Sổ tay Võ Thuật – Võ Thuật Ebooks Collection


Người Đến Từ Bình Dương

Sổ tay Võ Thuật ,một số Ebook được gom lại từ internet gồm nhiều link và nhiều môn phái khác nhau dành cho các bạn đam mê và yêu võ thuật. 

PS:/ nội dung bài viết cũ bị xóa vì một vài lý do xin các bạn thông cảm.

Link down: 

*. Tổng hợp tài liệu, giáo trình hướng dẫn học Thái Cực Quyền – Taijiquan
Download Free Google Drive*. Đạt Ma Dịch Cân Kinh – Khí công Thiếu Lâm
Xem hướng dẫn và Download tài liệu

*. Bát Cực Quyền – Quyền lực bá đạo
Video – hình ảnh và tài liệu cuối bài viết

#1. 108 thế cước Thiếu Lâm

Download Free Google Drive (file PDF)
Download Free Google Drive (file WORD)#2. KARATE Bài quyền từ đai trắng đến đai đen

#3. Kyokushin Karate – Tiếng Việt

View original post 5,009 more words

Đâu là cảnh giới cao nhất của võ thuật ?


41ctai105ctaij1028btai107ctaij10

CẢNH GIỚI CAO NHẤT CỦA VÕ THUẬT

Võ thuật không đơn giản là một môn thể thao hay là một bộ môn nghệ thuật, võ thuật là sự tích hợp những điều tinh túy của nhân loại!

Luyện tập võ thuật giúp ta có sức mạnh của thể hình, sự dẻo dai của Yoga, tinh thần vững vàng của mật vụ, sự nhanh nhẹn của điệp viên, sự nhạy bén của nhà kinh doanh, sự thấu hiểu của nhà tâm lý học, sự sáng suốt của minh quân và sự điềm đạm của một chân sư.

Tất cả những điều đó góp phần tạo nên trí tuệ và phẩm chất tốt đẹp của con nhà võ.

Dưới đây là đoạn đối thoại giữa 2 thầy trò có thể “thức tỉnh” được suy nghĩ lệch lạc của một số bạn trẻ đã, đang và sẽ luyện tập võ thuật nói riêng, và những người mắc “bệnh ngôi sao” nói chung:

Một võ sinh tò mò hỏi Sư phụ:
– “Thưa Sư phụ, đỉnh cao của võ thuật là đâu?”

Sư phụ ôn tồn trả lời:
– “Võ thuật có 4 cảnh giới.

Thứ nhất là “Kiếm trong Tay” tức là tập luyện để kiếm trở thành một phần thân thể của các con. Các con phải điều khiển được vũ khí dễ dàng như điều khiển các ngón tay của mình thì vũ khí mới phát huy hết tác dụng. Với các môn thể thao khác, như môn bóng đá và bóng rổ… các cầu thủ sẽ luyện tập đến khi họ cảm giác như trái bóng là một bộ phận không thể tách rời của họ. Từ đó họ có thể thực hiện những kỹ thuật ảo diệu với trái bóng.

Thứ hai là “Kiếm trong Thân” tức là các con không cần đến kiếm vì mọi bộ phận trên cơ thể con đều là kiếm. Lúc này, các con sẽ nhận ra rằng trên thân thể ta đã có sẵn vô vàn các loại vũ khí vô cùng lợi hại. Chỉ riêng bàn tay thôi đã có ít nhất 4 loại vũ khí vô cùng ghê gớm như nắm tay, lòng bàn tay, cạnh bàn tay và các ngón tay. Nếu biết sử dụng và phối hợp các bộ phận trên cơ thể hợp lý thì các con không cần phải sử dụng bất kỳ loại vũ khí nào.

Thứ ba là “Kiếm trong Tâm” tức là mọi thứ xung quanh các con, dù là cỏ lá, rơm rạ đều có thể là kiếm. Lúc này các con sẽ nhận ra loại vũ khí mạnh mẽ nhất là loại vũ khí ta không thể nhìn thấy được. Đó chính là sự tư duy. Trong nhiều tình huống, sức mạnh cơ bắp thôi là không đủ. Các con phải biết tận dụng tất cả những gì mình có xung quanh. Các con phải biết quan sát, biết cách biến mọi thứ xung quanh thành trợ thủ của mình. Kết hợp giữa cơ bắp, khí công và trí não sẽ giúp con đánh bại mọi đối thủ.

Cuối cùng là TUYỆT GIỚI “Tâm không Kiếm”, tức là con không cần dùng đến vũ lực nữa, cái tâm và cái hồn của các con cũng đủ để làm đối phương khuất phục. Và các con phải nhớ rằng, bất kỳ ai cũng có thể đạt tới cảnh giới cao nhất của võ thuật chứ không cứ phải là con nhà võ. Cảnh giới đó cũng chính là TUYỆT GIỚI của mọi loại nghệ thuật trên thế gian này hướng đến. Khi đạt được nó, toàn bộ cơ thể của các con, từ lời nói đến từng động tác nhỏ đều thoát lên những sức mạnh kỳ diệu khiến mọi người xung quanh các con đoàn kết lại và chữa lành các tổn thương. Tuyệt giới ấy không bao giờ tạo ra thương tổn hay gây chia rẽ. Vì vậy nếu các con sử dụng võ thuật với mục đích là gây tổn thương và chia rẽ, có nghĩa là con đang xa rời con đường tới TUYỆT GIỚI.”

 

(Nguồn: Sưu tầm)

http://karatedochoju.com

 

Võ thật và thế hệ 4.0


Võ thuật giúp gì cho con người hiện đại?

Võ thuật có thể xem là một hình thái văn hoá, là phương thức giáo dục “đạo làm người”, là công cụ rèn luyện sức khoẻ, là kỹ năng tự vệ chiến đấu, là nghệ thuật sống thanh lãng, an lạc.

Tuy mỗi phái võ đều có sắc thái riêng, đường nét kỹ thuật quyền cước riêng, nhưng tựu trung, vẫn có điểm chung nhất, đó là nền tảng Võ đạo: giúp người học rèn luyện sức khoẻ, kỹ năng chiến đấu, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, và một tinh thần minh mẫn, thanh tĩnh, an lạc.

Ngày nay, nếu Võ không còn là vũ khí lợi hại như xưa, và con người có nhiều phương pháp hấp dẫn hơn để rèn luyện sức khoẻ, thì hiệu quả giáo dục của Võ lại quá cần thiết cho con người thời văn minh hiện đại, thời của giao lưu hội nhập.

Tacloban Philippines Save the Children Yolanda -12

Tuổi mới lớn là tuổi “năng động”, là tuổi “gà con háu đá”, luôn có nhu cầu giao tiếp, qua đó phát hiện mình, thể hiện mình, khẳng định mình… Cho nên, đừng ngạc nhiên khi thấy tuổi trẻ thích tụ tập, múa may, leo trèo, gây lộn, đập lộn. Nếu nhu cầu chính đáng ấy không được đáp ứng, hậu quả sẽ thế nào, hẳn mọi người đã biết. Trong một xã hội phức tạp và có quá nhiều cám dỗ như hiện nay, Võ đường là môi trường lành mạnh, nơi hiếm hoi còn giữ được truyền thống “tôn sư trọng đạo”, lại được tổ chức và quản lý chặt chẽ; là nơi cung cấp cơ hội cho các em phát hiện mình, thể hiện mình, khẳng định mình. Cho nên, để đáp ứng nhu cầu phát triển chính đáng của thanh thiếu niên, thiết nghĩ, cách tốt nhất là cần có thời gian cho các em rèn luyện ở các Võ đường.

Tuổi trẻ còn là tuổi của vui chơi. Tước mất niềm đam mê đó của các em, không khéo biến các em trở thành những nhân cách méo mó, bệnh hoạn. Võ thuật là một trò chơi lành mạnh, bổ ích. Nó không chỉ giúp đào luyện thân thể tráng kiện, mà còn giúp un đúc một tinh thần minh mẫn. Thời hiện đại, có quá nhiều trò chơi hấp dẫn nhưng độc hại: games, nhậu nhẹt, bài bạc, hút sách, đàn đúm… và biết bao thứ cám dỗ khác. Hàng tuần, đôi ba buổi chiều, các em dành chút thời gian đến Võ đường tập luyện; tối tối, dành nửa giờ, mười lăm phút ôn tập quyền cước. Thế có phải hay hơn không so với để các em dán mắt vào màn hình chơi games, thất thểu đi quanh bàn bida, hay đắm chìm trong các bãi nhậu?

Ngày nay, tuổi trẻ còn phải bị học quá nhiều: học ngày, học đêm, học thêm, học luyện, học thi… Bộ óc non nớt của các em bị dày vò quá mức. Chưa có thống kê nào về hậu quả của sự tàn phá đó. Nhưng rõ ràng đã có rất nhiều em trí óc từ bảo hoà, đến tàng tàng nhập nhập, nhiều em bị trầm cảm, bị điên, cả chết.

Cứ hình dung, mỗi ngày các em bỏ ra trung bình từ 45 phút đến 1 giờ tập Võ, tức là mỗi ngày các em dành chừng ấy thời gian cho đầu óc nghỉ ngơi, thư giản. Rất nhiều phụ huynh cấm con em tập Võ để dành thì giờ học văn hoá cho tốt. Không biết đến bao giờ họ mới nhận ra, để học văn hoá cho tốt, con em họ cần có thì giờ nghỉ ngơi, thư giản. Mà tập Võ là phương cách tốt nhất để đầu óc nghỉ ngơi, thư giản.

Võ thuật, tuy không còn là thứ vĩ khí lợi hại trong các cuộc chiến tranh, nhưng vẫn là vũ khí tự vệ hữu hiệu trong cuộc sống đời thường. “Ở đâu cũng có anh hùng, ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên”. Với cuộc sống ngày càng phức tạp và đa đoan, biết Võ để tự vệ bao giờ cũng tốt hơn không biết gì.

Không biết từ đâu, nhiều phụ huynh cứ bị ám ảnh bởi định kiến: “Học Võ để đánh nhau”. Trong lúc thực tế thì ngược lại: học Võ giúp con người biết mình biết người hơn, chín chắn hơn, hiền lành và trầm tĩnh hơn. Thực tế đã chứng minh, Võ từng cảm hoá và giúp chuyển hoá nhiều tính cách, từ thô bạo sang hiền hoà, hung hãn sang trầm tĩnh, lười nhác sang cần mẫn, luôm thuộm sang ngăn nắp…

Nhưng nói cho cùng: đáp ứng nhu cầu phát triển, trò chơi lành mạnh, sức khoẻ, tự vệ, chuyển hoá người tập… đó chỉ là phần xác của Võ thôi; tinh thần của Võ mới là yếu tố quan trọng, mới là phần hồn của thứ nghệ thuật tao nhã này.

Ngày nay, thời hiện đại, thời của giao lưu, hội nhập. Môi trường sống không còn hạn hẹp như xưa. Không gian sống không còn chỉ chốn quê nhà mà là thế giới bao la Đông-Tây-Nam-Bắc. Các mối quan hệ rộng lớn hơn, đa dạng và phức tạp hơn… Ở đó, ta phải gặp gỡ, làm việc, và sống với biết bao loại người; kinh qua với bao nền văn minh, giao lưu với bao nền văn hoá, tiếp cận với bao công nghệ hiện đại… Rất chính xác khi có người dùng khái niệm “biển lớn” để chỉ đặc điểm của thời đại này. Để có thể tồn tại và thành công giữa đại dương bao la ấy, con người đòi hỏi phải có những phẩm chất mới. Võ thuật giúp trang bị cho ta nhiều trong số những phẩm chất cần thiết ấy.

Trước hết, đó là đức tự tin để có thể đứng vững và đi tới, là khí phách để không ngợp và không bị hoà tan, là phong thái đường bệ để trở thành bằng hữu của tất cả mọi người.

Tự tin, dũng cảm, ung dung tự tại. Đó không phải là những khái niệm trừu tượng, cũng không phải là lời rao giảng khôn ngoan từ kinh sách; không là thứ có thể vay, mượn, mua, đổi; mà nhất thiết phải là kết quả của một quá trình chứng nghiệm, và chứng ngộ. Cây dừa, phải mất 6 năm mới cho quả ngọt. Người tập Võ cũng thế, cũng phải cần thời gian cùng sự thành tâm và chuyên luyện.

Với sự thành tâm và quá trình chuyên luyện, Võ còn vun đắp nơi người tập đức nhân ái, công bằng, và cao thượng. Đó chính là yếu tính của “Võ đạo”. Ngược với phẩm chất ấy là gì? Ngược với phẩm chất ấy là tham lam, độc ác, bất nhân, lương lẹo, chụp giựt, nhỏ nhen, hận thù, ti tiện… Thời văn minh hiện đại, giao lưu hội nhập, nếu với con tim tàn tật và đen tối ấy, tất sẽ không đi đến đâu, không làm ăn được với ai, chẳng sống được với ai, chẳng mang lại cho ai điều tốt lành.

nhannghialetridung

Nhân ái, công bằng, và cao thượng. Phẩm chất ấy còn đặc biệt cần thiết đối với chúng ta. Đất nước ta vừa trải qua thời kỳ dài ngoại xâm, chiến tranh, nghèo đói, ly loạn… mà di chứng của nó thì không thể nào lường hết. Để xây dựng đất nước giàu mạnh, muốn vươn ra biển lớn, muốn giao lưu hội nhập với người, thì đòi hỏi chúng ta phải tự chữa lành vết thương, phải tự chuyển hoá mình, phải nâng mình lên ngang tầm thời đại. Nếu không thế, tất chúng ta sẽ bị tụt hậu, và bị đào thải.

Đã rõ ràng: Thời hiện đại, trong xu thế giao lưu hội nhập, võ thuật càng cần thiết hơn với con người, nhất là với giới trẻ. Vấn đề còn lại là: tổ chức, quản lý, nội dung, phương pháp dạy võ. Dặc biệt, hai yếu tố sau đây quyết định hơn cả:
– Một là, người tập: Nhất thiết phải là người có nhu cầu, có ham thích, thành tâm, và kiên trì tập luyện. Không nên bắt ai tập võ nếu họ không thích. Cũng không nên cấm ai tập võ nếu họ thật sự thành tâm.
– Hai là, người dạy: Cần phân biệt thầy dạy võ và người kinh doanh võ, vì mục đích dành huy chương và mục đích đào luyện con người… Trong võ thuật, ông thầy giữ vai trò rất quan trọng trong sự thành tựu của đệ tử.

 

Tham khảo: Nghĩa Dũng Karate

Võ Đạo


Motivation Mondays: A QUESTION of BALANCE - How do we create it in our lives?

Dạy võ là dạy đạo làm người

Người có võ rất coi trọng lễ và giữ lễ. Trong thời đại giao lưu, hội nhập; khi các mối quan hệ xã hội trở nên mong manh, các giá trị truyền thống dễ bị lung lay, biến dạng, cả hoà tan; xem ra chỉ có võ là còn giữ truyền thống “tôn sư trọng đạo”, là còn trọng lễ và giữ lễ.

Với con nhà võ, nơi tập võ không phải là Câu Lạc Bộ như nhiều người nghĩ, mà là một Võ đường, Đạo đường; người Nhật gọi là Dojo (Jo là nơi, Do là đạo đức. Dojo là nơi trui rèn đạo đức).

“Học lễ” là nội dung được thực hành liên tục, kiên định, nhất quán trong suốt quá trình dạy võ và học võ. Ngày đầu tiên đi học võ, người học phải trải qua thủ tục  “Bái sư nhập môn”. Tuy không rườm rà như ngày trước, nhưng phép tắc thì phải duy trì: người học thắp cây hương trên bàn thờ Tổ, được gặp mặt Thầy, được giới thiệu với vị Huấn luyện viên trực tiếp huấn luyện, đặc biệt được hướng dẫn để biết phép tắc và những qui định của Võ đường… Bởi vì nơi tập là một Đạo đường, nên mỗi lần vào ra, người học phải cúi chào. Bất cứ lúc nào gặp thầy, bạn, huynh đệ, đều phải cúi chào. Bắt đầu và kết thúc một buổi tập, môn sinh phải chào Tổ, chào Thầy. Bắt đầu và kết thúc một trận đấu tập, hai đối thủ phải cúi chào nhau. Bắt đầu và kết thúc một bài quyền bao giờ cũng là cái chào. Bài tập đầu tiên trong cuộc đời học võ là bài chào. Trong Võ đường, và qua các kỳ kiểm tra, người học võ được đánh giá dựa trên hai tiêu chuẩn: thành tựu công phu và phẩm chất đạo đức, được thể hiện qua cung cách quan hệ, ứng xử với mọi người… Với những ai hiểu, thì đó không chỉ là hình thức mà còn bao hàm cả nội dung. Với những người học còn nhỏ tuổi, chưa kịp hiểu, thì cứ kiên trì thực hành lễ, một ngày kia tất sẽ ngộ ra ý nghĩa bên sau mỗi cái chào.

Người học võ chân chính không coi cái chào là lễ, mà là hình thức của lễ, cách thể hiện lễ. Cái chào ngầm chứa nội dung vô cùng quan trọng, vốn là kim chỉ nam của người học võ, đó là cái đạo của võ và đạo đức của người học võ, gọi chung là Võ đạo. Cái chào chỉ như bóng điện, Võ đạo mới là dòng điện. Không có dòng điện, bóng điện không thể toả sáng; không có tinh thần Võ đạo, cái chào chỉ còn là động tác gật đầu.

Cũng như quá trình tích tụ năng lượng để thắp sáng bóng đèn, quá trình học võ là quá trình tu dưỡng phẩm chất, đạo đức làm nền tảng cho hành vi ứng xử trong các mối quan hệ xã hội. Tuỳ theo từng mối quan hệ xã hội mà hành vi ứng xử khác nhau. Ví dụ, đối với cha mẹ khác đối với thầy, với bạn; đối với người thân, khác với kẻ sơ; với ân nhân khác với kẻ thù; cung cách đi dự đám cưới khác với dự đám ma… Nhưng dù sắc thái có khác nhau thế nào, thì tất cả đều được hình thành trên một nguyên tắc chung. Nói cách khác, nội dung ứng xử thì tuỳ từng mối quan hệ; nhưng nguyên tắc ứng xử thì chung nhất.

Người đời thường coi trọng hình thức của lễ, nội dung của lễ, nhưng con nhà võ còn coi trọng nền tảng, nguyên tắc của lễ.

Nguyên tắc đó là:

Nhân ái và tôn trọng

Nói tôn trọng là tôn trọng quyền tồn tại, quyền sống, quyền làm người, quyền làm người không giống ai. Trong đời sống xã hội, vị trí mỗi người tuy chẳng giống nhau, nhưng nhân cách làm người thì không khác nhau – ai cũng sinh ra và lớn lên bằng trái tim của mẹ; ai cũng bình đẳng trước thượng đế và trước cái chết. Có tinh thần tôn trọng, người tập võ không hạ mình trước bất cứ ai, không phân biệt ai hơn ai; không tâng bốc người trên, không miệt thị người dưới. Tôn trọng con người, tôn trọng mình, tôn trọng đối thủ, đó là một trong những phẩm chất hàng đầu của người học võ.

Nhân ái là mục đích cuối cùng của người học võ, nó giúp định hướng hành vi của người học võ. Dù nghĩ gì, làm gì, nói gì, xử sự thế nào, tất cả đều phải nhằm mục đích làm sao cho con người tốt hơn, cho mình tốt hơn, cho đời đẹp hơn. Nếu không vì lòng nhân ái, hành động của người học võ không khác chi hành động của tên cướp, nhưng nếu vì lòng nhân ái, hành động của anh ta sẽ là hành động anh hùng – “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân. Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” (Nguyễn Trãi).

Khiêm tốn và nhún nhường

Thói kiêu căng tự mãn là kẻ thù lớn nhất của người học võ. Sự hiểu biết không bao giờ có giới hạn. Ai không thấy thiếu sẽ không thêm được gì. Ai không biết ẩn mình sẽ không bay cao. Cái thùng đã đầy thì không còn chứa được nữa. Muốn nhảy lên cao thì phải rùn thấp. Muốn vượt qua xà phải biết uốn mình. Với người học võ, đức khiêm tốn không làm cho mình bé lại mà giúp mình có sức mạnh đi xa về trước; không làm cho mình thấp hơn đối thủ mà làm cho đối thủ không cao hơn mình. Đức khiêm tốn còn thể hiện đạo đức của người học võ: yêu người, vì người, “đi trước về sau”, “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của mọi người”.

Niềm tin và bản lĩnh

Ở đời, không ai có tất cả, không ai không có tất cả. Con gà trống gáy một tiếng, cả làng thức dậy, nhưng không đẻ được trứng; con gà mái đẻ được trứng, nhưng không làm kinh động được ai. Ông nông dân lấy vợ, sinh con, lao động cực nhọc nuôi sống gia đình, nhưng không làm được nhạc. Ông nhạc sĩ tài danh sáng tác cả pho nhạc hay làm rung động trái tim bao thế hệ, nhưng không có vợ con, không cuốc nổi một luống đất. Thật vô lý nếu ông nông dân nọ mặc cảm vì không sáng tác được nhạc; hoặc ông nhạc sĩ kia đau buồn vì không làm tròn thiên chức lấy vợ, sinh con. Cho nên, học võ là học để biết mình là ai, biết cách hun đúc mình, hoàn thiện mình, có niềm tin và tự hào về mình. Mất niềm tin là tự đánh mất vũ khí của mình. Niềm tin, đối với người trí thức, đó là sức mạnh nội tâm; đối với bậc thiền sư, đó là tinh thần vô uý; đối với người học võ, đó là dũng khí của người chiến sĩ. Mất niềm tin, con người hoặc rơi vào tự ti, trầm cảm; hoặc trở nên hung hăng, gây hấn. Chỉ có bản lĩnh, có niềm tin, người học võ mới có sức mạnh để thể hiện cái đức nhân ái, khiêm tốn, nhún nhường, và tôn trọng người khác.

Nhân ái và tôn trọng, khiêm tốn và nhún nhường, bản lĩnh và niềm tin, đó không chỉ là nền tảng của mọi hành vi ứng xử, mà còn là nền tảng của tinh thần Hoà Hợp. Mục đích tối thượng của người học võ là thiết lập mối quan hệ tốt đẹp giữa con người và con người với tinh thần: cộng tác, cộng đồng, cộng hưởng, cùng hưởng… trong xã hội; thái hoà trong gia đình, và an lạc trong bản thân. Đây là điểm thanh niên chúng ta đang thiếu, thậm chí thiếu trầm trọng. Thanh niên chúng ta thiếu cái thuận mà thừa cái nghịch, thiếu cái hoà mà thừa cái bất hoà, thiếu đoàn kết mà thừa chia rẽ. Tôi từng nghe nói: “Một người Việt Nam và một người Nhật, thì người Nhật không bằng người Việt Nam. Ba người Việt Nam và ba người Nhật, thì ba người Việt Nam không bằng ba người Nhật”. Ấy là cách khẳng định thói xấu bất hợp tác, mất đoàn kết của người mình đó thôi. Vì sao ư? Có chi đâu, là vì chúng ta thiếu cái đức tôn trọng, yêu thương, khiêm tốn, bản lãnh và một sức mạnh nội tâm. Ở đời, phàm kẻ nào không có sức mạnh nội tâm, không có bản lĩnh, kẻ đó sẽ không nói được tiếng xin lỗi, xin cám ơn, xin vui lòng, xin nhận trách nhiệm… Và chắc chắn kẻ đó không thể thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp với mọi người.

Tất nhiên, ở trường học và trong gia đình, ai cũng mong muốn dạy con em mình biết lễ phép, biết cách ăn ở, cách đối nhân xử thế. Nhiều trường học nêu cả khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” ở cổng trường và trong các lớp học. Nhưng xem ra, chỉ có võ là dạy cái lễ cho người học hiệu quả nhất. Nói vậy là vì, chỉ có võ mới có chương trình học vừa cả võ vừa cả lễ; nội dung kiểm tra lên đai đẳng cũng bao gồm cả lễ và võ. Ngoài ra, việc thực hiện chương trình “học lễ” xuyên suốt, nhất quán, và triệt để. Đặc biệt, võ coi trọng đào luyện cái gốc song song với cái ngọn, nội dung song song với hình thức, nền tảng song song với biểu hiện – coi trọng việc giáo dục cho người học tinh thần nhân ái, tôn trọng con người, khiêm tốn, niềm tin, và bản lĩnh, song song với việc dạy cho các em cách đối nhân xử thế, cách quan hệ ứng xử cho phải phép, phải đạo với mọi người.

Tiếc rằng, hiện nay nhiều người hiểu không đúng về võ. Họ cho võ là đánh nhau, là vai u thịt bắp, là mặt rổ mặt rạch… Họ không hề hiểu võ là một hình thái nghệ thuật, là công cụ giáo dục đạo làm người; học võ là học đạo làm người. Thêm vào đó, cũng vì có nhiều người dạy võ chỉ dừng lại ở mức “võ thuật” mà chưa đạt tới được mức “võ lý” và “võ đạo” – chỉ dạy cho người học cách đánh mà không dạy cho họ đánh ai, đánh thế nào, bảo vệ ai, bảo vệ cái gì… Đã thế, trong xu thế thị trường hoá, thương mại hoá, thể thao hoá, võ bị xếp ngang hàng với các môn thể thao khác. Người ta chạy theo thành tích, huy chương mà quên mất sứ mệnh giáo dục; chạy theo hư danh mà quên đi thực chất. Tất nhiên, võ cũng là một môn thể thao, nhưng không phải đơn thuần chỉ là một môn thể thao. Võ là môn thể thao truyền thống. Nó vừa phải làm nhiệm vụ đào tạo những vận động viên xuất sắc cho thể thao nước nhà, vừa phải hoàn thành sứ mệnh dạy cho người học sức khoẻ, phẩm chất đạo đức, đối nhân xử thế.

Hẳn chúng ta đều biết, “Tinh thần Nhật Bản”, “Sức mạnh Nhật Bản” được hun đúc bởi ba dòng sữa: Thần đạo Shinto, Phật giáo Thiền tông, và Tinh thần Võ đạo. Trong suốt bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, võ là một trong hai dòng suối tạo nên Sức mạnh Việt Nam – “Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững. Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa. Trong và thật sáng hai bờ suy tưởng. Rất hiên ngang mà nhân ái chan hoà” (Huy Cận). Từ Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn… các bậc khai quốc, công thần đều xuất thân từ con nhà võ. Nhiều trong các triều đại ấy đều có trường dạy võ, chương trình học võ, và các kỳ thi võ (Tú tài, Cử nhân, Tiến sĩ). Rõ ràng, cùng với văn, võ đã góp phần hun đúc nguyên khí quốc gia, sức mạnh dân tộc; góp phần đào luyện con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có sức mạnh, niềm tin, và khí phách; được thử lửa qua suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm và xây dựng đất nước.

Ngày nay, đất nước ta hoà bình, thống nhất, thịnh vượng. Chúng ta có nhiều bạn bè, nhiều đối tác khắp năm châu. Chúng ta đang hân hoan vươn ra biển lớn. Nhưng nhìn lại, xem ra dòng suối võ ngày nào không còn chảy nữa! Không biết nó tắt từ thời nào? Vì sao tắt? Có cần khơi thông không? Làm thế nào khơi thông trở lại để võ tiếp tục góp phần mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước? Rất cần các công trình nghiên cứu nghiêm túc, các hội nghị khoa học để làm sáng tỏ những vấn đề ấy.

Thiết nghĩ, dù đứng trước kẻ thù hay đứng trước đối tác làm ăn, mỗi dân tộc, mỗi con người đều phải cần có sức mạnh, niềm tin, và khí phách. Thiếu sức mạnh, niềm tin, và khí phách, thì không thể đánh thắng ngoại xâm; thiếu sức mạnh, niềm tin, và khí phách, cũng không thể làm ăn sòng phẳng với người.

 

Nguồn: hocvo.com

Bài học ý nghĩa từ chiếc xe đạp


Bài học ý nghĩa từ chiếc xe đạp: Điều quan trọng nhất là bạn phải luôn giữ thăng bằng và để giữ được thăng bằng, bạn phải không ngừng vận động

Biết cân bằng cuộc sống cũng như bạn giữ được cân bằng trên chiếc xe đạp, không những bạn đi được lâu mà còn đi được rất xa trong cuộc sống.

e54528349f733b3ea4ed84ffcd66662f

Ngẫm một chút, đi xe đạp giống như vận động sống, có nhiều điểm tương đồng thú vị. Dưới đây là 9 bài học ý nghĩa rút ra từ việc đi xe đạp đó, bạn thử liên hệ, chiêm nghiệm xem có đúng hay không. 

1. Cuộc sống cũng giống như đi xe đạp, điều quan trọng nhất là bạn luôn phải giữ thăng bằng. Để giữ được thăng bằng để sống cân bằng, bạn phải giữ mình không ngừng vận động”.

2. Nếu bạn mong trèo lên xe là đi được ngay, nếu bạn muốn ngay lúc vừa biết đi xe đã chinh phục một quãng đường xa, bạn sẽ bị ngã. Cuộc sống cũng như vậy, bạn cần phải từ từ, cũng có những lúc bạn gặp thất bại nhưng quan trọng là bạn cần cố gắng để vượt qua được những thất bại đó.

3. Khi bắt đầu tập đi xe đạp, bạn thường hay bị ngã, nhưng đó là kinh nghiệm để bạn thực sự sẵn sàng cho mỗi chuyến đi. Cuộc sống cũng như thế, đó là một chuỗi những bài học từ những sai lầm. Bạn lớn lên trong cuộc sống từ những trải nghiệm thực tiễn đó.

4. Nếu bạn cứ mãi nhìn xuống đất hay sau lưng thay vì nhìn về phía trước khi đi xe đạp thì bạn sẽ đánh mất sự thăng bằng và ngã. Cuộc sống cũng thế nếu bạn tự đắm chìm trong một thế giới của riêng bạn, bạn sẽ đánh mất sự liên hệ với cuộc sống. Vì thế không nên chìm đắm vào những mơ ước xa xăm của bạn hoặc níu kéo quá khứ mà hãy dành những quan tâm cố gắng vào hiện tại và tương lai.

5. Khi đi những con đường có những khúc quanh co, bạn phải lái xe theo khúc quanh đó. Nhưng nếu bạn cứ kiên định và kiên quyết giữ tay lái thẳng thì bạn sẽ đi theo một con đường khác và đánh mất hướng định đi.

6. Chiếc xe đạp sẽ giúp bạn đi nơi cần đi, đến nơi cần đến đã được dự tính trước bằng công sức bạn bỏ ra, đó chỉ là công cụ, không phải là kết quả. Cuộc sống cũng thế, sống thăng bằng rất quan trọng nhưng không phải là mục đích của cuộc sống mà chỉ là cách thức để bạn đạt được mục đích. Số phận không hoàn toàn bất biến mà nếu bạn biết sử dụng chiếc xe đạp của mình thật tốt thì bạn không những đi được mà còn đi xa trong cuộc đời.

7. Khi thành thạo, hiểu biết và điều khiển chiếc xe đạp của mình, bạn có thể đi theo cách riêng của mình, thậm chí có thể đi một bánh xe. Cũng giống như việc bạn thực sự hiểu cuộc sống, hiểu mình là ai, mình làm được những gì thì bạn có thể làm nên mọi điều kì diệu theo cách của chính bạn.

8. Đi xe đạp giúp cho bạn có thể chất khoẻ mạnh, khi leo lên đến đỉnh dốc, thì bạn cần phải cố gắng hết mình. Nhưng khi đã lên tới đích và đi xuống bạn sẽ thấy nhẹ nhàng và hứng khởi. Một cơ thể khỏe mạnh, một tinh thần vững vàng sẽ giúp bạn chinh phục bất cứ đỉnh cao nào.

9. Bạn không thể đi xe đạp mãi mãi. Nhiều người ước và tin rằng họ có thể sống mãi mãi. Nhưng cũng giống như đi xe đạp ra ngoài, rồi cũng sẽ có lúc bạn cần nghỉ ngơi và trở về nhà. Quan trọng là bạn thích thú với việc đi xe và nó đưa bạn đến những nơi bạn cần đến.

Theo PV (tổng hợp) – Trí thức trẻ

Lý Tiểu Long và tư tưởng Đạo giáo trong Triệt Quyền đạo


Xét từ góc độ lịch sử, dễ dàng nhận thấy Đạo giáo (Lão giáo) Trung Hoa gắn bó rất mật thiết với võ thuật. Các đạo sĩ thường là tinh thông y thuật, võ thuật, tướng thuật, chiêm bốc, đây chính là nguyên lý “Đạo ở trong vạn vật”, giáo đồ chỉ là thuận ứng tự nhiên mà thành “Võ-đạo hợp nhất”; “Văn-đạo hợp nhất”; “Y-đạo hợp nhất”.

Lý Tiểu Long là một thiên tài võ thuật nổi tiếng thế giới, nhưng anh cũng chỉ là men theo võ thuật để nhập “đạo”, mượn thực tiễn và thể nghiệm để chứng thực rằng “đạo ở trong công phu”. Đó cũng là lý do mà Lý Tiểu Long sáng lập và phấn đấu hết mình vì môn phái “Triệt quyền đạo” (JEET KUNE DO).

Võ thuật như nước

Trong hệ thống lý luận Triệt quyền đạo của mình, Lý Tiểu Long lấy “nước” làm biểu tượng của cảnh giới võ thuật tối cao. “Hãy trở thành nước, này các bạn tôi! Giống như nước vậy. Khi bạn rót nó vào trong một chiếc ly thì nó trở thành chiếc ly; khi bạn rót nó vào cái chén thì nó trở thành chén”. Lấy nước để so sánh với đạo là bài học mà Lão Tử đã nói: “Thiên hạ không gì mềm yếu hơn nước, nhưng công phá cái cứng mạnh nhất cũng không gì hơn nó. Nước làm lợi cho vạn vật mà không tranh, cho nên gần với đạo”.

bruce lee ip man

Lý Tiểu Long luyện Vịnh Xuân quyền với danh sư Diệp Vấn.

Nước có thể thắng mọi vật là nhờ vào thuộc tính “nhu”. “Nhu” là chỉ nước vốn không có hình thể cố định, có thể tùy hoàn cảnh mà thích ứng. Nếu lấy nước để tỷ dụ cho tính cách con người thì đó là không cố chấp, gạt bỏ tự tư mà dung nạp tất cả mọi thay đổi bên ngoài. Mức độ nhu thuận này của nước không tìm thấy ở vật chất hữu hình khác.

Lý Tiểu Long luyện võ nhập thần để có thể “ngộ đạo” như những nhà tu hành. Có một lần do lo nghĩ về điều cốt tử của võ thuật là gì, đầu óc Lý Tiểu Long căng thẳng, không tập trung luyện võ, sư phụ Diệp Vấn hiểu ý mới bảo anh nên buông lỏng, về nghỉ ngơi, không nên luyện nữa.

Lý Tiểu Long về nhà suốt một tuần suy nghĩ vẫn không ra, bèn ra bờ biển, lên một chiếc ghe nhỏ bơi cho khuây khỏa, không ngờ khi anh đấm xuống nước để bơi thuyền thì hốt nhiên tỉnh ngộ: “Nước là cái cơ bản nhất, đó chẳng phải là yếu nghĩa cốt lõi của công phu hay sao? Nước đủ để vì ta chứng minh nguyên lý của công phu… Nước, là vật chất mềm yếu nhất thế giới. Chính vì thế, ta nhất định cũng giống như bản tính của nước”.

Từ đó, Lý Tiểu Long đem võ học tích lũy bấy lâu của mình “biến” thành nước, nước vốn không có hình thái cố định nên võ thuật cũng không có hình thái cố định. Sự mềm yếu của nước có thể phá mọi thứ cứng rắn, quyền thuật nếu có thể đạt đến cực nhu thì cũng trở thành chí cương.

Nước có thể chở thuyền, cũng có thể làm lật thuyền, vì thế Lý Tiểu Long đưa ra 3 phạm trù trong “Triệt quyền đạo” là “nước”, “thuyền” và “lực nước đánh”. Từ nguyên lý “Be water”- hãy trở thành nước, Lý Tiểu Long đưa võ thuật vào cảnh giới tối cao của “đạo”.

Phương pháp của “không phương pháp”

Vốn là một sinh viên khoa triết học Trường đại học Washington, tư tưởng Đạo gia có ảnh hưởng sâu sắc đến Lý Tiểu Long cũng như môn phái Triệt quyền đạo (thành lập năm 1966). Cái tên “Triệt quyền đạo” chỉ là một khái niệm liên quan đến quyền cước chứ không phải là một môn phái võ thuật. Các môn phái võ truyền thống của Trung Hoa đều có đặc điểm về kỹ thuật riêng để có thể phân biệt.

Như Vịnh Xuân quyền có hệ thống bài quyền và phương pháp xuất quyền riêng, chú trọng quyền đánh thẳng và ngắn, bộ pháp đặc trưng là “Nhị tự kiềm dương mã”; quyền pháp Thái Lý Phật thì chú trọng phát lực đánh xa, bức độ quyền cước rộng, dũng mãnh… Nhưng Triệt quyền đạo của Lý Tiểu Long thì không có hệ thống bài quyền hay kỹ thuật riêng biệt, phái này cũng không có biểu tượng riêng, đúng như trên võ quán gắn hai câu của Lý Tiểu Long “Lấy vô hạn làm hữu hạn, Lấy vô pháp làm hữu pháp”.

Đây chính là Lý Tiểu Long cách tân từ tư tưởng của Lão Tử “Vô vi nhi vô bất vi”. “Vô” và “hữu” là hai hình thái bất đồng của đạo, nhưng phải hiểu “vô” là cái ẩn chứ không phải là “không”, cái hiện rõ ra là “hữu”.

Phía sau cái “hữu” của vạn vật vạn sự chính là cái “vô”. Tất cả hiện tượng của thế giới hiện thực là “hữu”, nhưng để chống đỡ cái hữu ấy là “vô” Triệt quyền đạo không còn bị ước thúc bởi hình thức bài quyền, đòn thế, chiêu thức không cố định, vì thế gọi nó là một võ phái chẳng bằng nói đó là một khái niệm quyền thuật.

Lý Tiểu Long và tư tưởng Đạo giáo trong Triệt Quyền đạo - ảnh 2
Lý Tiểu Long với dòng chữ “Lấy hữu hạn làm vô hạn, lấy vô pháp làm hữu pháp”.

Cái “vô pháp” – không có phương pháp cố định-của Lý Tiểu Long là xác lập ở “vô vi” để có thể thuận ứng tất cả, đạt đến mức “vô bất vi”. Nhưng mà, để đạt đến cảnh giới có thể ứng chiến với tất cả các chiêu thức của các môn phái, thì trên thực tế không phải chỉ nói suông mà đòi hỏi người luyện võ phải nỗ lực hết mình, tìm tòi học hỏi.

Bản thân Lý Tiểu Long từng học rất nhiều võ phái, từ Vịnh Xuân, Thái cực quyền, Bắc Thiếu Lâm đến Taekwondo, Karate, quyền Anh, quyền Thái, kiếm phương tây, anh giao đấu với các cao thủ của bất kỳ môn phái nào để có kinh nghiệm thực chiến, đồng thời đọc rất nhiều thư tịch võ thuật.

Nhờ tinh thần “vô vi” của Đạo giáo, anh không ngần ngại áp dụng mọi phương thức từ đông sang tây để nâng cao trình độ võ thuật của mình, phối hợp phương pháp tập truyền thống với hiện đại, như khiêu vũ để có bộ pháp uyển chuyển hơn; tập tạ, dinh dưỡng theo tây phương để có thể lực tối ưu… Tất cả chỉ nhằm đạt đến mục tiêu: Vô hình, vô thức và vô pháp, giống như nước và nhập với “Đạo”.

“Được cả nên quên cần”

Triết lý võ đạo của Lý Tiểu Long được phản ảnh rõ nét trong bộ phim “Long tranh hổ đấu”. Nhân vật chính trong phim Tiểu Long là một tục gia đệ tử Thiếu Lâm võ nghệ cao cường đồng thời có trí tuệ võ học sâu sắc.

Đầu phim là đoạn Lý Tiểu Long hướng dẫn Đổng Vĩ ra đòn tấn công. Một điểm cực kỳ quan trọng của công phu, đó là: phải dựa vào trực giác của bản năng để có phản ứng nhanh nhất và hữu hiệu nhất. Lý Tiểu Long bảo Đổng Vĩ nhìn vào ngón tay của anh, phản ứng của Đổng Vĩ quá chậm bởi vì cậu ta chỉ nhìn thấy ngón tay chứ không thấy mặt trăng mà ngón tay chỉ đến.

“Lấy tay chỉ trăng” là một tỷ dụ thường gặp trong triết học tôn giáo Trung Hoa, nhất là Huyền học đời Ngụy Tấn, Lý học của Vương Dương Minh đời Tống và Phật học. Mặt trăng và ngón tay dùng biểu đạt mối quan hệ giữa gốc và ngọn, thật và giả, thể và dụng, mục đích và phương thức, người đời vì mê lầm, chấp vào ngôn ngữ, hình thức cố định nên rốt cuộc chỉ là “đuổi hình bắt bóng”.

Thiền tông bảo rằng “Cắt đường ngôn ngữ, tuyệt lối tâm hành”, Vương Bật cũng nói “Bởi lời không thể nói hết ý nên thánh nhân lập hình (tượng) để biểu ý, khi hiểu rõ ý thì nên quên hình đi”. Truy ngược lên thì triết lý này đã có trong tư tưởng Lão Tử, Trang Tử. Lão Tử nói rằng “Đạo mà nói ra được thì không phải là đạo”; trong thiên “Ngoại vật”, Trang Tử nói “Người ôm cần đi câu là vì cá, được cá nên quên cần”.

Điều này ảnh hưởng rất lớn trong triết lý Triệt Quyền đạo của Lý Tiểu Long. Bởi vậy, những công phu kỹ thuật không phải là cực điểm của võ học. Điều quan trọng nhất là sự khải thị của nó về sinh mệnh con người.

Trong bài phát biểu của mình khi thành lập Triệt Quyền đạo, Lý Tiểu Long: “Muốn lý giải Triệt quyền đạo, cũng giống như ngón tay chỉ mặt trăng vậy, nhất thiết không được nhầm lẫn ngón tay thành mặt trăng, càng không nên chỉ chú tâm vào ngón tay mà bỏ qua bao cảnh đẹp xung quanh. Tác dụng của ngón tay tôi là chỉ đến “ánh sáng”, còn việc bạn gặt hái được bao nhiêu, tầm mắt nhìn được bao xa thì phải dựa vào sự nỗ lực của chính bản thân bạn để lĩnh hội và thu hoạch”.

“Ngón tay” của Lý nói là chỉ hình thức võ thuật. Chiêu thức và  phương pháp chiến đấu của các môn phái không thể xem là cực điểm của võ thuật. “Ánh sáng” là con đường vô cùng vô tận, cực điểm của võ thuật không thể định nghĩa hay miêu tả mà phải thông qua sự nỗ lực và trí tuệ để nắm bắt. Cảnh giới tối thượng của võ thuật vượt ra ngoài bản thân võ thuật, là “cảnh giới phi võ thuật”, “được cá quên cần”, hay nói cách khác đó chính là đạo, “Võ – Đạo hợp nhất”.

Triệt Quyền đạo không có bài học chuẩn bị trước, mà cũng không cần điều này. Mỗi con người đều có một loại trực giác, có thể phát hiện năng lực bẩm sinh của mình, từ đó mà phát triển thế mạnh ấy với điều kiện hữu hiệu nhất. Vì thế điều đầu tiên là phải hiểu được năng lực thực sự của mình. Tri thức võ thuật về căn bản là sự lĩnh hội riêng của mỗi người, học tập không phải là mô phỏng hay tích lũy những tri thức cố định đã có.

Học võ là một quá trình, luôn không ngừng tìm kiếm, đổi mới cho kịp với nhịp sống. Trong Triệt quyền đạo, môn sinh phải rèn luyện phản xạ, tùy ý sử dụng các dạng chiêu thức, tìm kiếm những phương thức mới hơn, hiệu quả hơn, chứ không phải lấy cái của người ta bê nguyên xi về.

Vượt qua sinh tử

Vấn đề sinh tử, đối với những bậc đắc đạo đã hiểu rõ ý nghĩa sinh mệnh mà nói thì không phải là cái gì ghê gớm lắm. Trang Tử gõ chậu hát khi vợ chết, Lão Tử thì bảo người ta bỏ “thân mình” đi để tránh được “đại họa”. Lý Tiểu Long thông qua những bộ phim chấn động thế giới, bằng công phu và trí tuệ, giác ngộ và thực tiễn, đã đề cập đến vấn đề muôn thuở này.

Là một cao thủ truy cầu cảnh giới võ thuật tối cao, Lý Tiểu Long đương nhiên không giống như những võ sĩ thông thường, anh không đánh giá cao giá trị ứng dụng của võ thuật. Dưới góc nhìn ấy, kẻ thù  thật sự  chính là bản thân mình chứ không phải là lão chủ hãng nước đá trong “Đường Sơn đại huynh”; võ sĩ Nhật Bản trong “Tinh Võ Môn” hay nhà vô địch thế giới trong “Mãnh long quá giang”.

Trước hết, Lý phải hạ người nhà của mình trong “Long tranh hổ đấu”, đó là Thạch Kiên – một cao thủ Thiếu Lâm thực sự, huấn luyện tại Quảng Châu Tinh Võ hội, nổi tiếng trong giới võ lâm Trung Quốc đương thời. Thiếu Lâm là Bắc Đẩu võ lâm, Thạch Kiên lại là cao thủ Thiếu Lâm, Lý Tiểu Long hạ gục Thạch Kiên là tượng trưng cho việc hạ bệ công phu truyền thống, hướng đến một chân trời mới.

Trong phim, Thạch Kiên ngoài giỏi công phu Thiếu Lâm, còn có một vũ khí kỳ dị là bàn tay sắt “Cương thủ chưởng”. Cái tay sắt này có ý nghĩa sâu xa, vì theo quan niệm cũ thì đỉnh cao nhất của võ thuật là luyện các môn “Thiết bố sam, Kim chung trạo, Thiết sa chưởng… đạt đến mức đao thương chém không vào, hạ đối thủ mau lẹ, “Cương thủ chưởng” của Lý đặt ra là biến tấu của Thiết sa chưởng.

Lý lần lượt đánh bại hết những kỹ thuật, binh khí cổ truyền Trung Hoa như Thái cực Thôi thủ, thuật lăng không Bắc phái, phi tiêu, trường thương… Sau khi hạ gục tất cả, còn lại một đối thủ lợi hại nhất, đó là chính mình! Lý Tiểu Long nhìn qua phản chiếu của các tấm kính thấy xuất hiện vô vàn những hình ảnh không thực. Điều này rất có ý vị Đạo giáo, giống như Phật gia nói “duyên khởi tính không”, đối tượng mình đánh là hư ảo, không thật.

Phim quay về cảnh thầy trò đối đáp: Sư phụ hỏi Lý Tiểu Long rằng thế nào là đỉnh cao nhất của võ thuật, Lý trả lời rất tự tin: “Cảnh giới cao nhất của võ thuật là chiêu thức ẩn trong vô hình, không cần suy nghĩ mà tự nhiên hạ được địch thủ”, tư tưởng này chính là cốt lõi của Triệt Quyền đạo. Sư phụ bổ sung thêm rằng: “Địch thủ thật sự là một ảo ảnh, ẩn ở phía sau, chỉ cần tiêu diệt ảo ảnh thì có thể tiêu diệt luôn chân thân của hắn”.

Lý Tiểu Long chỉ là ảo ảnh, Lý Tiểu Long thật sự ẩn ở phía sau, muốn đánh thắng kẻ địch thật sự thì trước tiên phải đánh ngã Lý Tiểu Long ảo ảnh này. Vì thế, đỉnh cao của võ học không phải là đánh bại địch thủ bên ngoài, mà là vượt qua sống chết, chiêu thức hòa ở vô hình, triệt tiêu những nhân tố nhị nguyên đối lập như đối tượng và tự thân, ảo ảnh và chân thân, sinh tồn và tử vong, đúng như Lão Tử nói là cảnh giới từ “hai” mà tiến đến “một”. Bộ phim “Tử vong du hý” – phim cuối cùng của Lý Tiểu Long thể hiện rõ cảnh giới tối cao: vượt qua sinh tử, báo trước cái chết của một nhân tài võ học.

Để biểu đạt quan niệm này, Lý Tiểu Long phải đánh với chính mình và khẳng định kết cuộc: Tiểu Long phải chết. Nhờ cái chết của anh mà võ học mới trường tồn ở nhân gian, cảnh giới võ học tối cao của anh mới có thể truyền lại hậu thế. Phải chăng anh linh cảm cái chết của mình nên mới đem mạng sống để đóng bộ phim “Đùa giỡn với cái chết” này khi mới 32 tuổi hừng hực sức sống? “Người chết mà không mất gọi là thọ” – lời Lão Tử nói quả đúng với Lý Tiểu Long.

Những bộ phim Lý Tiểu Long đóng phải kết nối lại xem liên tục mới thấy được triết lý võ thuật và cảnh giới công phu mà Lý muốn biểu đạt. Nếu chỉ xem một bộ phim thì sẽ không thể nhận diện “trí tuệ võ học” của Lý: anh đánh bại tất cả các cao thủ giỏi nhất, nhưng điều cần đặc biệt chú ý là anh không dùng một công phu “cố định” nào của riêng mình, mà sử dụng chính những công phu mà người khác cho là lợi hại nhất để hạ gục họ. Trí tuệ võ học theo lối Đạo gia đã được Lý Tiểu Long chứng minh trong thực tiễn cuộc sống và “Triệt Quyền đạo”.

 

Theo CAND

 

https://www.tienphong.vn/the-thao/ly-tieu-long-va-tu-tuong-dao-giao-trong-triet-quyen-dao-1124549.tpo

Khi các ni cô Nepal luyện võ Kung-Fu


Còn lâu mới đến 5 giờ sáng. Nhưng ở nữ tu viện Druk Gawa Khilwa ở Kathmandu, Nepal, các vị ni cô đã thức dậy luyện võ công.

Ý tưởng từ Việt Nam

Một chân gập về phía trước, một chân duỗi về phía sau, họ liên tục hít không khí vào đầy buồng phổi và cố gắng tập cho hoàn hảo một chuỗi những cú đá không chê vào đâu được.

Mỗi động tác của họ đều kèm theo những tiếng hô đầy nội lực – những tiếng kêu lanh lảnh sau những cú đá rầm rập.

Vận vào bộ nâu sồng truyền thống nhưng được sửa lại theo kiểu đồng phục karate, những gương mặt tươi cười của những vị ni sư này toát lên nội lực và sức mạnh không ngờ.

Họ là những ni cô học võ Kung Fu: những người phụ nữ duy nhất ở Nepal luyện môn võ công có thể làm chết người vốn đã nổi tiếng dưới sự thể hiện của huyền thoại võ thuật Lý Tiểu Long.

Trong một hệ thống tăng đoàn vốn tự thân đã nằm dưới sự chi phối của nam giới, phụ nữ được xem là đứng dưới nam giới.

Các vị tăng thường giữ tất cả các vị trí lãnh đạo, còn các ni sư chỉ làm các công việc quanh quẩn trong chùa và các việc tẻ nhạt khác.

Nhưng vào năm 2008, người đứng đầu dòng tu truyền thừa Drukpa vốn có lịch sử 1.000 năm, Đức Pháp chủ Gyalwang Drukpa, đã thay đổi mọi thứ.

Prakash Mathema/GettyBản quyền hình ảnhPRAKASH MATHEMA/GETTY
Image captionNăm 2008, Đức Pháp chủ Gyalwang Drukpa bắt đầu khuyến khích các ni sư học võ để biết cách tự vệ

Sau một lần đến thăm Việt Nam nơi Ngài nhìn thấy các ni cô được học võ công, Ngài đã quyết định áp dụng ý tưởng này ở Nepal bằng cách khuyến khích các vị ni sư ở đây học cách tự phòng vệ.

Mục đích của Ngài rất đơn giản: thúc đẩy bình đẳng giới và tạo sức mạnh cho những phụ nữ trẻ vốn đa phần đến từ những nơi nghèo khổ ở Ấn Độ và Tây Tạng.

Tập luyện căng thẳng

Mỗi ngày, 350 ni cô trong độ tuổi từ 10 đến 25 tham gia vào ba đợt luyện tập căng thẳng để trau dồi những chiêu thức mà họ được sư phụ dạy, người đến từ Việt Nam để dạy cho họ hai lần một năm.

Bên cạnh việc hoàn chỉnh các thế võ, họ còn sử dụng các vũ khí truyền thống, chẳng hạn như ki am (kiếm), dao nhỏ (đao), dao lớn (kích), tong (thương) và nunchaku (côn nhị khúc).

Những ni cô có sức mạnh về thể lực và tâm lý vượt trội sẽ được dạy chiêu chặt gạch vốn đã trở nên nổi tiếng trong vô số các bộ phim võ thuật.

Chiêu thức này chỉ được biểu diễn vào một số dịp đặc biệt, chẳng hạn như vào ngày sinh nhật của Đức Pháp chủ.

Các vị ni cô, đa số đều có đai đen, đồng ý rằng võ công giúp họ cảm thấy an toàn, trở nên tự tin, cho họ sức mạnh và giúp cơ thể họ khỏe mạnh. Còn thêm một lợi ích nữa, là việc tập võ là giúp tăng cường sự tập trung vốn giúp cho các ni sư ngồi thiền được lâu hơn

Jigme Konchok là một ni cô ngoài 20 tuổi, đã luyện võ được hơn năm năm.

Ni cô giải thích quá trình học võ của mình như sau: “Tôi lúc nào cũng phải chú ý đến các động tác để biết rằng động tác đó đúng hay sai để sửa lại ngay lập tức nếu cần. Tôi phải tập trung vào chuỗi các động tác mà tôi đã học thuộc cũng như từng động tác riêng lẻ ngay lập tức. Nếu tâm dao động thì các động tác sẽ không thể chính xác hoặc là gậy sẽ rơi. Ngồi thiền cũng giống vậy.”

Tràn đầy tự tin

Với danh nghĩa bình đẳng giới, Đức Pháp chủ Gyalwang Drukpa cũng khích lệ các ni cô học các kỹ năng vốn trước giờ là của nam giới, chẳng hạn như sửa ống nước, lắp đặt hệ thống điện, đánh máy, đạp xe và tiếng Anh.

Dưới sự chỉ đạo của Ngài, các ni sư được dạy để hướng dẫn các buổi tụng kinh và được trang bị những kỹ năng kinh doanh cơ bản – những công việc vốn dĩ thuộc phạm vi của tăng nhân – và họ điều hành nhà khách cùng quán nước của tu viện.

Các phụ nữ cấp tiến thậm chí còn lái những chiếc xe hai cầu xuống núi Druk Amitabha để đến Kathmandu nằm cách đó khoảng 30km để lấy vật dụng đồ dùng.

Với tâm tràn trề sự tự tin mới, các vị ni sư này đã bắt đầu vận dụng các kỹ năng và năng lượng này vào các công việc phát triển cộng đồng.

Khi Nepal xảy ra một trận động đất lớn hồi tháng Tư năm 2015, các ni cô không chỉ từ chối di tản đến nơi an toàn hơn mà còn lội bộ đến những ngôi làng lân cận để giúp dọn dẹp những đống đổ nát và dọn lối đi. Họ phân phát thực phẩm cho những người sống sót và giúp dựng lều để họ có nơi trú thân.

Có lần các ni cô – được chính Đức Pháp chủ dẫn đầu – đã đạp xe 2.200km từ Kathmandu đến Delhi để truyền bá thông điệp về ý thức bảo vệ môi trường và khuyến khích người dân sử dụng xe đạp thay vì đi ô tô.

Và khi các ni cô đến thăm các khu vực dẫy đầy bạo lực như ở Kashmir, họ đã thuyết pháp về tầm quan trọng của sự đa dạng và lòng khoan dung.

Nhưng chiếm vị trí quan trọng nhất trong chương trình làm việc của các ni cô vẫn là thúc đẩy việc tạo sức mạnh cho nữ giới.

“Võ công giúp chúng tôi xây dựng được một sự tự tin để có thể chăm sóc cho bản thân mình và người khác vào những lúc cần thiết,” Konchok giải thích.

 

tham khảo: https://www.bbc.com/vietnamese/vert-tra-43534562

Bản tiếng anh: http://www.bbc.com/travel/story/20160916-the-kung-fu-nuns-of-nepal

Khoa học cuối cùng cũng chứng minh được sự tồn tại của kinh mạch


Học thuyết kinh mạch có một lịch sử lâu đời và đã được phát triển liên tục cùng với y học cổ truyền phương Đông và các phương pháp tu luyện và thiền định. Các thầy thuốc Đông y tin rằng các kinh mạch là những đường dẫn “khí”, loại năng lượng quan trọng cho sự sống của cơ thể. Các kinh mạch gắn liền với nội tạng và trải rộng khắp trong cơ thể.

Bản đồ kinh mạch đã được các thầy thuốc Trung y lập ra từ 2000 năm trước (ảnh: Internet)

Hơn 2000 năm trước, các nền văn hóa cổ đại đã biết về sự tồn tại của các kênh năng lượng này. Chúng được gọi là ‘sen’ ở Thái Lan, ‘nadis’ ở Ấn Độ, ‘kinh mạch, ‘mạch’ hoặc ‘kênh’ ở Trung Quốc, Nhật Bản và ‘kênh’ ở Tây Tạng.

Gần 2.000 năm trước, cuốn sách Hoàng Đế Nội Kinh tại Trung Quốc đã ghi lại một cách hệ thống vị trí của các kinh mạch. Ở Ấn Độ, nơi có nhiều kỹ thuật chữa bệnh đông y phát triển, người ta cho rằng có đến 72.000 nadis hoặc đường năng lượng.

Hệ thống kinh mạch đóng một vai trò quan trọng trong sinh lý học, bệnh lý học, và phòng ngừa bệnh. Bệnh tật được cho là do sự tắc nghẽn dòng năng lượng trong các kênh năng lượng này. Các phương pháp chữa bệnh truyền thống, bao gồm châm cứu, massage và yoga, được tạo ra dựa trên nguyên tắc tồn tại của các kinh mạch.

“Trong các nền văn hóa và y học truyền thống trước chúng ta, việc chữa bệnh được thực hiện bằng cách di chuyển năng lượng.” – Albert Szent-Gyorgyi, nhà hóa sinh học, người đoạt giải Nobel năm 1937.

Nhiều phương pháp chữa bệnh truyền thống như châm cứu dựa trên nguyên tắc của kinh mạch

Với một số người, lý thuyết cơ thể năng lượng rất khó hình dung vì chúng ta chỉ nhìn thấy cơ thể do xương thịt tạo nên. Về cơ bản, chúng ta nằm trong một trường năng lượng, bao phủ bởi một trường năng lượng khác. Cơ thể chúng ta là điện từ trong tự nhiên và khoa học đã đo những tần số này bằng các máy móc tiên tiến, như máy quét EKG và MRI, trong nhiều năm. Nhiều nghiên cứu chứng minh các đường năng lượng và các điểm huyệt đạo dẫn điện ngay cả khi kim đo không được sử dụng. Ngoài ra người ta đã nhận thấy kỹ thuật mát-xa Shiatsu cũng có thể kích thích các hiệu ứng năng lượng giống như vậy. Tương tự, khí công, thái cực quyền, yoga… đã được chứng minh có thể tăng độ dẫn điện tại các huyệt. Tuy vậy, khoa học chưa bao giờ tin vào sự tồn tại của kinh mạch… cho đến bây giờ.

Hành trình hơn 50 năm tìm kiếm sự tồn tại của kinh mạch

Đầu những năm 1960, nhà khoa học Bắc Triều Tiên, Giáo sư Đại học y khoa Pyongyang, Kim Bong-Han thông báo rằng ông đã tìm thấy các kinh mạch. Giáo sư Kim cho biết có tồn tại các cấu trúc hình ống mới ở bên trong và bên ngoài mạch máu và mạch bạch huyết, cũng như trên bề mặt của các cơ quan nội tạng và dưới lớp hạ bì. Ông tin rằng chúng là những đường kinh mạch truyền thống. Sau nghiên cứu của Giáo sư Kim, các kinh mạch được gọi là ống dẫn hoặc kênh Bonghan (Bong-Han system).

Tuy vậy, kết quả nghiên cứu của giáo sư Kim hầu hết không được công nhận do ông không trình bày đầy đủ phương pháp nghiên cứu và công thức tạo ra chất nhuộm màu xanh để hiển thị đường kinh mạch, khiến cho các nhà khoa học khác không thể mô phỏng lại nghiên cứu của ông. Năm 1965, trường Y khoa Pyongyang bất ngờ đóng cửa, khiến cho nghiên cứu của ông bị quên lãng gần 40 năm.

Năm 2000, Tiến sĩ Kwang-Sup Soh, Đại học Quốc gia Seoul, Hàn Quốc đã thành lập một phòng thí nghiệm để nghiên cứu sự tồn tại của kinh mạch. Tiến sĩ Soh đã lựa chọn Tiến sĩ Byung-Cheon Lee là người đứng đầu nhóm nghiên cứu, tiến hành xem xét lại những phát hiện của Giáo sư Kim.

Sau hàng loạt những thử nghiệm và thất bại, họ đã phát hiện được hệ thống đường ống mô tả bởi Giáo sư Kim trên bề mặt nội tạng của thỏ, chẳng hạn như gan, dạ dày, ruột, bàng quang.

Năm 2008, các nhà khoa học đã khám phá ra một loại thuốc nhuộm để xác định kinh mạch có tên khoa học là trypan blue. Từ thời điểm đó, họ đã xác nhận sự hiện hữu của hệ thống kinh mạch ở tim bò, não thất chuột, các dây thần kinh cột sống, cũng như ở các mô mỡ bụng… Năm 2014, các nhà khoa học đã phát hiện ra sự tồn tại của kinh mạch ở trong mạch máu dây rốn của nhau thai người.

Ngày nay, tên khoa học được sử dụng để gọi hệ thống kinh mạch là Primo Vessel System hay Primo Vascular Sysem, gọi tắt là PVS, tạm dịch là Hệ thống Kinh huyết Nguyên sinh.

Kết cấu của kinh mạch mà khoa học hiện nay phát hiện

Để tìm hiểu về cấu trúc hệ thống kinh mạch, Tiến sĩ Kwang‐Sup Soh và các đồng sự đã tiêm thuốc nhuộm y tế vào các điểm châm cứu. Thuốc nhuộm này đã nhuộm màu các kinh mạch, khiến chúng hiển thị dưới dạng những đường mỏng. Các đường mỏng này không thấy xuất hiện tại các điểm không châm cứu được nhuộm màu.

Các đường kinh mạch – ký hiệu là BHD và các điểm giao kinh mạch – ký hiệu là BHC của một chú chuột được hiện lên nhờ kỹ thuật nhuộm màu xanh, các đường màu đỏ – ký hiệu là FAT là mạch máu không bị nhuộm màu (ảnh: TS. Kwang‐Sup Soh).

Các nhà nghiên cứu phát hiện rằng, các đường kinh mạch không giới hạn ở làn da, mà thực tế chúng là một hệ thống đường ống hoàn chỉnh, ở đó có một loại chất lỏng chảy qua, và các chất lỏng này tập hợp để tạo thành tế bào gốc.

Nghiên cứu với trứng gà cho thấy, sự xuất hiện của kinh mạch xảy ra trước sự hình thành của các lạc mạch (các nhánh của kinh mạch), mạch máu, mạch bạch huyết, dây thần kinh và nội tạng.

Các kinh mạch được phát hiện trong cơ thể thỏ rất mảnh, trong suốt một nửa với đường kính trung bình từ 20 đến 30µm. Mỗi kinh mạch chứa đến 20 ống dẫn nhỏ có đường kính từ 3 đến 10µm được lót bởi một lớp tế bào nội mô và được bao quanh bởi lưới ngoại bào. Mỗi ống dẫn chứa đầy chất lỏng trong suốt được gọi là primo fluid, tạm dịch “dung dịch nguyên thủy”. Chúng có thể được kết nối với nhau đến các nút giao nhau của đường kinh mạch.

Các nhà khoa học cũng xác định rằng kích thước kinh mạch của người cũng không dày hơn so với kinh mạch của các động vật nhỏ như thỏ, chuột, chó…

Thành phần của primo fluid (tạm dịch: dung dịch nguyên sinh) ở chuột được phát hiện là giàu bạch cầu hạt (granulocyte) và hạt tế bào nội tiết (secretory granule), nó chứa:

  • dưỡng bào (mast cell) chiếm 20%,
  • mô bào (histiocyte) chiếm 53%,
  • bạch cầu ái toan (eosinophil) chiếm 16%,
  • bạch cầu trung tính (neutrophil) chiếm 5%,
  • các tế bào giống tế bào gốc chưa trưởng thành (immature stem-like cells) chiếm 3%,
  • bạch cầu chỉ chiếm 1%.

Các nhà nghiên cứu đo được nồng độ cao của các tế bào gốc giống phôi người trưởng thành, biểu hiện dấu ấn sinh học các tế bào gốc mã số OCT4, NANOG và CD133.

Tác dụng của kinh mạch dưới góc nhìn khoa học

Các nhà khoa học đã phát hiện hệ thống kinh mạch (PVS) có những chức năng như sau:

Lưu thông và vận chuyển: dung dịch nguyên sinh (primo fluid) được lưu thông trong một mạng lưới các mạch và nút với nhiều đường dẫn độc lập. Mặc dù toàn bộ hệ thống kinh mạch vẫn chưa được ánh xạ đầy đủ trên cơ thể người, nhưng các nhà khoa học tin rằng bản chất tuần hoàn của nó có thể giúp vận chuyển các chất hóa học, các yếu tố gây viêm, cũng như các tế bào ung thư (di căn) trong dung dịch nguyên sinh. Hệ thống kinh mạch đã được dự đoán là một tuyến đường phân phối thuốc điều trị một cách hiệu quả, đặc biệt là điều trị ung thư.

Chức năng miễn dịch và tái sinh: dung dịch nguyên sinh chứa một lượng lớn các tế bào tương đồng với tế bào gốc, có kích thước 1 đến 4µm. Chức năng chính xác của những tế bào này vẫn chưa được xác định, nhưng Trung tâm Ung thư Quốc gia Hàn Quốc đã xác nhận rằng dung dịch nguyên sinh chứa rất nhiều các tế bào miễn dịch khác như đại thực bào, bạch cầu ưa eosin và dưỡng bào

Chức năng nội tiết:

Dẫn truyền thần kinh: hệ thống kinh mạch cũng được mô tả như một cơ quan nội tiết vận chuyển hormon. Chất catecholamin – hormon được tiết ra trong các tình huống căng thẳng, để giải phóng năng lượng của cơ thể và chuẩn bị cho một tình huống “chiến đấu hay trốn chạy” cũng được tìm thấy trong dung dịch nguyên sinh.

Phát quang sinh học (Biophoton): các nhà khoa học Hàn Quốc phát hiện rằng hệ thống kinh mạch chứa hàm lượng cao các axit nucleic và được bao quanh bởi collagen. Vì vậy, tiến sĩ Lee và Soh cho rằng đây có thể là một phương tiện tốt để vận chuyển hoặc giao tiếp sinh học qua phát quang sinh học.

Quá trình viêm: các nhà khoa học cũng chỉ ra rằng hệ thống kinh mạch của chuột bị viêm nhiễm mang các sản phẩm bệnh lý, chẳng hạn như bạch cầu trung tính đa hình và các nguyên bào sợi, có thể liên quan đến các quá trình viêm nhiễm.

Ung thư: ở động vật có vú, hệ thống kinh mạch đã được xác định trên mô fascia (mô liên kết cơ thể) xung quanh khối u, cũng như tìm thấy kết nối với các khối u. Hệ thống kinh mạch có thể là một cơ chế mới được công nhận trong kiểm soát tăng trưởng ung thư, nhưng cũng có thể là một con đường mới cho di căn ung thư, bởi vì các kinh mạch được tập trung nhiều hơn xung quanh các vị trí khối u, và tế bào khối u di chuyển hiệu quả trong hệ thống kinh mạch hơn là trong hệ bạch huyết.

Nghiên cứu của các nhà khoa học Hàn Quốc có thể được tìm thấy ở đây.

Kết luận

Cho dù nhiều người còn hoài nghi, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Bắc và Nam Triều Tiên đã khẳng định được sự tồn tại và phần nào chức năng của hệ thống kinh mạch trên cơ thể người và động vật.

Những phát hiện này cũng khẳng định sự hiểu biết của con người còn rất hạn chế so với hiểu biết của người xưa. Tuy vậy, những phát hiện mới về kinh mạch mang lại cho chúng ta hy vọng về một cuộc cách mạng trong y học cũng như phương pháp tiếp cận mới khi tìm hiểu về nhân thể học và vũ trụ.

 

trithucvn.net
My BJJ Journal

My own experience in training BJJ

Kung Fu Christian

Bay Cao và Vươn Xa

mattkprovideo

Business Explainer Videos

Autism and Expectations

De-Mystifying Autism

What should I read next?

Let's talk about good reads!

MEGAmalist

Music ⦁ Musings ⦁ Meanders ⦁ Morsels

The Well-Appointed Desk

For the love of pens, paper, office supplies and a beautiful place to work

Microsoft Decoded

Breaking down Microsoft code and products and helping you make sense of it.

News and Headlines, Keeping you informed on RoboeAmerican.Com

NEWS AND HEADLINES IS A ROUNDUP OF TOP NEWS AND HEADLINES OF THE DAY. Plus News Feeds. NO FAKE NEWS, NO MISLEADING HEADLINES. Also, FREE Internet SAFETY and Security TOOLS, FREE WEBSITE CHECKER’S, REFERENCE DESK. PLUS HOW – TO SITES, to help you get the most out of your tech.

MoMoHitsTheSpot!

Time Attack Motoring

laflaneure

stroll with no destination in mind

Argo City Comics

The Violent Blue blog***Comics, Horror and Pop Culture***Updates Tuesday through Friday (and occasionally at random)

Mentorphile

Mentoring entrepreneurs

Inhabiting the Anthropocene

How we live changes everything

Unbound Wallflowers

A BETTER YOU BY 100 NEW LITTLE THINGS

Michigan Quarterly Review

Bay Cao và Vươn Xa

What David Read

Our father David reads a lot, so we post his reviews of notable books

%d bloggers like this: