Gốm Sứ Bình Dương – Tinh Hoa Gốm Sứ


Làng nghề gốm Bình Dương

Cũng như các làng nghề điêu khắc, sơn mài, làng nghề gốm sứ Bình Dương không chỉ làm ra của cải, đóng góp vào giá trị sự tăng trưởng kinh tế, mà còn là sự thể hiện nét văn hóa, lịch sử truyền thống của Bình Dương.
Trên đất Bình Dương hiện nay có ba làng nghề sản xuất gốm sứ khá tập trung là: Tân Phước Khánh (Tân Uyên), Lái Thiêu (Thuận An) và Chánh Nghĩa (Thị xã Thủ Dầu Một) với hàng trăm cơ sở sản xuất, đa số chủ nhân các lò sản xuất gốm sứ là người Việt gốc Hoa.
Cũng như các làng nghề điêu khắc, sơn mài, làng nghề gốm sứ Bình Dương không chỉ làm ra của cải, đóng góp vào giá trị sự tăng trưởng kinh tế, mà còn là sự thể hiện nét văn hóa, lịch sử truyền thống của Bình Dương.
Trên đất Bình Dương hiện nay có ba làng nghề sản xuất gốm sứ khá tập trung là: Tân Phước Khánh (Tân Uyên), Lái Thiêu (Thuận An) và Chánh Nghĩa (Thị xã Thủ Dầu Một) với hàng trăm cơ sở sản xuất, đa số chủ nhân các lò sản xuất gốm sứ là người Việt gốc Hoa.

Du khách đang xem nghệ nhân vẽ lên gốm
 
Sự xuất hiện của các làng nghề gốm trên đất Bình Dương
Thời gian xuất hiện các lò gốm đầu tiên dẫn đến hình thành các làng nghề gốm, chưa có tài liệu nào khẳng định chính xác là tháng năm nào, nhưng chắc chắn các làng nghề gốm đã xuất hiện và tồn tại phát triển vào cuối thế kỷ 19. Tài liệu chứng minh cho việc này đã thể hiện rõ trong niên giám, địa chí Thủ Dầu Một do thực dân Pháp để lại có ghi lại rằng: “Cuối thế 19, đầu thế kỷ 20 ở Thủ Dầu Một còn có mỏ cao lanh, 10 lò gốm và nhiều mỏ đá” (Thủ Dầu Một đất lành chim đậu – Sở Văn hóa – Thông tin Bình Dương – NXB Văn Nghệ, 1999). Một vài sự kiện có thể đã diễn ra vào thời gian ấy gắn liền với sự hình thành các làng nghề gốm, có thể nêu ra như sau:
- Làng nghề gốm Tân Phước Khánh (xưa thường gọi Tân Khánh): có vị trí gần vùng mỏ đất sét, rừng rậm nhiều củi thuận lợi cho việc làm lò gốm. Vào năm 1867, miếu Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu (thường gọi là Chùa Bà) được xây dựng, trong số đồ cúng nhân ngày khánh thành “Chùa Bà” có cái lư hương và bình cắm hoa bằng gốm. Trên chiếc bình cắm hoa ngoài vẽ hình bát tiên, còn có ghi chữ Hán tự Tân Khánh Thôn. Điều này chứng tỏ rằng lò gốm ở Tân Khánh đã xuất hiện trước khi ngôi Chùa Bà được xây dựng.
- Làng nghề gốm Lái Thiêu: Theo nhà văn, nhà nghiên cứu Sơn Nam và qua ý kiến của một số nghệ nhân gốm sứ thì nghề gốm du nhập vào Lái Thiêu do những người Hoa theo chân các đoàn thuyền buôn vào, hoặc đi qua bằng đường bộ từ Móng Cái sang vùng Gia Định lập nghiệp. Trong số lưu dân người Hoa đó có người vốn là thợ lò gốm, thấy vùng Lái Thiêu thuận lợi cho việc sản xuất gốm nên họ định cư và mở lò sản xuất gốm (Nguyễn Phan Quang – lịch sử Bình Dương qua niêm giám và địa chí Thủ Dầu Một của thực dân Pháp – Thủ Dầu Một đất lảnh chim đậu). Trong một số hiệu lò nổi tiếng từ xưa tới ngày nay có chủ lò Kiến Xuân ông Vương Thế Hùng cho biết rằng lò gốm của ông ta được truyền nối từ đời ông cố nội tên Vương Tổ từ Phước Kiến sang đây lập nghiệp đến nay đã trải qua trên 140 năm.

- Làng nghề gốm Chánh Nghĩa: (xưa thường gọi là làng gốm Bà Lụa). Làng gốm Bà Lụa thuộc Phú Cường, huyện Tân Bình (dưới triều Nguyễn). Dưới thời Pháp thuộc làng gốm này thuộc làng Phú Cường, tỉnh Thủ Dầu Một. Chính ở giai đoạn này đã xuất hiện câu ca dao mà nhiều người Bình Dương đều biết:
“Chiều chiều mướn ngựa ông đô
Mượn ba chú lính đưa cô tôi về
Đưa về chợ thủ bán hủ bán ve
Bán bộ đồ chè, bán cối đâm tiêu.”
Căn cứ vào các chứng tích cụ thể còn lại ở làng gốm Chánh Nghĩa: thì vào khoảng những năm 1840 – 1850, có ba lò gốm xuất hiện đầu tiên ở đất này, sau đó nghề gốm dần định hình và phát triển thành làng nghề đông đúc cho đến ngày nay.
Một trong ba lò gốm đầu tiên xuất hiện đó là: lò Vương Lương mà dân gian thường gọi là lò “Ông Tía”. Lò được xây trên ngọn đồi thấp bên cạnh một con rạch rất thuận tiện cho việc vận chuyển sản phẩm ra sông Sài Gòn. Ông Vương Lăng (Út Lăng – 92 tuổi ông mất năm 1998), khi còn sống ông có cho biết rằng ông nội của ông tên gọi Vương Lương từ Phước Kiến sang, đã xây dựng nên dãy lò gốm này từ những năm 1845, hiện nay dãy lò gốm này đã có những người khác đang sản xuất kinh doanh. Đặc biệt, con rạch cạnh lò gốm đến nay vẫn còn. Tên con rạch ấy chính là tên gọi khác của lò gốm đầu tiên xuất hiện ở xứ này, đó là “Rạch Vàm ông Tía”.
Bến chở gốm
 
Ba làng nghề gốm ở Bình Dương có một nét chung là cùng xuất hiện vào khoảng giữa thế 19, chủ nhân cùng là những lưu dân người Hoa từ miền duyên hải Trung Hoa sang Việt Nam định cư, sinh sống (hiện nay cũng có khoảng vài chục lò gốm có chủ là người Việt, nhưng đa số chủ lò gốm vẫn là người Việt gốc Hoa).
Xuất phát từ nguồn gốc của các chủ nhân lò gốm đến Bình Dương từ các địa phương khác nhau, từ các tộc người khác nhau nên từ khi hình thành các làng nghề gốm người ta thường phân ra có ba trường phái gốm sứ như sau:
- Trường phái Quảng (đa số chủ lò gốc ở Quảng Đông): nét nổi bật của trường phái này là việc sử dụng men có nhiều màu sắc, hoa văn trang trí trên sản phẩm đẹp, cách điệu và trang nhã. Sản phẩm làm ra gồm có các loại tượng trang trí, các loại chậu hoa, đôn voi…
- Trường phái Triều Châu (chủ lò gốc Triều Châu đa số là người Hẹ): trường phái này thường sử dụng men màu xanh trắng, có nét vẽ đa dạng phong phú, hoa văn bình dị, các cảnh sơn thủy hữu tình, hình ảnh các con vật như: rồng, gà, cá hoặc cây tre, tùng, bách có tính nghệ thuật gợi cảm. Sản phẩm làm ra đa số là đồ gia dụng phục vụ cho nhu cầu trong đời sống con người hàng ngày như: chén, dĩa, tô, tộ, các loại bình cắm hoa..
- Trường phái Phúc Kiến (chủ nhân có gốc Phước Kiến): sản phẩm đa số sử dụng men màu nâu đen, da, lượn, hoa văn trang trí đơn giản, cách tạo hình sản phẩm đa dạng, dáng đẹp, sinh động. Các sản phẩm tiêu biểu cho trường phái này như: Ché đựng rượu, lu, vại chứa nước, các đồ dùng nhỏ như hủ, vịm, chậu.v.v…
Ngày nay các trường phái gốm sứ hầu như không còn có sự phân định rõ ràng như trước kia, bởi lý do có sự phát triển về công nghệ, thị trường yêu cầu, nên các trường phái đã có sự pha trộn, xâm nhập lẫn nhau. Các chủ cơ sở sản xuất nếu muốn tồn tại và phát triển, họ phải liên tục cải tiến mẫu mã đổi mới công nghệ, sản phẩm cạnh tranh, gắng với những mặt hàng nổi tiếng của Nhật Bản, Châu Âu là thương hiệu gốm sứ Minh Long, Cường Phát, Nam Việt. v.v…
Cảnh phơi lu khạp
 
Trong làng nghề sản xuất gốm, người ta có rất nhiều việc phải làm từ đầu cho đến khi hoàn thành sản phẩm. Nhưng có thể gom lại ở bốn khâu công việc chính yếu của nghề làng gốm là: “nhất liệu, nhì nung, tam hình, tứ trí”. Như vậy, khâu quan trọng nhất trong sản xuất gốm sứ là vấn đề chuẩn bị nguyên liệu, phối liệu đất sét cao lanh; khâu quan trọng thứ hai là nung sản phẩm; khâu quan trọng thứ ba là tạo hình, tạo dáng cho sản phẩm và thứ tư là trang trí, men màu, vẽ hoa văn trên sản phẩm. Ở đây chủ yếu nêu lên bản chất, thứ tự sự quan trọng, quyết định sự thành bại của sản phẩm, chứ không phải trình tự các công đoạn của quá trình làm ra sản phẩm gốm sứ.
Hiện nay, chủ trương chung của tỉnh đang định hướng quy hoạch xây dựng làng nghề ở vùng Thuận An, đồng thời thực hiện đề án quy hoạch, di dời các cơ sở trong vùng đông dân cư có ô nhiễm môi trường ra một vùng khác ở Tân Thành, huyện Tân Uyên.
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế tỉnh Bình Dương, việc quy hoạch lại làng nghề, vùng chuyên sản xuất gốm sứ để có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn là điều cần thiết, có như vậy mới phát triển và bảo tồn được ngành nghề truyền thống, gìn giữ được sắc thái riêng của Bình Dương, thu hút được sự quan tâm của khách du lịch trong và ngoài nước đến Bình Dương, nơi đất lành chim đậu.
About these ads

About Người Đến Từ Bình Dương

Một người bạn trong thế giớ ảo.
This entry was posted in Đất và Người Bình Dương and tagged , , , , , , , , , , , , , , . Bookmark the permalink.

13 Responses to Gốm Sứ Bình Dương – Tinh Hoa Gốm Sứ

  1. Tinh hoa gốm sứ Bình Dương

    Cùng với những ngành nghề như Sơn mài và Điêu khắc gỗ, nghề gốm sứ không những mang lại giá trị kinh tế cao và tạo công ăn việc làm cho hàng chục ngàn lao động, mà còn tạo nên một nét văn hóa truyền thống đặc sắc.

    Ông bà ta xưa có câu Thổ hành kim, ly tác bảo, có nghĩa là đất biến thành vàng, bùn biến thành báu vật để ca ngợi nghề làm gốm đồng thời đề cao tính sáng tạo của nghệ thuật làm gốm truyền thống đã và đang tồn tại từ xa xưa đến hôm nay.

    Bình Dương là địa phương có nguồn nguyên liệu phong phú cho nghề gốm sứ phát triển. Gần 200 năm hình thành và phát triển, nghề gốm sứ tại Bình Dương đã trải qua không ít những thăng trầm nhưng chưa bao giờ bị gián đoạn. Toàn tỉnh hiện có 83 mỏ nguyên liệu cho ngành gốm sứ với trữ lượng hơn 150 triệu tấn tập trung ở các huyện Thuận An, Tân Uyên và thị xã Thủ Dầu Một. Đây cũng là nơi đã hình thành nên 3 làng gốm là Chánh Nghĩa, Lái Thiêu và Tân Phước Khánh, làm cho Bình Dương nổi danh cả nước.

    Hiện nay, tỉnh Bình Dương có gần 300 cơ sở sản xuất gốm, mỗi năm cung cấp cho thị trường từ 130 đến 150 triệu sản phẩm các loại, đặc biệt là gốm sứ công nghiệp và gốm sứ mỹ nghệ. Người làm gốm nhiều hay ít phụ thuộc vào từng giai đoạn thịnh, suy của làng nghề. Có lúc, số người làm gốm chuyên nghiệp của tỉnh lên đến hơn 23.000 người.

    Nhiều người theo nghề làm gốm không chỉ đơn thuần chỉ vì cuộc mưu sinh mà còn vì lòng yêu nghề, say mê nghệ thuật hội họa, trang trí và tạo hình. Từ đời cha truyền cho đời con, và cứ thế, nghề làm gốm đã ăn sâu vào máu thịt họ từ lúc nào không biết. Nhiều gia đình đã sống trọn cuộc đời cho đất, cho nghề. Và đất cũng không phụ lòng người. Nhiều sản phẩm tinh xảo được nhào nặn từ bàn tay khéo léo của con người đã trở thành báu vật.

    Ông Lý Ngọc Minh, Giám đốc Công ty TNHH gốm sứ Minh Long, một nghệ nhân đã gắn bó cả cuộc đời với nghề làm gốm cho biết: “Chúng tôi luôn luôn quan niệm sản phẩm gốm là phần xác và hoa văn là phần hồn. Như vậy người làm gốm phải thổi hồn vào sản phẩm để nó sinh động, hài hòa. Chúng tôi luôn tìm tòi các nét đẹp văn hóa để đưa vào sản phẩm cho phù hợp. Hiện nay có nhiều bộ sưu tập mà chúng tôi đang làm, chưa trình làng”.

    Không riêng gì ông Lý Ngọc Minh, mà nhiều nghệ nhân đã từng gắn bó cả đời với nghề làm gốm tại Bình Dương vẫn đang ấp ủ, nung nấu và chưa bao giờ họ ngừng sáng tạo, ước mơ, cho dù nghề làm gốm cũng lắm nỗi nhọc nhằn.

    Một sản phẩm gốm được làm ra phải qua đến 7 khâu đoạn từ tìm kiếm cao lanh, phối liệu, tạo hình sản phẩm, chỉnh sửa rồi nhúng men, phun màu, vẽ dưới men hoặc làm màu trên men và nung chín sản phẩm. Mỗi khâu lại có những công đoạn nhỏ. Ví dụ như phối liệu gồm 3 công đoạn nhỏ là khai thác, vận chuyển, phối liệu, xối hồ để chắt lọc và nhào trộn đất sét tinh. Khâu tạo hình gồm 4 công đoạn nhỏ là tạo dáng sản phẩm, hong khô, nhúng men da và hong khô sản phẩm… Các công đoạn ấy hầu như đều được làm bằng tay, bằng kinh nghiệm được tích lũy của người thợ và đã trở thành bí quyết lưu truyền của mỗi gia đình, mỗi lò gốm sứ, được người thợ đúc kết cô đọng trong tám chữ: Nhất liệu, nhì nung, tam hình, tứ trí. Nghệ nhân Bùi Văn Giang, lò gốm Hưng Ký tại xã Tương Bình Hiệp, thị xã Thủ Dầu Một cho rằng: “Trong nghề gốm, khó nhất là khâu in”.

    Hoa văn trang trí trong sản phẩm gốm sứ Bình Dương với nhiều đề tài phong phú như Bát tiên quá hải, Thất Hiền, Phước-Lộc-Thọ, Mai – lan – cúc – trúc, Lưỡng long tranh châu, sư tử hí cầu và các tích cổ Trung Quốc trong Tây Du Ký, Thủy Hử, Tam Quốc Chí… Người thợ gốm Bình Dương cũng lấy hình ảnh thực trong thiên nhiên như con gà, con cua, con cá, con chim chào mào, hoa cúc, thảo mộc… để làm cảm hứng sáng tác trên sản phẩm gốm của mình, tạo nên những bức tranh gốm hồn nhiên, hấp dẫn cùng với nghệ thuật thể hiện màu sắc tương phản, sinh động.

    Hiện nay, khi gốm sứ trong nước đang bị cạnh tranh mạnh mẽ bởi các sản phẩm từ Trung Quốc và các nước khác trong khu vực, thì gốm sứ Bình Dương vẫn giữ được chỗ đứng trên thị trường trong và ngoài nước. Sản phẩm gốm của tình Bình Dương năm vừa qua đã thu được hàng ngàn tỷ đồng. Riêng công ty TNHH Gốm sứ Minh Long đạt doanh thu hơn 350 tỷ đồng.

    Anh Đặng Quang Tự, một khách hàng đang sinh sống tại xã Tương Bình Hiệp, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương nhận xét: “Các sản phẩm gốm sứ của Bình Dương có nhiều mẫu mã hợp với văn hóa của người Việt Nam. Chất lượng gốm cũng không thua kém so với các sản phẩm của các nơi khác nhập vào. Tôi là người rất ưa chuộng các sản phẩm gốm sứ của Bình Dương, nhất là dĩa, chén, ấm, ly uống nước”.

    Cùng với gốm Bát Tràng, Tràng An, Biên Hòa,… gốm sứ Bình Dương đã góp phần tạo ra các sản phẩm phục vụ nhân dân và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao.

    Từ hòn đất vô tri vô giác, qua bàn tay nhào nặn của các nghệ nhân, những sản phẩm gốm sứ đậm chất nghệ thuật đã ra đời. Các nghệ nhân nổi tiếng còn lại trong làng gốm sứ Bình Dương hiện nay như: Lý Ngọc Minh, Lý Ngọc Bạch, Từ Trung Hiếu, Vương Cẩm Uông, Dương Văn Long… vẫn như những con ong chăm chỉ, ngày đêm miệt mài, tìm tòi, sáng tạo và truyền nghề cho thế hệ mai sau. Để khẳng định vị thế của nghề gốm sứ địa phương, vào tháng 9 năm nay tỉnh Bình Dương sẽ tổ chức Festival gốm sứ với quy mô lớn nhằm quảng bá hình ảnh một Trung tâm sản xuất và bảo tồn gốm sứ lớn nhất cả nước./.

    Đức Trung -http://vov.vn

    Like

  2. ms.son says:

    bạn ơi, mình muốn mua các sản phẩm ly, bình hoa, dĩa….bằng sứ, mẫu mã dễ thương, giá rẻ, bạn biết nơi nào ở BD bán chỉ dùm mình, mình có xuống BD nhưng chỉ thấy đồ sứ xuất khẩu, mỹ nghệ giá cao, k thấy mặt hàng bình dân nào cả. Thanks bạn nhiều^^

    Like

    • Trên Bình Dương thì có nhiều lò gốm nhưng tập trung nhiều nhất ở Thuận An và Thủ Dầu Một , nếu bạn có qua Lái Thiêu – Thị Xã Thuận An thì lên Bình Nhâm tìm sẽ thấy khá nhiều lò , còn đi về Bình Dương thì dọc quốc lộ 13 thì cũng có nhiều cửa hàng dọc bên đường , tìm hàng bình dân thì ra chợ Lái Thiêu thì có hết đó chứ .

      Like

  3. Gốm Lái Thiêu

    * NGUYỄN THỊ HIỀN

    Những ngành nghề thủ công mỹ nghệ chính là nét đặc sắc trong truyền thống văn hóa của vùng đất Bình Dương. Thiên nhiên đã ưu đãi cho vùng đất này một tài nguyên rừng phong phú với nhiều loại gỗ quý hiếm và một nguồn khoáng sản đất sét, caolin rất dồi dào. Đây chính là những nguồn nguyên liệu quan trọng trong việc hình thành và phát triển các nghề thủ công mỹ nghệ như: Nghề điêu khắc gỗ, nghề sơn mài, nghề làm gốm…

    Bình Dương là một tỉnh có nguồn khoáng sản đất sét, cao lanh rất phong phú là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất gốm sứ và là nơi rất thuận tiện cho việc lưu thông buôn bán hàng hóa nên đã thu hút được nhiều nghệ nhân làm gốm từ vùng Cây Mai – Bến Nghé về đây sinh sống và lập nghiệp. Nhờ những điều kiện tự nhiên thuận lợi đó và con người có tính cần cù, sáng tạo ngành gốm sứ Sông Bé (Bình Dương) đã tồn tại và phát triển qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển ngành gốm sứ đã trải qua nhiều bước thăng trầm nhưng nhìn chung nó không bị lụi tàn mà còn có nhịp độ phát triển đi lên ngày càng nhanh.

    Những nghiên cứu về nguồn gốc của gốm sứ Bình Dương cho rằng cái nôi của gốm sứ Bình Dương ở vùng Tân Phước Khánh (Tân Uyên). Cũng có ý kiến cho rằng cái nôi của gốm sứ Bình Dương là ở vùng Chòm Sao (Búng) thuộc xã Hưng Định. Lại có ý kiến cho rằng ở Suối Sâu (Hòa Thạnh) huyện Thuận An mới chính là cái nôi của gốm sứ Sông Bé, Bình Dương chứ không phải hai địa điểm trên.

    Còn cái nôi (hay nơi khởi nguồn đầu tiên) của gốm sứ Bình Dương là ở đâu? Câu hỏi này cũng gây ra nhiều sự bàn cãi nhưng cho đến nay, cũng chưa xác định được chính xác là nó ở đâu. Hy vọng một ngày gần đây các nhà khoa học sẽ cho chúng ta câu trả lời chính xác về nguồn gốc của gốm sứ Bình Dương. Sau đây là một số tư liệu nói về nguồn gốc của gốm sứ Lái Thiêu (Bình Dương) mời bạn đọc cùng tham khảo.

    Ra đời vào khoảng giữa thế kỷ XIX, gốm Lái Thiêu là sự kết hợp giữa kỹ thuật làm gốm Nam Trung Hoa và truyền thống gốm Nam Trung bộ Việt Nam. Cùng với nguồn nguyên liệu tại chỗ gốm Lái Thiêu cùng với gốm Sài Gòn – Biên Hòa hình thành nên một tam giác gốm nổi tiếng của khu vực Nam bộ.

    Làng gốm Lái Thiêu xưa nay thuộc ấp Bình Đức, Bình Hòa, Long Thới, Hòa Long… thuộc thị trấn Lái Thiêu, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương. Cách TX.TDM 10km về phía bắc, cách TP.HCM 15km về phía Nam. Với hệ thống giao thông thuận lợi cả về đường bộ lẫn đường thủy, nên ngay từ xa xưa vùng đất Lái Thiêu rất thuận lợi cho việc thông thương buôn bán với các nơi khác trong khu vưc.

    Vùng đất Lái Thiêu cũng như Bình Dương nói chung lượng khoáng sản rất phong phú, đặc biệt là đất sét, cao lanh. Được sự ưu đãi của thiên nhiên với nhiều trái cây ngon như sầu riêng, măng cụt, mít tố nữ, chôm chôm… ngoài ra vùng đất này còn được biết đến với các ngành nghề thủ công truyền thống như đan lát, chạm khắc gỗ, vẽ tranh trên kính mà tiêu biểu nhất là nghề gốm sứ. Nó đã trở nên quen thuộc với người tiêu dùng trong nước và nước ngoài. Vì thế, không phải ngẫu nhiên trước kia người ta nói đến gốm Sông Bé tức là nói đến gốm Lái Thiêu, mặc dù từ xa xưa vùng đất Sông Bé (Bình Dương) đã hình thành 3 khu vực sản xuất gốm ngoài Lái Thiêu còn có làng gốm Chánh Nghĩa và làng gốm Tân Phước Khánh.

    Theo “Địa lý tự nhiên của tỉnh Bình Dương” thì nghề gốm Lái Thiêu có từ những năm 1850 của thế kỷ thứ XIX trở về trước với lớp cư dân của người Hoa đến lập nghiệp tại Bình Nhâm, Tân Thới khi đó các lò gốm dựng dọc theo bờ rạch Tân Thới với việc sử dụng các triền đồi để xây dựng lò gốm theo nguyên tắc gió tự nhiên. Trong giai đoạn đầu sản phẩm gốm Lái Thiêu chủ yếu ở các lò thuộc trường phái của người Phước Kiến như các loại lu, khạp, hủ, chậu, nồi, siêu nấu nước… men màu đen (lu dùng để đựng đường cho các lò đường lúc bấy giờ), một số lò nổi tiếng ngày xưa như lò Anh Ký, Quảng Thái Xương, Kiến xuân, Liên Hiệp Thành đến nay vẫn còn tồn tại và phát triển.

    Những người lớn tuổi trong thân tộc của lò gốm Kiến Xuân kể lại rằng: Cách đây khoảng 145 năm đến 155 năm có ông Vương Tô người Phước Kiến đã từ Trung Quốc qua Gia Định sau đó đến Lái Thiêu mở lò gốm lập nghiệp đầu tiên, nơi này giờ thuộc ấp Bình Đức, xã Bình Nhâm, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương. Ông Vương Tô là ông cố nội của của ông Vương Thế Hùng chủ lò gốm Kiến Xuân theo lối cha truyền còn nối. Bà con trong thân tộc cho rằng lò gốm Kiến Xuân đã xây dựng và duy trì tới bây giờ với mặt hàng truyền thống là lu, khạp… đây là nơi xuất hiện đầu tiên của ngành gốm sứ Bình Dương.

    Bên cạnh đó, những người Hoa gốc Quảng Đông ở Tân Phước Khánh giới thiệu rằng lò gốm Thái Xương Hòa là cơ sở gốm lâu năm nhất ở Bình Dương. Tục truyền rằng chú Mầu Quảng Đông đến Tân Phước Khánh đã lâu và lập nên lò gốm sứ cũng từ xưa, xưa lắm rồi. Họ bảo rằng chú Mầu đã cúng Chùa Bà cái lư hương và chiếc bình hoa làm di vật trong năm 1867 lúc Chùa Bà làm lễ khánh thành. Hiện nay cái lư hương vẫn còn song không có dấu hiệu là sản phẩm của Tân Phước Khánh, riêng cái bình hoa vẽ hình bát tiên có in chữ “Tân Khánh Thôn”. Hiện vật tuy ít nhưng chứng tỏ vùng Tân Phước Khánh cũng là nơi sản xuất gốm từ rất lâu đời.

    Do vậy, từ những cứ liệu trên về vùng đất Lái Thiêu, ta thấy rằng đây là vùng đất nằm ở vị trí hết sức thuận lợi trong việc giao thương với TP.HCM (Sài Gòn – Gia Định xưa) cách trung tâm gốm sứ Cây Mai 15km. Bên cạnh đó, Lái Thiêu lại có cả đường thủy và đường bộ thuận lợi để xuất nhập nguyên, nhiên liệu và sản phẩm. Đó dường như là một lợi thế mà những người lập ra trung tâm này đã nhận thấy vị trí đặc biệt quan trọng đó.

    Nếu so sánh Lái Thiêu với vùng Chánh Nghĩa (TX.TDM) hay vùng Tân Phước Khánh (Tân Uyên) là vùng cư dân hình thành chậm hơn Lái Thiêu, lại cách xa trung tâm Sài Gòn – Gia Định. Nếu muốn đến Sài Gònđều phải đi qua Lái Thiêu… qua đó ta thấy rằng Lái Thiêu là vùng thích hợp hơn cả (thiên thời, địa lợi, nhân hòa) cho việc phát triển ngành gốm sứ đương thời.
    Như vậy, mặc dù còn thiếu vắng nhiều tư liệu song chúng ta có thể hình dung được rằng, nghề gốm Lái Thiêu đã có từ lâu đời, ít nhất cũng phải từ nửa đầu thế kỷ thứ XIX trở lại đây và do người Hoa sáng lập nên, lúc đầu là trường phái Phúc Kiến sau đó gốm Lái Thiêu còn có sự tổng hòa của 3 trường phái gốm Nam Trung Hoa đó là:

    Trường phái Quảng Đông (lò Quảng) chuyên sản xuất các loại sản phẩm tượng trang trí, các loại chậu hoa, đôn voi nhiều loại, loại to thường dùng để ngồi, loại nhỏ để trang trí nội thất. Nét nổi bật của trường phái này là sử dụng men nhiều màu, hoa văn thường cách điệu, đẹp và trang nhã.

    Trường phái Triều Châu (lò Tiều) chuyên sản xuất gốm gia dụng, phục vụ cho nhu cầu hàng ngày như: chén, đĩa, tô và các loại độc bình dùng để cắm hoa… trường phái này thường sử dụng men xanh, trắng, nét vẽ đa dạng phong phú. Họ chú ý vẽ hoa văn bình dị, cảnh sơn thủy hữu tình, hình ảnh các con vật như con rồng, con gà; cây cối như tùng, cúc, trúc… có tính nghệ thuật gợi cảm.

    Trường phái Phúc Kiến (lò Phúc Kiến) chuyên sản xuất chóe đựng rượu, lu vại đựng nước, các đồ dùng như hủ, vịm… trường phái này thường sử dụng men màu đen, da lươn, hoa văn trang trí sinh động và tạo dáng đẹp mắt.

    Ngày nay, các trường phái gốm sứ hầu như không còn sự phân định rõ ràng như trước kia, bởi lý do có sự phát triển về công nghệ, thị trường yêu cầu, nên các trường phái đã có sự pha trộn, xâm nhập lẫn nhau. Các chủ cơ sở sản xuất nếu muốn tồn tại và phát triển, họ phải liên tục cải tiến mẫu mã đổi mới công nghệ, để sản phẩm cạnh tranh được với những mặt hàng nổi tiếng của Nhật Bản, Trung Quốc, châu Âu…

    Những thập niên đầu thế kỷ XX với sự bổ sung của những thợ gốm Sài Gòn, gốm Lái Thiêu phát triển cực thịnh, sản phẩm không chỉ tiêu thụ ở khu vực Nam bộ mà còn được tiêu thụ khắp cả nước. Nổi tiếng lúc bấy giờ là các sản phẩm tô, đĩa vẽ hoa văn hình con gà trống với tên gọi “bát đĩa con gà” do lò Vinh Phát, Đào Xương, Duyệt An… sản xuất.

    Đến thập niên 1950-1960 của thế kỷ XX, bên cạnh đồ gia dụng thông thường gốm Lái Thiêu bắt đầu sản xuất gốm mỹ thuật, gốm trang trí như các loại tượng trang trí, đôn voi, chậu hoa mang nhiều yếu tố nghệ thuật, phù hợp với xu thế thẩm mỹ và hiện đại. Sản phẩm lúc này không chỉ tiêu thụ ở trong nước mà cònđược xuất khẩu sang các nước Liên Xô và châu Âu.
    Những năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, lúc này gốm Lái Thiêu bị hụt thị trường, do thị trường tại các nước tư bản không còn, thị trường trong nước có nhiều biến động, mặt khác, sản phẩm gốm sứ Lái Thiêu không cạnh tranh được với hàng gốm sứ Trung Quốc nhập khẩu nhiều với giá rẻ cũng như không cạnh tranh nổi với các mặt hàng gia dụng bằng nhựa, melamin… đây là thời kỳ khó khăn nhất của nghề gốm Lái Thiêu. Trước những thách thức đó buộc các cơ sở sản xuất gốm phải cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ tiên tiến cũng như cải cách phương thức quản lý và kinh doanh sao cho có hiệu quả, cái yếu của gốm Lái Thiêu là ở thiết bị sản xuất quá cũ kỹ, lạc hậu, kinh nghiệm tiếp thị, tìm kiếm thị trường quá hạn chế, mẫu mã, chủng loại đơn điệu, chất lượng sản phẩm thấp, ít chú ý đến xây dựng thương hiệu và không chú trọng đến thành tố mỹ thuật – trang trí. Song chỉ mấy năm sau ngày giải phóng nghề gốm Lái Thiêu bắt đầu ổn định và phát triển trở lại. Nhà nước đã có những chính sách khuyến khíchđể nghề gốm phát triển, từ giai đoạn này thị trường gốm Lái Thiêu cũng như các làng gốm khác trong khu vực bắt đầu có mặt ở một số nước xã hội chủ nghĩa, đây là một thị trường mới, rất hấp dẫn đối với nhiều nhà sản xuất. Thời gian này, các lò gốm ở Bình Dương lao vào cuộc cạnh tranh làm đồ gốm xuất khẩu trong bối cảnh khác trước. Do đó, việc phân công theo các chi phái phương tộc cũng bị phá vỡ. Mỗi lò tự lo việc tìm đơn đặt hàng và lo nguyên vật liệu và nhân công. Chính vì vậy, trong giai đoạn này (1991) không những tăng về số lượng cơ sở lò sản xuất đồ sành sứ mà còn có không ít những cải tiến về kỹ thuật mẫu mã cũng như có những sáng kiến mới về màu men, kỹ pháp và đồ án trang trí… nổi bật trong thời kỳ này là các lò Bình Minh, Bạch Yến (Thủ Dầu Một), Cường Phát, Minh Long (Thuận An) và Hiệp Ký (Tân Phước Khánh). Những nỗ lực đổi mới của một số cơ sở sản xuất gốm tiên phong này đã khai mở con đường cho gốm Lái Thiêu bước vào thời đại mới.

    Đối với gốm Cây Mai (Sài Gòn xưa) và gốm Biên Hòa – Đồng Nai có hình dáng thanh thoát, nhẹ nhàng, tươi mát thì gốm Lái Thiêu lại có dáng khỏe khoắn, đậm đà, mộc mạc. Sự khác biệt đó không những không làm giảm giá trị của gốm Lái Thiêu mà còn làm tăng thêm tính hấp dẫn và sự phong phú về mẫu mã, hình dáng của các sản phẩm gốm vùng Đông Nam bộ, chính sự khác biệt này càng làm tăng thêm tính độc đáo của gốm Lái Thiêu.

    Gốm Lái Thiêu tuy ra đời muộn nhưng đã nhanh chóng hòa nhập và ngày càng phát triển mạnh. Người thợ gốm Lái Thiêu đã lấy hình ảnh thực của vùng đất Nam bộ như con gà, con cua, con cá, cây chuối, hoa cúc, thảo mộc… để làm cảm hứng trên sản phẩm gốm của mình, tạo nên những bức tranh gốm hồn nhiên, hấp dẫn cùng với nghệ thuật thể hiện màu sắc tương phản, sinh động bút pháp điêu luyện càng làm cho người sử dụng yêu thích và mến mộ.

    Đến nay, tuy có chịu ảnh hưởng chút ít của gốm nước ngoài về một số thể loại nhất định nhưng chủ yếu nghề gốm Lái Thiêu vẫn giữ được truyền thống, giữ được những sắc thái riêng của mình trong quá trình tồn tại và phát triển đến ngày hôm nay. Vì vậy, các sản phẩm làm ra luôn tạo được chỗ đứng trên thị trường cũng như góp phần làm phong phú thêm các thể loại gốm trong khu vực Đông Nam bộ nói riêng và Việt Nam nói chung.
    Tuy nghề gốm Lái Thiêu đã phát triển, nhất là kể từ khi Nhà nước có chính sách đổi mới, có chủ trương phát triển ngành nghề truyền thống, nhưng vẫn còn gặp những khó khăn nhất định như thiếu vốn đầu tư, chưa được sự quan tâm nhiệt tình của lãnh đạo cấp trên, thiếu thợ làm gốm có tay nghề cao… Để tồn tại và phát triển được trong giai đoạn hiện nay cần có sự quan tâm hơn nữa của các cấp chính quyền, cũng như có chính sách hỗ trợ vốn, đào tạo đội ngũ lớp thợ trẻ năng động có tay nghề cao…

    Theo Sở Công nghệ Bình Dương (17-7-2007): Hiện nay có 252 cơ sở sản xuất gốm sứ thuộc khu vực Tân Phước Khánh (Tân Uyên), Lái Thiêu (Thuận An) và Chánh Nghĩa (Thủ Dầu Mật) gây ô nhiễm, thải khói bụi, rơi vãi đất đá, nguyên liệu, ảnh hưởng đến cuộc sống người dân. Cho nên, UBND tỉnh Bình Dương đã có chủ trương từ nay đến năm 2013 phải di dời các cơ sở gốm lên vùng Tây Bắc, Tân Uyên và Bến Cát.

    Việc ô nhiễm môi trường là một mặt, mặt khác là các sản phẩm gốm sứ truyền thống làm ra từ các công đoạn sản xuất thủ công không cạnh tranh được trên thị trường hiện nay là vấn đề bất cập của gốm Lái Thiêu. Năm 2004, UBND tỉnh Bình Dương ra Quyết định số 37/2004/QĐ-UB về việc thành lập Khu công nghiệp gốm sứ tại Đất Cuốc I (ấp 5, xã Tân Thành, huyện Tân Uyên) với diện tích quy hoạch 208 ha, nhằm đáp ứng đủ nhu cầu di dời các cơ sở gốm ở trong tỉnh về đây. Theo đánh giá của cơ quan, việc chọn địa điểm này để thực hiện dự án di dời vì nó gắn liền với vùng nguyên vật liệu tại chỗ như đất đai, củi đốt và cách vùng dân cư, bảo đảm môi trường sống cho người dân. Đồng thời với chủ trương di dời các lò gốm này, tỉnh cũng khuyến khích các doanh nghiệp chủ động hiện đại hóa đồng bộ dây chuyền sản xuất từ chế biến nguyên liệu, thiết kế mẫu mã, lò sấy, lò nung, nhà xưởng, hệ thống xử lý chất thải. Đặc biệt, khuyến khích xây dựng là nung đốt bằng gaz, than hóa khí, dầu, dần dần chấm dứt việc dùng củi đốt lò.

    Việc quy hoạch Cụm công nghiệp gốm sứ Đất Cuốc I là nhằm phát triển ngành gốm Lái Thiêu truyền thống theo hướng kết hợp công nghệ tiên tiến với truyền thống gốm thủ công để phù hợp với xu thế thời đại và giữ gìn được tinh hoa nghệ thuật truyền thống được hình thành hơn 150 năm qua. Đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh của gốm sứ Bình Dương so với sản phẩm gốm sứ trong và ngoài nước nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, mang lại hiệu quả kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động và bảo vệ được môi trường.

    Nói chung, trong hơn 150 năm tồn tại, gốm Lái Thiêu không chỉ phát triển mạnh về số lượng lò/ cơ sở sản xuất mà còn phát triển về chủng loại sản phẩm, mẫu mã cũng như kỹ thuật chế tác. Tuy nhiên, một số lò gốm không chịu cải tiến mẫu mã cùng với những hạn chế của các chủ trương chính sách nghề gốm Lái Thiêu có nhiều biến động. Hy vọng khi có chủ trương quy hoạch nghề gốm tập trung về một vùng thì nghề gốm Lái Thiêu sẽ tìm được một hướng đi mới cho mình.

    Tài liệu tham khảo

    1. Phan An (1999), “Về các thủ công Bình Dương” Thủ Dầu Một – Đất lành chim đậu. NXB Văn nghệ TP.HCM.
    2. Nguyễn Xuân Dũng (1997), Làng nghề gốm Lái Thiêu, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương, Luận văn thạc sĩ Văn hóa học, trường Đại học Văn hóa Hà Nội.
    3. Nguyễn An Dương (1992), Gốm sứ Sông Bé, NXB Tổng hợp Sông Bé.
    4. Nguyễn Đình Đầu (1998), Địa lý hành chính tỉnh Bình Dương qua các thời kỳ, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Thủ Dầu Một – Bình Dơng 300 năm hình thành và phát triển.
    5. Huỳnh Ngọc Trảng (chủ biên), Gốm Lái Thiêu, Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM, năm 2009.

    http://www.sugia.vn

    Like

  4. Bộ sưu tập đồ gốm và những mảnh gốm trong di tích Cù lao Rùa Tân Uyên, Bình Dương

    VĂN THỊ THÙY TRANG

    Bình Dương ngày nay, là vùng đất hình thành và phát triển 310 năm trong tiến trình hình thành và phát triển về phía Nam của đất nước Việt Nam. Vùng đất đã lưu giữ và bảo tồn phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống, góp phần quan trọng kinh tế – xã hội của tỉnh, trong đó có nghề gốm đã làm nên thương hiệu Bình Dương rạng ngời.

    Nhìn về quá khứ, qua tư liệu khảo cổ học, Bình Dương là vùng đất có nền văn hóa cổ gắn liền với lịch sử phát triển của vùng đất Đông Nam bộ, hiện nay đã phát hiện nhiều di tích khảo cổ có giá trị cao, làm phong phú cho nền di sản văn hóa của tỉnh nhà nói chung và khu vực Đông Nam bộ nói riêng.

    Di tích khảo cổ Cù lao Rùa, thuộc xã Thạnh Hội, huyện Tân Uyên, có niên đại 3.500 – 3.000 năm cách ngày nay. Đặc biệt, Cù lao Rùa một di tích có bộ sưu tập về những di vật đồ gốm và những mảnh gốm rất đa dạng và phong phú về chủng loại như: cà ràng, bi gốm, dọi se sợi, gốm tròn, bát bồng, nồi, chậu, đĩa chân cao, tô lớn, âu, hủ… Những mảnh thu nhận được từ các hố khai quật, qua phân loại có 85.901 mảnh gốm, riêng gốm chôn theo mộ táng có 6.791 mảnh. Việc phân loại đã làm rõ những đặc trưng của gốm Cù lao Rùa như: loại hình, kích thước, chất liệu, màu sắc, gốm tô màu, xương gốm và hoa văn trang trí.

    Đồ gốm Cù lao Rùa có chất liệu và màu sắc xương gốm phân biệt giữa các màu sắc khá rõ rệt như: xương gốm có màu đen chiếm tỷ lệ 14,29% chủ yếu là loại gốm xốp, trọng lượng nhẹ, thành phần bã thực vật được pha chế nhiều hơn so với các loại khác, sản phẩm đa phần đã bị cháy và bị méo mó; Màu nâu đen chiếm tỷ lệ 57,24% nhiều nhất trong bộ sưu tập mảnh gốm vỡ, chủ yếu là sét pha cát và một ít võ nhuyễn thể nghiền mịn có màu nâu đen, bã thực vật được đưa vào trong thành phần chất liệu tạo phôi gốm, đây cũng là chất liệu của các sản phẩm gia dụng như nồi bình vò có kích thước trung bình; Màu xám đen 8,25% loại gốm này có tỷ lệ sét pha cát thích hợp, nhưng bã thực vật được trộn vào trong xương gốm tương đối nhiều, khi gốm qua nhiệt độ cao thì các bã thực vật cháy làm cho xương gốm có màu xám đen, gốm nhẹ đây là chất liệu của các loại nồi, đĩa và bát bồng chân cao có kích thước nhỏ; Màu nâu đỏ 11,03%; Màu đỏ 4,45%; và màu xám trắng 4,76%.

    Sưu tập mảnh gốm thu được trong tầng văn hóa Cù lao Rùa khá đặc biệt với nhiều màu sắc áo gốm (mà sau này trong gốm hiện đại người ta gọi là màu men phủ bên ngoài của xương gốm) khác nhau tạo nên sự đa dạng trong bộ sưu tập. Màu áo có khi tô cả bên trong và bên ngoài như cả hai mặt tô màu đỏ, màu đen, xám đen, xám vàng, nâu đỏ… màu được phủ lên bề mặt gốm làm cho mặt gốm láng và màu sắc gốm đều màu, có những hiện tượng trên mặt gốm được chải những đường cong tròn cách đều nhau thật mịn, khi phủ màu lên tạo nên những vùng đậm nhạt lăn tăn. Hiện tượng này thường thấy trên những chiếc Bát bồng chân cao, các nồi có kích thước lớn.

    Bộ sưu tập gốm và những mảnh gốm trong tầng văn hóa của các hố khai quật Cù lao Rùa. Đặc biệt, tìm hiểu về góc độ thẩm mỹ, trình độ kỹ thuật tạo hoa văn trên đồ gốm của người tiền sử Bình Dương, ta thấy có 3 thể loại cơ bản nhất là: văn chải, văn khắc vạch và các đồ án hoa văn trang trí.

    Văn chải: đây là loại hoa văn trang trí mang tính truyền thống trong các di tích thời tiền sử Đông Nam bộ, kỹ thuật tạo văn chải bằng cách sử dụng loại que nhiều răng như răng lược chải cắt chéo nhau, văn mịn, nét chải sắc, cấu thành từng mảng xuôi từ trên xuống, thường được trang trí trên bụng và đáy của những dụng cụ đun nấu.

    Văn khắc vạch: bằng một dụng cụ khá đơn giản là một que bút nhọn, người thợ gốm khắc lên bề mặt những đường song song nhau, những đường sóng nước trên vai, trên bụng những chiếc bình vò, nồi gốm, trên nền văn chải. Loại hoa văn này mang ý nghĩa kỹ thuật nhiều hơn là nghệ thuật khi được kết hợp với các đồ án hoa văn khắc vạch đơn giản, các tiêu bản gốm trở nên đẹp hơn và đa dạng hơn.

    Qua tư liệu nghiên cứu các di tích khảo cổ tiền sử Đông Nam bộ, những sưu tập đồ gốm thu được trong các hố khai quật thì các nhà nghiên cứu khảo cổ có chung một nhận định là: “Gốm khu vực này mang tính thực dụng nhiều hơn chứ không cầu kỳ hoa mỹ như đồ gốm phát hiện được trong các di tích tiền sử khu vực đồng bằng Bắc bộ như Phùng Nguyên, Đồng Đậu… Nhưng qua bộ sưu tập gốm di tích Cù lao Rùa, lần đầu tiên khảo cổ khu vực Đông Nam bộ đã thu được bộ sưu tập gồm nhiều mảnh gốm có các đồ án hoa văn trang trí được chia làm 24 motif khác nhau.

    Motif 1 – hoa văn trổ lỗ vuông

    Motif 2 – hoa văn hình sin

    Motif 3 – hoa văn hình răng cưa

    Motif 4 – hoa văn hình chữ S nằm ngang nối tiếp nhau

    Motif 5 – hoa văn sóng nước

    Motif 6 – hoa văn chấm dãi hình digdag

    Motif 7 – hoa văn trổ lỗ

    Motif 8 – hoa văn một băng khống chế với một chỉ nổi và chìm

    Motif 9 – hoa văn chấm dãi theo chiều dọc

    Motif 10 – hoa văn hình thoi

    Motif 11 – hoa văn in chấm vỏ sò

    Motif 12 – hoa văn trổ lỗ hình dấu phẩy

    Motif 13 – hoa văn sóng nước trong khuôn hoa văn hình vành khăn

    Motif 14 – hoa văn băng tam giác nối tiếp

    Motif 15 – hoa văn đắp nổi

    Motif 16 – hoa văn sóng nước trên nền khắc vạch

    Motif 17 – hoa văn những đường digdag đối đỉnh

    Motif 18 – hoa văn cung tròn với những tam giác

    Motif 19 – hoa văn hình những ô bàn cờ không đều nhau

    Motif 20 – những hình tam giác vuông có cạnh hông song song

    Motif 21 – hoa văn những con số 8 nằm ngang nối nhau

    Motif 22 – hoa văn những cung dạng hình bán nguyệt

    Motif 23 – hoa văn những vòng tròn xoáy trên ốc đối đỉnh

    Motif 24 – hoa văn những cánh chim bay.

    Nhìn chung các loại motif hoa văn trên gốm đều có mặt trên các tầng văn hóa di tích, nhưng có hiện tượng đặc biệt là các motif hoa văn mang tính mỹ thuật cao đều giảm dần về số lượng. Các motif hoa văn của lớp trên cũng giảm dần độ phức tạp kể cả những loại văn đơn giản như khắc vạch, văn chải có vẻ nhuyễn hơn những nét vẽ mờ và không sắc sảo, tinh tế như các lớp dưới.

    Bên cạnh sự thoái hóa về motif hoa văn còn có kiểu dáng, chủng loại màu sắc. Từ lớp 4 trở lên các loại gốm được tô màu đỏ tươi, còn lại với một tỷ lệ rất thấp, việc miết láng bề mặt gốm cũng không còn chú trọng như gốm phát hiện được ở giai đoạn sớm. Độ dày xương gốm, độ cứng cũng giảm dần. Lý giải sự thay đổi này có thể nhiều nguyên nhân như sản phẩm có thể không được mang đi trao đổi với các cộng đồng cư dân lân cận do họ đã làm chủ được kỹ thuật sản xuất hoặc chú trọng những sản phẩm sản xuất ưu việt hơn như đồ đồng trong thời đại kim khí hoặc cộng đồng cư dân tăng dân số trong giai đoạn này, nhu cầu sử dụng cũng tăng theo, do đó sản phẩm làm ra cũng nhanh hơn, các công đoạn cấu tạo sản phẩm cũng giảm đi và thời gian cho một sản phẩm cũng sẽ ngắn hơn.

    Trong bộ sưu tập gốm di tích Cù lao Rùa còn có rất nhiều mảnh gốm màu như: có màu đỏ trên cả hai mặt, có mặt ngoài đen mặt trong có màu đỏ tươi, có nàu nâu đen ở mặt ngoài mặt trong có màu đỏ tươi, có mặt ngoài màu đỏ tươi mặt trong màu xám, có mặt ngoài màu đỏ tươi mặt trong có màu nâu đỏ… Gốm màu ở đây là loại gốm phủ màu trước khi nung. Men màu thường được phủ cả trong và ngoài phần miệng, phần vai và có cả trong lòng sản phẩm. Để tạo màu trên bề mặt gốm, đồ gốm được xử lý lớp mặt thật kỹ khi tạo phôi gốm làm cho mặt gốm khá đều màu, bề mặt gốm còn chải thật mịn hoặc vết tích của bàn xoay để lại trên mặt phôi gốm, khi men được phủ lên mặt gốm gợn lên những đường đậm nhạt lăn tăn khá mỹ thuật. Hiện tượng này thường gặp trên các nồi gốm nhỏ, trên chiếc bát bồng chân cao…

    Trên cơ sở số lượng đồ gốm phát hiện trong tầng văn hóa của di tích Cù lao Rùa với những đặc điểm nổi bật về trang trí họa tiết hoa văn, kỹ thuật tô màu trên gốm. Đây là bộ sưu tập có giá trị về mặt khoa học làm thay đổi một số nhận thức trước đây về kiểu dáng và hoa văn gốm trong các di tích tiền sử Đông Nam bộ.

    Đặc biệt, khu di tích Cù lao Rùa có một không gian sống riêng biệt – dạng cù lao, chắc chắn rằng đồ gốm ở đây được sản xuất tại chỗ, với khối lượng đồ gốm đa dạng về loại hình và phong phú về motif trang trí thì ngoài việc phục vụ cho nhu cầu tại chỗ còn có thể được dùng để trao đổi.

    Bộ sưu tập gốm và những mảnh gốm trong di tích khảo cổ Cù lao Rùa đặc biệt nghiên cứu về thể loại gốm như: chất liệu, màu sắc, loại hình và hoa văn trang trí… sẽ góp phần quan trọng vào việc nghiên cứu sự ra đời và hình thành nghề gốm thủ công truyền thống trên đất Bình Dương, tồn tại và phát triển từ thời tiền sử đến ngày nay.

    Gìn giữ và khai thác phát huy những giá trị lịch sử- văn hóa thời tiền sử, góp phần vào phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội của tỉnh. Một trong những di tích góp phần vào những thành quả nghiên cứu khoa học là di tích khảo cổ Cù lao Rùa đã được UBND tỉnh Bình Dương công nhận là di tích cấp tỉnh vào ngày 3-11-2008. Hiện Ban quản lý di tích và danh thắng đang trình hồ sơ cho Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Cục Di sản văn hóa công nhận di tích cấp quốc gia.

    VĂN THỊ THÙY TRANG
    http://www.sugia.vn

    Like

  5. “Gốm Chú Tía” Bà Lụa và những đặc điểm khác biệt của gốm

    ĐOÀN THANH TUYỀN (Bảo tàng Bình Dương)

    Gom Chu Tia

    Khi nói đến những ngành nghề thủ công truyền thống của Bình Dương, người ta không thể không nhắc đến nghề làm gốm. Gốm là một phần không thể thiếu được nếu không nói là rất quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần hàng ngày của cư dân Nam bộ. Do những nguyên nhân và hệ lụy của lịch sử, văn hóa truyền thống của dân tộc, vừa thâu hóa những dòng chảy văn hóa từ bên ngoài, đó là tính năng động của vùng đất này, biểu hiện trên tất cả các lĩnh vực văn hóa vật chất và tinh thần. Nghề sản xuất gốm là một ví dụ điển hình.

    Lò gốm “Chú Tía” ở Bà Lụa, TX.TDM được ra đời vào những năm cuối thế kỷ XIX có tên gọi chính thức là lò Vương Lương. Lò do hai anh em người Phúc Kiến có tên là: Vương Lương và Vương Gia lập ra. Lò bắt đầu hoạt động từ cuối thế kỷ XIX và tồn tại cho đến ngày nay.

    Vương Lương và Vương Gia tập hợp công nhân khai thác đất tại Chánh Lưu. Đất nguyên liệu ở đây phần nhiều là đất đen, có nhiều tạp chất. Thỉnh thoảng mới tìm được một ổ đất trắng chất lượng tốt hơn, dù vậy vẫn không sao so sánh được với đất của Vĩnh Trường, Tân Uyên (đây là loại đất tốt nhất thời bấy giờ). Gốm Chú Tía mang đậm dấu ấn của gốm Triều Châu bởi vì quê hương của hai ông Vương Lương và Vương Gia tuy ở tại Phước Kiến nhưng cũng giáp ranh với phủ Triều Châu. Vương Lương là người lớn tuổi trong nghề gốm lại tập hợp được nhiều thợ nung, thợ men, thợ vẽ cùng quê và sử dụng men nội địa. Riêng thợ vẽ thì có lẽ ông sử dụng trẻ con, phụ nữ mới vào nghề nên nét vẽ còn thô phác, chữ viết thì nhiều chỗ còn vụng về, thiếu nét. Tay nghề Vương Lương khá giỏi, lại là người chững chạc có uy tín vì thế mà được bọn đàn em gọi là “Tía” (Tía: có nghĩa là cha – đọc theo âm của Triều Châu). Do đó, dân gian người ta gọi lò gốm của ông là lò “Gốm Chú Tía”.

    Lò “Gốm Chú Tía” bắt đầu hoạt động từ cuối thế kỷ XIX và tồn tại cho đến ngày nay đã là thế hệ thứ tư của gia đình vẫn còn làm chủ lò. Thế nhưng “Gốm Chú Tía” đích thực là những sản phẩm ra đời từ những sản phẩm ra đời từ 1930-1935. Gốm Chú Tía có những đặc trưng riêng so với những lò gốm khác ở vùng đất Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, Biên Hòa hoặc Gốm Cây Mai. Gốm Chú Tía thường được tráng men trong hoặc men trắng đục, vừa mới ra khỏi lò thì đã rạn, lâu ngày đường rạn được ngã sang màu hồng trông thật là cổ kính. Do thợ luyện không kỹ nên thỉnh thoảng còn lẫn lộn một vài những hạt oxyt sắt, do đó khi nung nếu gặp nhiệt độ cao thì nóng chảy thành những bớt son, tuy làm giảm chất lượng sản phẩm, nhưng đó là những đặc điểm không lẫn lộn được với bất kỳ một loại gốm nào khác.

    Lò Gốm Chú Tía hiện đang tồn tại và từng có mặt trên đất Thủ Dầu Một, Bình Dương, những sản phẩm ấy đã đi vào đời sống dân gian rất sâu rộng trong suốt 2 thế kỷ qua, có thể nói rằng: cùng với những thành tố văn hóa khác, Gốm Chú Tía đã góp phần đi vào lịch sử văn hóa của vùng đất Bình Dương nói riêng và miền đất Nam bộ nói chung. Là một trong những lò gốm tiêu biểu của ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống của tỉnh nhà.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1. Gốm sứ Sông Bé, Nxb tổng hợp Sông Bé – 1990.

    2. Địa chí Sông Bé, Nxb tổng hợp Sông Bé – 1991.

    3. Gốm Lái Thiêu, Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM – 2009.

    http://www.sugia.vn

    Like

  6. Các bạn quan tâm có thể tải thêm File PDF về Gốm Thành Lễ .

    Link : http://nguoidentubinhduong.files.wordpress.com/2011/09/vai-net-ve-gom-thanhle.pdf

    Like

  7. Pingback: How To Treat Yeast Infection

  8. Pingback: Angry Bird Online

  9. Pingback: Entry Level Mechanical Engineering Jobs

  10. Pingback: hausmittel gegen pickel

  11. Pingback: http://adsenseapihelp.blogspot.com

  12. Pingback: tramadol and ibuprofen

Thank for your comments

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s