầu Một, khiến uy tín của Ngài chẳng những nổi bật ở đây mà còn vang rộng ra cả vùng Sài GònGia Định rồi lan sang các tỉnh miền Tây Nam bộ. Chính vì vậy, chính quyền thực dân Pháp không thể không để ý đến Ngài, chúng tìm cách tranh thủ để lôi kéo Ngài, cụ thể là năm 1911 chúng tôn Ngài là Hòa thượng cả! Mặt khác trong thời kỳ này, Phật giáo cũng tranh thủ (dưới sự điều hành của Hòa thượng Từ Văn) để có sự phát triển, đặc biệt là có sự liên kết giữa các tông phái, liên kết các chùa và các cao tăng để hình thành nên như một tổ chức, lúc đầu là cho sinh hoạt Phật giáo, dần dần trở thành tổ chức tôn giáo mang tinh thần yêu nước, yêu dân tộc. Chẳng hạn, Hòa thượng Từ Văn cùng các sĩ phu yêu nước từ các miền ngoài vào đã âm thầm thành lập ”Hội danh dự yêu nước ở chùa Hội Khánh… Sau thực dân nhận ra và tìm cách giải tán hội. Chính vì thế mà chúng đã đưa ra các điều luật khắt khe để hạn chế hoạt động của Phật giáo trong vùng. Những điều luật như sau:
Điều 1: Những thầy chùa tu ở các chùa trong hạt thì phải có đứng tên vào sổ riêng tại tòa Bố.
Điều 2: Những thầy ở các chùa phải có Điệp Đàn của Yết Ma chùa đó cử, phải có hòa thượng nhận điệp, làng sở tại vi bằng, cai phó tổng vi chính và quan lớn phê chuẩn thì mới được phép tu hành các chùa trong bốn hạt.
Điều 3: Không được chứa các vị tu hành từ nơi khác đến nếu không có lệnh của quan lớn cho.
Điều 4: Không được cho phép nhóm họp số đông các tu sĩ tại chùa để làm công việc trong chùa nếu không được phép quan lớn chánh.
Điều 5: Những tu sĩ nào không có điệp đàn được phê chuẩn thì bị đuổi ra khỏi chùa và phải bộ làng còn phải chịu đóng thuế thân như dân làng.
Điều 6: Những thầy nào không có chùa, không có điệp đàn quan phê mà trốn đi làm đám cho dân thì phải chịu lãnh một người một bài sanh ý và xem như thuộc vào những kẻ làm thầy đi phát bùa chú… Ngoài ra nhà chức trách địa phương còn hạn chế các chùa khi cử hành nghi lễ khí có quy tụ số đông, thậm chí ngay cả khi sử dụng pháp khí: chuông trống cũng phải xin phép. Song song những điều luật này, với ý đồ muốn hạn chế về mặt giới luật của tu sĩ phật giáo, thậm chí người Pháp còn khuyến khích chính quyền địa phương tâm cách làm cho các thầy các chùa được lập gia đình, ý thâm độc của thực dân là tạo cho ông thầy không có điều kiện đi đây đi đó, khó kiểm soát, đồng thời là cách hạ uy tín, đạo đức của người tu sĩ Phật giáo. Mặt khác chính quyền Pháp ở Thủ Dầu Một đã dè dặt và tỏ ra tôn trọng, kính nể. Những Tăng sĩ có giới đức và có học thức luôn ở tư thế đ?U tranh để bảo vệ quyền của các tự viện.
THÍCH HUỆ THÔNG

6 thoughts on “Phật giáo Thủ Dầu Một từ hậu bán thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX…

  1. Pingback: tramadol expiration

  2. Pingback: http://adsenseapihelp.blogspot.com

  3. Pingback: hausmittel gegen pickel

  4. Pingback: baby photos

  5. Pingback: Angry Birds Game Online

  6. Pingback: Yeast Infection Relief

Thank for your comments

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s