Biến Đổi Khí Hậu


 

Cảnh báo suy thoái tài nguyên, môi trường ở VN

Mặc dù mới ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển, song Việt Nam đã và đang phải đối đầu với các vấn đề môi trường nghiêm trọng – nhiều nghiên cứu gần đây đều chung nhận định trên. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới, tổn thất do ô nhiễm môi trường ở Việt Nam đã lên tới 5,5% GDPhằng năm.

Tài nguyên suy kiệt
TS Lê Hà Thanh, Trường ĐH Kinh tế quốc dân cho biết, năm 2010, Việt Nam chỉ còn khoảng hơn nửa triệu hécta rừng nguyên sinh phân bố rất rải rác với khả năng phục hồi thấp. Theo ước tính của Cục Kiểm lâm (Bộ NN&PTNT), cuối năm 2010, diện tích rừng toàn quốc đạt khoảng 13.390.000ha với độ che phủ ước đạt 39,5%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu đặt ra trong chiến lược bảo vệ và phát triển rừng.
Quá trình phát triển kinh tế thực sự đang đe dọa sự tồn tại và phát triển của rừng. Những năm qua, diện tích rừng mất “một cách hợp lý” do khai thác chiếm 34% và diện tích đất rừng bị chuyển đổi mục đích sử dụng lên tới hơn 42%. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng chủ yếu nhằm phát triển các loại cây công nghiệp có giá trị như cao su, cà phê và đặc biệt là phục vụ ngành thủy điện. Điều đáng lo ngại là tốc độ phát triển thủy điện ngày một gia tăng, số nhà máy thủy điện vừa và nhỏ ngày một nhiều. Nếu như năm 2006, cả nước mới có 12 nhà máy thủy điện vừa và nhỏ thì đến năm 2008, cả nước có thêm 24 nhà máy, số nhà máy được tăng thêm vào năm 2010 là 19.Sự tăng nhanh về dân số và việc khai thác quá mức tài nguyên nước cũng như tài nguyên đất và rừng đã làm suy kiệt nguồn nước. Theo tính toán, lượng nước mặt bình quân đầu người hiện nay trong tổng nguồn nước các con sông của Việt Nam chỉ khoảng 3.840 m3/người/năm. Nếu căn cứ theo chỉ tiêu đánh giá của Hội Tài nguyên nước quốc tế, quốc gia nào có lượng nước bình quân đầu người dưới 4.000 m3/người/năm là quốc gia thiếu nước thì Việt Nam đang thiếu nước trầm trọng. Với tốc độ phát triển dân số như hiện nay, theo dự tính, đến năm 2025, lượng nước mặt bình quân đầu người của các con sông Việt Nam chỉ còn khoảng 2.830 m3/người/năm.Rừng thu hẹp, nước cạn kiệt, nên tốc độ suy giảm đa dạng sinh học đang gia tăng nhanh chóng dẫu Việt Nam từng được Trung tâm Giám sát bảo tồn thế giới đánh giá là một trong 16 quốc gia có mức đa dạng sinh học cao nhất thế giới. 70% dân số Việt Nam có sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên đa dạng sinh học và trên thực tế, hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ trái phép diễn ra ngày càng mạnh mẽ và không thể kiểm soát đối với tất cả loại rừng. Tại vùng ven biển, nông dân đua nhau phá rừng ngập mặn, quai đê lấn biển để nuôi trồng thủy sản. Thống kê cho thấy, trong hai thập kỷ qua, có tới 200.000ha rừng ngập mặn bị chặt phá để nuôi tôm. Bởi thế, không lạ là gần nghìn loại động, thực vật hoang dã trong thiên nhiên của nước ta đang bị đe dọa và nhiều loài sinh vật quý hiếm khác đã, đang ngày một hiếm.Môi trường ô nhiễm

Theo kết quả điều tra của Bộ Công thương, trong số 154 khu công nghiệp đang hoạt động trên toàn quốc, chỉ có 39 khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung (chiếm 25,3%). Điều đó có nghĩa là khoảng 70% trong số hơn một triệu mét khối nước thải/ngày không qua xử lý từ các khu công nghiệp được xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận và gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường nước mặt.

Hầu hết đô thị nước ta đều bị ô nhiễm bụi. Nồng độ bụi trong không khí ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng lớn hơn trị số tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 3 lần. Ở các nút giao thông thuộc các đô thị này, nồng độ bụi lớn hơn tiêu chuẩn cho phép đến 5 lần. Tại các khu đô thị mới nơi nhà cửa, đường sá đang trong quá trình xây dựng thì nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn tới 20 lần.

Cái giá phải trả do ô nhiễm môi trường là rất đắt. Điển hình như ô nhiễm nước tại sông Thị Vải do Công ty VEDAN gây ra ước tính thiệt hại lên đến 567 tỷ đồng/năm. Cũng vì lý do nước bị ô nhiễm, trong vòng 4 năm qua, có 6 triệu người Việt Nam bị mắc bệnh và số tiền chữa trị lên đến 400 tỷ đồng.

Với mô hình phát triển như hiện nay, khi tốc độ tăng trưởng GDP càng cao thì mức độ gia tăng chất thải sẽ càng lớn, tổn thất phúc lợi xã hội sẽ ngày càng nhiều. Chính vì vậy, phát triển kinh tế theo hướng bền vững là rất cần thiết. Theo TS Hà Huy Thành, Viện Nghiên cứu môi trường và phát triển bền vững, để đạt được điều này, chúng ta cần đổi mới tư duy phát triển, chuyển từ tư duy lấy tăng trưởng, phát triển kinh tế làm trọng tâm sang phát triển hiện đại, an toàn, lâu dài và bền vững. Nhà nước cần thiết lập chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hình thành và phát triển kinh tế xanh đồng thời ban hành các chính sách thúc đẩy việc sử dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường. Và tất nhiên, để công cuộc phát triển kinh tế bền vững thành công, sự nỗ lực của các cấp chính quyền và mọi người dân là không thể thiếu.

Theo HNM

—————————–

Biến đổi khí hậu làm tăng nguy cơ ung thư

Một nghiên cứu của Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP) chứng tỏ rằng, khi trái đất ấm lên, băng ở hai cực tan ra sẽ giải phóng một lượng lớn những vật chất gây ung thư vào trong không khí và đại dương.
Tờ Daily Mail cho hay, nghiên cứu này chỉ ra rằng, một khi những hóa chất bền vững theo chuỗi thức ăn xâm nhập vào cơ thể, nó sẽ làm tăng tỉ lệ mắc ung thư, bệnh tim mạch, hoặc chứng vô sinh.Các nhà nghiên cứu cho rằng, những hiện tượng thời tiết cực đoan và Trái đất ấm lên sẽ làm tăng tỉ lệ tiếp xúc với các vật chất ô nhiễm.Những chất hữu cơ ô nhiễm bền vững (gọi tắt là POPs) này có thể tồn tại trong môi trường hàng chục năm, đồng thời có thể tích tụ trong những tổ chức bên trong cơ thể. Theo các nhà khoa học, chúng bao gồm thuốc sâu DDT, hay chất Polychlorinated biphenyls (PCBs) trong các thiết bị điện.Donald Cooper, thuộc UNEP, người sẽ công bố bản báo cáo này tại Hội nghị về khí hậu của LHQ diễn ra ở Cancun, Mexico nói, trong quá khứ, sự phát tán các chất POPs vào nước biển và không khí bị ngăn chặn bởi các sông băng. Tuy nhiên, những hiện tượng khí hậu cực đoan, như lũ lụt ở Pakistan trong năm nay, sẽ khiến rất nhiều chất ô nhiễm đang được tích trữ hoặc đợi tiêu hủy phát tán vào môi trường. Ngoài ra, việc Trái đất ấm lên sẽ khiến bệnh sốt rét lan tràn và và người ta sẽ phải dùng nhiều thuốc DDT hơn để đối phó với các loại côn trùng truyền bệnh.

Cooper cho rằng, dù chỉ một lượng rất nhỏ các chất POPs xâm nhập vào chuỗi thức ăn, tuy nhiên, thông qua nhiều năm tích lũy, nồng độ của chúng sẽ ngày càng cao lên. Và điểm cuối của chuỗi thức ăn ấy không phải ai khác chính là con người.

“Chúng tôi đã tìm thấy những chất độc hại đó trong sữa mẹ và máu của con người”, Cooper khẳng định.

“Việc bạn ở Kenya hay ở Anh không phải là vấn đề bởi vì thực phẩm được đưa đi khắp thế giới. Đây là một vấn đề mang tính toàn cầu, không phân biệt theo ranh giới nào cả”, Cooper bổ sung thêm.

L.V.

—————————————

Lỗ thủng tầng ozone ở Bắc cực đã rộng kỷ lục

Lần đầu tiên, tình trạng thủng tầng Ozone ở cực Bắc nghiêm trọng đến mức, các nhà khoa học đã phải sử dụng ngưỡng “lỗ thủng ozone” giống như ở Nam cực để ghi nhận.

Phát biểu trên BBC, các chuyên gia cho biết ở độ cao 20km so với mặt đất, 80% tầng Ozone đã bị xuyên thủng và tan mất. Nguyên do là vì năm nay, độ cao này phải hứng chịu thời tiết lạnh kéo dài bất thường, trong khi các hóa chất gốc Clo – sát thủ của ozone – lại đặc biệt ưa thích điều kiện nhiệt độ như vậy.

Hiện tại, giới khoa học vẫn chưa thể dự đoán được tình trạng thủng tầng ozone này có tái diễn trong tương lai hay không. Trước đây, mùa đông ở tầng bình lưu Bắc cực khá đa dạng, chỗ thì ấm, chỗ thì lạnh. Nhưng vài thập kỷ trở lại đây, mùa đông ngày càng lạnh đến khắc nghiệt”, chuyên gia Michelle Santee của NASA cho biết.Điều đáng lo, theo bà Michelle là xu hướng thời tiết ngày càng “cực đoan” hơn. Sẽ có nhiều đợt lạnh hơn nữa, trong khi lượng chlorine trong khí quyển ngày càng nhiều, vì thế việc tầng ozone tiếp tục bị bào mỏng là khó tránh khỏi. Thông thường, nhiệt độ ở Bắc cực ít khi xuống thấp như ở Nam cực, nhưng riêng năm nay, không khí lạnh kéo dài tới nhiều tháng và tác động trên diện rộng, dù nhiệt độ không phải là thấp kỷ lục. Bên cạnh đó, lốc xoáy lại mạnh hơn hẳn mọi năm, khiến cho khí hậu Bắc cực cách biệt hẳn với khí hậu toàn cầu.
Tầng Ozone là lớp bảo vệ cực kỳ quan trọng của trái đất, vì chúng ngăn chặn tia cực tím từ Mặt trời chiếu thẳng xuống mặt đất, vốn là tác nhân gây ung thư da và nhiều căn bệnh nguy hiểm khác.
Trọng Cầm
Theo : Vietnamnet.vn
————————————————–

Ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường là tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa học, sinh học… gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, các cơ thể sống khác.

Ô nhiễm môi trường là do con người và cách quản lý của con người.

Mục lục

Các dạng ô nhiễm chính

Dưới đây là các hình thức ô nhiễm và các chất ô nhiễm liên quan:

  • Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước rác công nghiệp, các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm.
  • Ô nhiễm đất xảy ra khi đất bị nhiễm các chất hóa học độc hại (hàm lượng vượt quá giới hạn thông thường)do các hoạt động chủ động của con người như khai thác khoáng sản, sản xuất công nghiệp, sử dụng phân bón hóa học hoặc thuốc trừ sâu quá nhiều,… hoặc do bị rò rỉ từ các thùng chứa ngầm. Phổ biến nhất trong các loại chất ô nhiễm đất là hydrocacbon, kim loại nặng, MTBE, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, và các hydrocacbon clo hóa
  • Ô nhiễm phóng xạ
  • Ô nhiễm tiếng ồn, bao gồm tiếng ồn do xe cộ, máy bay, tiếng ồn công nghiệp
  • Ô nhiễm sóng, do các loại sóng như sóng điện thoại, truyền hình… tồn tại với mật độ lớn.
  • Ô nhiễm ánh sáng,hiện nay con người đã sử dụng các thiết bị chiếu sáng một cách lãng phí ảnh hưởng lớn tới môi trường như ảnh hưởng tới quá trình phát triển của động thực vật

Ô nhiễm môi trường đất

Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả các hoạt động của con người làm thay đổi các nhân tố sinh thái vượt qua những giới hạn sinh thái của các quần xã sống trong đất.

Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa của con người. Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng tài nguyên đất vào hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực thực phẩm cho con người. Nhưng với nhịp độ gia tăng dân số và tốc độ phát triển công nghiệp và hoạt động đô thị hoá như hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày càng bị suy thoái, diện tích đất bình quân đầu người. Riêng chỉ với ở Việt Nam, thực tế suy thoái tài nguyên đất là rất đáng lo ngại và nghiêm trọng.

Ô nhiễm môi trường nước

Nước có thể bị phú dưỡng do ô nhiễm.

Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.

Nước bị ô nhiễm là do sự phủ dưỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và các vùng ven biển, vùng biển khép kín. Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất hữu cơ quá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hoá được. Kết quả làm cho hàm lượng ôxy trong nước giảm đột ngột, các khí độc tăng lên, tăng độ đục của nước, gây suy thoái thủy vực. Ở các đại dương là nguyên nhân chính gây ô nhiễm đó là các sự cố tràn dầu Ô nhiễm nước có nguyên nhân từ các loại chất thải và nước thải công nghiệp được thải ra lưu vực các con sông mà chưa qua xử lí đúng mức; các loại phân bón hoá học và thuốc trừ sâu ngấm vào nguồn nước ngầm và nước ao hồ; nước thải sinh hoạt được thải ra từ các khu dân cư ven sông gây ô nhiễm trầm trọng,ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân trong khu vực.

Ô nhiễm môi trường không khí

Ô nhiễm môi trường không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa do bụi.

Hiện nay, ô nhiễm khí quyển là vấn đề thời sự nóng bỏng của cả thế giới chứ không phải riêng của một quốc gia nào. Môi trường khí quyển đang có nhiều biến đổi rõ rệt và có ảnh hưởng xấu đến con người và các sinh vật. Hàng năm con người khai thác và sử dụng hàng tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí đốt. Đồng thời cũng thải vào môi trường một khối lượng lớn các chất thải khác nhau như: chất thải sinh hoạt, chất thải từ các nhà máy và xí nghiệp làm cho hàm lượng các loại khí độc hại tăng lên nhanh chóng.

Ô nhiễm môi trường khí quyển tạo nên sự ngột ngạt và “sương mù”, gây nhiều bệnh cho con người. Nó còn tạo ra các cơn mưa axít làm huỷ diệt các khu rừng và các cánh đồng.

Điều đáng lo ngại nhất là con người thải vào không khí các loại khí độc như: CO2, đã gây hiệu ứng nhà kính. Theo nghiên cứu thì chất khí quan trọng gây hiệu ứng nhà kính là CO2, nó đóng góp 50% vào việc gây hiệu ứng nhà kính, CH4 là 13%,, nitơ 5%, CFC là 22%, hơi nước ở tầng bình lưu là 3%…

Nếu như chúng ta không ngăn chặn được hiện tượng hiệu ứng nhà kính thì trong vòng 30 năm tới mặt nước biển sẽ dâng lên từ 1,5 – 3,5 m (Stepplan Keckes). Có nhiều khả năng lượng CO2 sẽ tăng gấp đôi vào nửa đầu thế kỷ sau. Điều này sẽ thúc đẩy quá trình nóng lên của Trái Đất diễn ra nhanh chóng. Nhiệt độ trung bình của Trái Đất sẽ tăng khoảng 3,60 °C (G.I.Plass), và mỗi thập kỷ sẽ tăng 0,30 °C.

Theo các tài liệu khí hậu quốc tế, trong vòng hơn 130 năm qua nhiệt độ Trái Đất tăng 0,40 °C. Tại hội nghị khí hậu tại Châu Âu được tổ chức gần đây, các nhà khí hậu học trên thế giới đã đưa ra dự báo rằng đến năm 2050 nhiệt độ của Trái Đất sẽ tăng thêm 1,5 – 4,50 °C nếu như con người không có biện pháp hữu hiệu để khắc phục hiện tượng hiệu ứng nhà kính.

Một hậu quả nữa của ô nhiễm khí quyển là hiện tượng lỗ thủng tầng ôzôn. CFC là “kẻ phá hoại” chính của tầng ôzôn. Sau khi chịu tác động của khí CFC và một số loại chất độc hại khác thì tầng ôzôn sẽ bị mỏng dần rồi thủng.

Ảnh hưởng

Đối với sức khỏe con người

Không khí ô nhiễm có thể giết chết nhiều cơ thể sống trong đó có con người. Ô nhiễm ozone có thể gây bệnh đường hô hấp, bệnh tim mạch, viêm họng, đau ngực, tức thở. Ô nhiễm nước gây ra xấp xỉ 14.000 cái chết mỗi ngày, chủ yếu do ăn uống bằng nước bẩn chưa được xử lý. Các chất hóa học và kim loại nặng nhiễm trong thức ăn nước uống có thể gây ung thư. Dầu lan có thể gây ngứa rộp da. Ô nhiễm tiếng ồn gây điếc, cao huyết áp, trầm cảm và bệnh mất ngủ, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng

Đối với hệ sinh thái

  • Lưu huỳnh điôxít và các nitơ ôxít có thể gây mưa axít làm giảm độ pH của đất.
  • Đất bị ô nhiễm có thể trở nên cằn cỗi, không thích hợp cho cây trồng. Điều này sẽ ảnh hưởng đến các cơ thể sống khác trong lưới thức ăn.
  • Khói lẫn sương làm giảm ánh sáng mặt trời mà thực vật nhận được để thực hiện quá trình quang hợp.
  • Các loài xâm lấn có thể cạnh tranh chiếm môi trường sống và làm nguy hại cho các loài địa phương, từ đó làm giảm đa dạng sinh học.

Khí CO2 sinh ra từ các nhà máy và các phương tiện qua lại còn làm tăng hiệu ứng nhà kính, làm Trái Đất ngày một nóng dần lên, các khu sinh thái sẵn có dần bị phá hủy.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

————————————-

Mất đa dạng sinh học ở Việt Nam

Như  đã  đề  cập  ở  phần  trước,  số  lượng  loài  sinh  vật  trong  sinh quyển  đã  được  xác  định  1.392.485  cũng  chỉ  là  tương  đối.  Theo  UNEP (1995), hiện tại số loài đã được mô  tả lên đến 1.750.000 loài, dao động trong số lượng loài có thể có, từ 3.635.000 đến 111.655.000 loài.

Trong tiến trình lịch sử của sự phân hóa và tiến hóa, số lượng các loài còn nhiều gấp bội, song chúng đã bị tiêu diệt phần lớn do những biến động lớn lao của vỏ Trái Đất và của khí hậu toàn cầu. Con người đóng góp vào nạn diệt chủng của các loài chỉ sau khi họ ra đời và phát triển nền văn minh của mình và cũng là tác nhân chủ yếu làm mất đa dạng sinh học.

Sự mất đa dạng sinh vật ở Việt Nam cũng giống như trên thế giới ngày càng một gia tăng, tốc độ suy giảm đa dạng  sinh vật ngày một tăng do ảnh hưởng các hoạt động của con người vào tự nhiên. Trên thực tế, tốc độ suy giảm đa dạng sinh vật của nước ta nhanh hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực.

Nguyên nhân của sự mất đa dạng sinh vật ở Việt Nam: có thể nêu ra một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học như sau.

– Nguyên nhân trực tiếp:

+ Sự mở rộng đất nông nghiệp: mở rộng đất canh tác nông nghiệp bằng  cách  lấn  vào  đất  rừng,  đất  ngập  nước  là  một  trong  những  nguyên nhân quan trọng nhất làm suy thoái đa dạng sinh học

+  Khai  thác  gỗ:  trong  giai  đoạn  từ năm 1985  đến  1991,  các  lâm trường quốc doanh đã khai thác rừng bình quân 3,5 triệu m3  gỗ/năm, thêm vào đó khoảng 1-2 triệu m3  ngoài kế hoạch. Số gỗ này nếu qui ra diện tích thì khoảng 80.000ha bị mất mỗi năm. Hơn nữa, nạn chặt trộm gỗ xảy ra ở nhiều nơi, kết quả là rừng bị cạn kiệt nhanh chóng cả về diện tích và chất lượng, nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng.

+ Khai thác củi: hàng năm, một lượng củi khoảng 21 triệu tấn được khai thác từ rừng để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt trong gia đình. Lượng củi này nhiều gấp 6 lần lượng gỗ xuất khẩu hàng năm.

+ Khai thác các sản phẩm ngoài gỗ: các sản phẩm ngoài gỗ như song mây, tre nứa, lá, cây thuốc được khai thác cho những mục đích khác nhau. Đặc biệt, khu hệ động vật hoang dã đã bị khia thác một cách bừa bãi.

+ Cháy rừng: trong số 9 triệu ha rừng còn lại thì 56% cóa khả năng bị  cháy  trong  mùa  khô.  Trung  bình  hàng  năm  khoảng  từ  25.000  đến 100.000 ha rừng bị cháy, nhất là vùng cao nguyên miền Trung.

+ Xây dựng cơ bản: viẹc xây dựng cơ bản như giao thông, thuỷ lợi, khu công nghiệp, thuỷ điện,…cũng là một nguyên nhẩntực tiếp làm mất đa dạng sinh học.

+ Chiến tranh: trong giai đoạn từ 1961 đến 1975 đã có khoảng 13 triệu tấn bom và 72 triệu lít chất độc hoá học rãi xuống chủ yếu ở phía Nam đã huỷ diệt khoảng 4,5 triệu ha rừng.

– Nguyên nhân sâu xa:

+  Tăng  dân  số:  dân  số  tăng  nhanh  là  một  trong  nhưũng  nguyên nhân chính làm suy giảm đa dạng sinh học ở Việt Nam. Sự gia tăng dân số đòi hỏi tăng nhu cầu sinh hoạt: lương thực, thực phẩm và các nhu cầu thiết yếu khác trong khi tài nguyên thì hạn hẹp, nhất là đất cho sản xuất nông nghiệp. Hệ quả tất yếu là dẫn đến việc mở rộng đất nông nghiệp vào đất rừng và làm suy giảm đa dạng sinh học.

+ Sự di dân: từ những năm 60, chính phủ đã động viên khoảng 1 triệu người từ vùng đồng bằng lên khai hoang và sinh sống ở vùng núi, cuộc di dân này đã làm thay đổi sự cân bằng dân số ở miền núi. Những năm 1990, nhiều đọt di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ vào các tỉnh phía Nam, Tây nguyên sự di dân này đã ảnh hưởng rõ rết đến đa dạng sinh học của vùng này.

+ Sự nghèo đói: với gần 80% dân số ở nông thôn, vì vậy phụ thuộc phần lớn vào nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên. Trong các khu bảo tồn được nghiên cứu, 90% dân địa phương sống dựa vào nông nghiệp và khai thác rừng. Người nghèo không có vốn để đầu tư lâu dài, sản xuất và bảo vệ tài nguyên, học buộc phải khai thác, bóc lột ruộng đất của mình, làm cho tài nguyên càng suy thoái một cách nhanh chóng.

+ Một số nguyên nhân sâu xa khác có thể nói như: chính sách kinh tế  vĩ  mô,  chính  sách  kinh  tế  cộng  đồng,  chính  sách  sử  dụng  đất,  lâm nghiệp,  du  canh  du  cư  cũng  đã  tác  động  không  nhỏ  đến  thực  trạng  suỷ giảm đa dạng sinh học ở Việt Nam chúng ta.

Hương Thảo

http://thuviensinhhoc.com

3 thoughts on “Biến Đổi Khí Hậu

  1. Pingback: Buy Wiki Links

  2. Pingback: Mike

  3. Pingback: true nutrition

Thank for your comments

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s